MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 1
Chương 1. Tổng quan về hồ Tây 4
1.1. Vị trí địa lý 4
1.2. Điều kiện tự nhiên 5
1.2.1. Diện tích tự nhiên 5
1.2.2. Điều kiện khí hậu thuỷ văn và đặc điểm địa chất, địa chất thuỷ văn 5
1.2.3. Đặc điểm hệ sinh thái 7
1.3 . Tình hình dân cư kinh tế - xã hội khu vực 7
1.3.1. Dân số khu vực 7
1.3.2. Cơ sở hạ tầng 10
1.3.3. Điều kiện kinh tế và xu hướng phát triển khu vực hồ Tây 12
1.4. Nhu cầu sử dụng nước trong tương lai 14
Chương 2. Hiện trạng chất lượng nước hồ Tây 16
2.1. Hiện trạng môi trường khu vực hồ Tây 17
2.2. Hiện trạng chất lượng nước hồ Tây 17
2.3. Một số tiêu chuẩn về chất lượng nước 24
2.4. Các tác động đối đối với môi trường xung quanh hồ Tây 33
2.5. Các nghiên cứu liên quan về hồ Tây, và thực trạng môi trường hồ Tây hiện nay . 34
Chương 3. Sử dụng mô hình EFDC đánh giá chất lượng nước 39
3.1. Phương pháp nghiên cứu 39
3.2. Tổng quan về phần mềm EFDC 39
3.2.1. Cấu trúc mô hình EFDC 40
3.2.2. Mô hình thuỷ động lực học và bài toán lan truyền nhiệt, mặn 41
3.2.3. Một số đặc điểm, tính năng của phần mềm EFDC 43
3.3. Xây dựng mô hình chất lượng nước Hồ Tây-Hà Nội 45
3.3.1. Số liệu địa hình 45
3.3.2. Số liệu khí tượng 50
3.3.3. Điều kiện ban đầu và điều kiện biên 51
nhằm bảo vệ quản lý nâng cao giá trị tự nhiên của hồ Tây. Nhiều biện pháp đã được
đặt ra như quản lý sử dụng hợp lý tài nguyên hồ, thu gom xử lý chất thải, nước thải,
kè bờ hồ Những biện pháp này đã có những tác dụng tích cực đạt được một số
hiệu quả nhất định trong việc ngăn ngừa ô nhiễm và suy thoái hồ. Đối tượng nghiên
cứu chính của luận văn cũng dựa trên các cơ sở tài liệu đã thu thập quan trắc về Hồ
Tây và lưu vực ven hồ.
2
Dựa trên phương pháp thu thập, tổng hợp và xử lý các số liệu quan trắc chất
lượng nước hồ Tây. Các tài liệu nghiên cứu, các dự án, các phân tích đánh giá, và
qua tham khảo, quan sát thực địa, quan trắc, đo đạc trên phạm vi khu vực nghiên
cứu. Cùng với việc tham khảo ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm trong việc
sử dụng mô hình lan truyền chất ô nhiễm trong môi trường, để giải quyết bài toán
dự báo chất lượng nước hồ Tây thông qua chạy mô hình.
Ý nghĩa của đề tài tổng hợp các số liệu đã có về hồ Tây, dự báo với diện tích
tự nhiên của hồ, điều kiện khí hậu thuỷ văn, lượng nước vào và ra hồ, lượng nước
thải xả vào hồ như hiện nay thì diễn biến của hồ sẽ biến đổi theo xu thế nào. Giúp
cho các nhà quản lý, và người dân hiểu hơn về hồ Tây, các kịch bản có thể diễn ra,
từ đó có những quan tâm sâu sắc hơn về hồ Tây. Mong muốn luận văn thông qua
việc sử dụng mô hình đánh giá dự báo chất lượng nước hồ Tây bước đầu góp phần
vào việc phát triển hồ Tây một cách bền vững ngày càng đẹp và sạch hơn. Từ đó
nghiên cứu quản lý đánh giá dự báo sự biến đổi hệ thống hồ trên toàn thành phố Hà
Nội để có một thủ đô Hà Nội văn minh hiện đại sạch đẹp.
Bố cục của luận văn:
Mở đầu
Chương 1. Tổng quan về hồ Tây
Chương 2. Hiện trạng chất lượng nước hồ Tây
Chương 3. Sử dụng mô hình EFDC đánh giá chất lượng nước
Chương 4. Kết quả, nhận xét và kết luận
thoái hoá (gần đây). Vùng lưu vực hồ Tây là địa phân của quận Tây Hồ có tổng diện
tích 1800ha, với 8 phường: Yên Phụ, Thụy Khuê, Bưởi, Xuân La, Phú Thượng, Tứ
Liên, Nhật Tân, Quảng An.
Hình dạng hồ Tây: Hồ có dạng hình càng cua, một đầu chĩa ra cống Nhật Tân
là cửa vào cũ của sông Nhị, một đầu chĩa ra phía Nghi Tàm –Yên Phụ là cửa ra cũ
của sông Nhị.
Tiếp giáp với mặt nước hồ có hơn 600 hộ dân và nhiều cơ quan, cơ sở du lịch,
dịch vụ khai thác mặt nước hồ.
Xung quanh hồ có 12 cống chính và hệ thống thoát nước thải vào hồ từ các hộ
dân xung quanh, các cống chủ yếu là cống Tầu Bay, cống Cây Si (thông với hồ
Trúc Bạch), cống Nhật Tân
Ngoài ra còn có các cống thoát nước của lưu vực hồ, chủ yếu là cống Xuân La.
Từ cống Đõ sang bán đảo Quảng An (phủ Tây Hồ) trở lên phía Bắc gọi là hồ
trên; phần còn lại gọi là hồ dưới
Tiếp giáp với mặt nước hồ có hơn 600 hộ dân và nhiều cơ quan, cơ sở du lịch,
dịch vụ khai thác mặt nước hồ.
5
1.2. Điều kiện tự nhiên
1.2.1. Diện tích tự nhiên
Có nhiều số liệu về diện tích của vùng hồ, tuy nhiên trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội, hồ đã bị lấn chiếm với các mục đích khác nhau làm cho diện tích hồ
bị thay đổi nhiều theo thời gian, và bị giảm đi nhanh chóng.
Theo số liệu dự án đo năm 1997 của văn phòng kiến trúc sư trưởng thành phố
thì diện tích hồ là 5 216 267m
2
, chu vi là 18 967m, chỗ rộng nhất là 3 274
m, chỗ
hẹp nhất là 2 618m. Dung tích nước trong hồ khoảng trên 9triệu m
0
C.
Trong luận văn sử dụng dấu chấm để chỉ phần thập phân.
6
Độ ẩm không khí trung bình tháng dao động từ 80-89% và biến động theo
mùa.
Lượng mưa biến động mạnh theo không gian và thời gian. Do ảnh hưởng của
hồ nên chế độ mưa ở khu vực Hồ Tây khác với các khu vực khác, thường hay có
mưa với cường độ lớn hơn:
Mùa khô (tháng 10) lượng mưa trung bình đạt 0.7mm/trận.
Mùa mưa (tháng 8) lượng mưa trung bình đạt 15.6mm/trận.
Chế độ bốc hơi chủ yếu phụ thuộc vào gió, nhiệt độ và bức xạ. Lượng bốc hơi ở
giữa hồ bình quân dao động từ 3.7-5.0mm/ngày.
Tốc độ gió và hướng gió khu vực này thay đổi phụ thuộc vào vị trí quan trắc.
Hướng gió thịnh hành ở giữa hồ trong mùa đông là Bắc và Đông Bắc, và mùa hè là
Đông và Đông Nam. Tốc độ gió ở giữa hồ dao động từ 1.7-7m/s và đạt giá trị cực
đại là 7.3-12m/s (mạnh hơn các khu vực lân cận từ 2.1-4.8m/s)
Hồ có dung tích 9triệu m
3
nước. Độ sâu hồ theo số liệu cũ chỗ sâu nhất là 4m;
theo số liệu điều tra tháng 9/1997 của công ty đầu tư khai thác Hồ Tây thì:
Cách bờ từ 1-2m nông nhất là 0.6-0.7m; sâu nhất là 1.5-1.7m
Cách bờ từ 15-20m nông nhất là 1.2-1.3m sâu nhất là 2.0-2.4m
Cách bờ 100m từ 2.4-2.8m
* Đặc điểm địa chất địa chất thủy văn
Lớp bùn đáy Hồ Tây có độ dày từ 20-80cm tuỳ theo vị trí lấy mẫu. Vào mùa
Động vật đáy; vào mùa mưa có 11 loài (bao gồm 6 loài ốc, 2 loài trai, 1 loài ấu
trùng, 2 loài giun ít tơ). Vào mùa khô số loài động vật đáy có cao hơn (16loài), mật
độ trung bình đạt 482con/m
2
giảm 44 con/m
2
so với mùa khô.
1.3 . Tình hình dân cƣ kinh tế - xã hội khu vực
1.3.1. Dân số khu vực
Những năm trước đây khu vực hồ Tây tập trung dân cư thưa thớt chủ yếu là
dân cư bản địa và sống bằng các làng nghề truyền thống. So với mật độ dân số
thành phố Hà Nội thì mật độ dân số khu vực Hồ Tây không cao. Nhưng từ năm
1998 đến nay sự cùng với sự phát triển kinh tế khu vực, và do đặc thù Hồ Tây là
vùng có môi trường và cảnh quan môi trường rất tốt, thuận lợi cho việc sinh sống
8
phát triển các hoạt động kinh tế du lịch dẫn đến sự bùng nổ về dân số do dân cư di
chuyển từ các vùng khác tới và do sự chuyển đổi đất canh tác đất nông nghiệp thành
các khu vực dân cư khu vực an dưỡng nghỉ ngơi. Dân số phân bố cũng không đều,
tập trung đông dân ở phía Nam và Đông Nam của hồ Tây, gồm các phường như
Quán Thánh, Trúc Bạch, Bưởi, Yên Phụ còn lại phía bắc tập trung dân cư với mật
độ thưa thớt hơn. Sự phân bố dân số 8 phường trong khu vực Hồ Tây được thể hiện
qua bảng phân bố dân cư theo thống kê của UBND Quận Tây Hồ năm 2003 như
sau.
9
Bảng 1.1 phân bố dân cƣ
TT
18 274
5 314
1.5
12 183
4
Phường Trúc
Bạch
12 625
1 340
0.65
19 423
5
Phường Quán
Thánh
12 693
1 410
0.89
14 262
6
Phường Thụy
Khuê
13 636
3 254
2.3
5 928
7
Phường Bưởi
17 000
3 713
1.4
nhiều hạng mục đã được thi công nhưng còn đang dang dở. Hệ thống đường xá
chưa được hoàn thiện đồng bộ một số tuyến đường như Lạc Long Quân đã xuống
cấp hiện đang được thi công gây bụi, tiếng ồn, ách tắc giao thông và gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng. Về hệ thống điện nước nói chung của khu vực đã được
cung cấp nhưng chưa đồng bộ và chưa đáp ứng đủ nhu cầu người dân.
Khu Đông Nam (phường Trúc Bạch và một phần phường Quán Thánh quận
Ba Đình).
Hệ thống điện nước ở khu vực này khá hoàn thiện nhưng qua tham khảo ý
kiến người dân thì 60% cho rằng hiện nay nước chưa đủ cho nhu cầu sinh hoạt của
dân vào mùa hè.
Hệ thống cống thoát nước trong khu vực được xây dựng từ thời Pháp, thông
qua hệ thống cống chính sau đó chảy vào hồ Trúc Bạch qua cống Nguyễn Trường
Tộ và cống Phạm Hồng Thái. Tuy nhiên do xây dựng từ lâu lại ít được sửa chữa
nâng cấp cộng thêm tình trạng cơi nới và xây dựng thêm, nên hệ thống thoát nước
không đáp ứng được với nhu cầu thoát nước của khu vực, gây tình trạng ngập úng
cục bộ vào một số thời điểm nhất định. Nước thải sinh hoạt của các hộ ở sát hồ đều
thải trực tiếp vào hồ
Khu vực Tây Nam (phường Thuỵ Khuê, Bưởi)
Hệ thống điện, cấp nước và thoát nước đã có nhưng chưa đồng bộ.
11
Khu vực Thụy Khuê: Hệ thống cấp thoát nước ở đây chưa đáp ứng đầy đủ nhu
cầu của nhân dân, các cống thoát nước nhỏ và khả năng thoát nước kém. Các hộ
sống ven hồ thải nước trực tiếp xuống hồ. Cống Tàu Bay và mương Đõ là hai hệ
thống cống thoát nước lớn nhất trong khu vực
Khu vực phường Bưởi: Đang trong quá trình đô thị hoá, hệ thống thoát nước
chưa đồng bộ, không thoát nước thường xuyên nên hay ngập úng cục bộ vào những
ngày mưa ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân. Cống Trích Sài là cống lớn nhất
trong khu vực, các hộ sống ven hồ đều thải trực tiếp xuống hồ.
Khu vực phía Tây Bắc của Hồ Tây (Phường Xuân La, Nhật Tân)
- Về nhu cầu sử dụng đất:
+ Diện tích đất sàn cần đạt được 200 000 ha.
+ Diện tích đất khách sạn: 30 ha
+ Diện tích đất xây dựng văn phòng, trụ sở giao dịch, trung tâm
thương mại và dịch vụ tập trung: 20 – 25ha.
- Về nhà ở và các công trình phát triển
Nhà ở mới sẽ bị giới hạn, chỉ cho phép xây dựng ở một số khu đất trống dọc
theo bờ hồ phía Nam tại các ô dành xây căn hộ và phải lùi vào so với hồ. Các làng
hiện nay phải được bảo tồn, cho phép nâng cấp các thiết bị và nhà ở hiện thời nhưng
theo phong cách xây dựng và kết cấu truyền thống. Không cho phép khai phá và san
lấp hồ để xây dựng công trình mới.
Khu vực Hồ Tây là nơi tập trung của nhiều ngành kinh tế quốc doanh và tư
nhân. Với tốc độ phát triển như hiện nay, trong tương lai Hồ Tây sẽ là một khu vực
có mức đóng góp GDP cao. Tuy nhiên, bên cạnh việc đem lại lợi ích về mặt kinh tế
còn phải kể đến những tác động tiêu cực mà ngành kinh tế này đã gây ra cho môi
trường. Căn cứ vào mức độ và quy mô của chất thải, khả năng xử lý chất thải của
các ngành kinh tế này đã gây ra cho môi trường. Căn cứ vào mức độ và quy mô của
chất thải, khả năng xử lý chất thải của các ngành kinh tế đang hoạt động trên địa
bàn khu vực Hồ Tây, có thể được phân chia thành các nhóm ngành kinh tế sau:
13
+ Các ngành kinh tế gây ô nhiễm nặng như sản xuất giấy, dệt nhuộm.
+ Sản xuất nhựa và than.
+ Sản xuất đồ uống (rượu, bia, nước ngọt)
+ Các công trình xây dựng
+ Các nhà hàng khách sạn.
+ Sản xuất nông nghiệp (trồng hoa, cây cảnh)
Cơ cấu kinh tế hiện nay của khu vực Hồ Tây bao gồm sản xuất nông nghiệp,
dịch vụ - du lịch thương mại, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
Diện tích đất nông nghiệp là 565 ha thuộc 5 phường: Xuân La, Quảng An,
Ngoài ra nhu cầu về nước phục vụ các hoạt động khác trong tương lai theo
quy hoạch của Thành phố như vui chơi, giải trí nhu cầu sử dụng nước sẽ tăng lên
nhanh chóng vì vậy rất cần có cơ sở hạ tầng đặc biệt là hệ thống nước sạch cần hoàn
thiện hơn.
Có thể nói trong giai đoạn tới nhu cầu được sử dụng nước sạch của người dân
xung quanh hồ rất lớn, để phục vụ cho các nhu cầu của người dân và một số khu
vực nhà hàng khách sạn với nhu cầu nước rất lớn. Vì vậy cần phải gấp rút hoàn
thiện hệ thống cấp nước sạch cho khu vực, hạn chế việc khai thác nước ngầm hoặc
nước hồ phục vụ các mục đích khác mà không có sự quản lý.
Mạng lưới thoát nước thải chưa hoàn thiện. Qua kiểm tra đã xác định và thấy
hầu hết các khách sạn, nhà hàng và một số lượng lớn các nhà dân xung quanh hồ
thải nước thải trực tiếp xuống hồ không qua xử lý, cộng với tốc độ tăng dân số
nhanh làm lượng nước thải xuống ngày càng tăng lên. Đây chính là nguồn gây ô
nhiễm lớn ảnh hưởng tới chất lượng nước hồ.
Hoạt động kinh tế: sẽ không có cơ sở công nghiệp nào trong khu vực nhạy
cảm về môi trường này. Các nghề thủ công tại các làng truyền thống sẽ được duy
trì. Nhiều nghề mới được hình thành trong ngành du lịch và dịch vụ với các khu cửa
15
hàng quy mô nhỏ nhằm hỗ trợ cho người dân trong khu vực và một số công viên vui
chơi giải trí.
Theo dự báo nhu cầu nước sạch của khu vực hồ Tây sẽ tăng lên 40% vào năm
2020. Nguồn nước cấp cho khu vực hồ Tây không phải thiếu nhưng cần phải có quy
hoạch tránh tình trạng khai thác nước ngầm quanh hồ và xả nước thải xuống hồ làm
ảnh hưởng tới hồ Tây và gây suy thoái môi trường.
16
cao, nhưng so với các đô thị khác thì lại thuộc hàng cao, đặc biệt trong những năm
gần đây, lượng người tập trung ở khu vực này ngày càng tăng dẫn đến tốc độ xây
dựng gia tăng và không tránh khỏi tình trạng cơi nới ở nhiều khu vực quanh hồ. Cấu
trúc nhà ở rất đa dạng, cụm từ “Hà Nội chóp” đã có thời gian được nhiều người biết
đến, sự đa dạng lai tạp về kiến trúc đã phá vỡ cảnh quan tự nhiên của Hồ Tây, tình
hình ô nhiễm môi trường do xây dựng có chiều hướng gia tăng. Đây là một vấn đề
môi trường mỹ quan cần được quan tâm và giải quyết nhằm giữ gìn nét đẹp của Hồ
Tây.
17
Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải.
Qua điều tra khảo sát cho thấy:
Hầu như toàn bộ nước thải qua các hệ thống cống đổ xuống hồ chưa được xử
lý. Đây là nguồn ô nhiễm chính đối với môi trường nước hồ.
Hệ thống thoát nước của các khu vực quanh hồ đều rất yếu kém, các cống có
đường kính nhỏ, không chuyền tải kịp thời đặc biệt là vào mùa mưa lũ dẫn đến tình
trạng ngập úng và ô nhiễm môi trường ở nhiều điểm quanh hồ.
Hoạt động đổ thải và thu gom chất thải rắn
Hiện nay, chất thải rắn đổ thải xuống Hồ Tây tập trung nhiều ở khu vực đông
dân, nơi có nhiều quán ăn, nhà hàng, khách sạn (khu vực trường Chu Văn An, dọc
đường Thụy Khuê đến vườn hoa Lý Tự Trọng). Ở một số nơi chưa có kè đá, hay lối
đi không thuận tiện thì việc tổ chức các xe đến thu gom chất thải sẽ hết sức khó
khăn. Tỉ lệ thu gom chất thải chỉ đạt 50%. Số chất thải còn lại vận chuyển xuống Hồ
Tây bằng các con đường khác nhau. Số lượng chất thải từ khu vực dân cư và các xí
nghiệp, cơ sở kinh doanh đổ xuống Hồ Tây khoảng 160m
3
/ngày, bên cạnh đó có
một lượng phân thải khoảng 18 500kg/ngày (trong đó có một phần được rửa trôi
xuống Hồ), chất thải 584m
3
(mg/l)
pH
Độ đục
(mg/l)
Độ
muối
(%)
Độ dẫn
điện
(s/m)
Phía Bắc hồ trên
1
T1
21.6
8.8
8.89
49.8
0.01
0.03
2
T2
21.2
8.4
8.80
53.3
0.01
0.03
3
T3
21.4
T7
21.1
8.4
8.86
53.3
0.01
0.03
8
T8
21.1
8.3
8.82
55.9
0.01
0.03
Phía Tây Hồ Tây
9
T9
21.3
9.2
8.92
55.9
0.01
0.03
10
T10
21.2
9.3
8.93
53.7
7.3
8.73
57.6
0.01
0.03
15
T13
22.9
11.4
8.83
44.6
0.01
0.03
19
16
T21
21.6
10.0
8.92
48.9
0.01
0.03
Phía Nam Hồ Tây
17
T32
21.7
9.1
8.87
47.2
8.95
54.1
0.01
0.03
22
T37
21.8
11.0
8.89
54.1
0.01
0.03
23
T38
22.1
11.0
8.68
62.8
0.01
0.03
Phía Bắc hồ dưới
24
T14
21.8
10.2
8.79
45.4
0.01
0.03
25
0.01
0.03
29
T28
22.1
11.5
8.96
55.0
0.01
0.03
30
T40
22.0
9.2
8.55
55.0
0.01
0.03
31
T41
21.8
10.2
8.74
56.7
0.01
0.03
(Nguồn: Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật – TT KHTN&CNQG)
Nhận xét:
Nhiệt độ nước hồ: Nhiệt độ có vai trò quan trọng đối với các quá trình sinh
về mùa đông lại thường cao hơn, nguyên nhân là do khả năng truyền nhiệt dưới
nước kém. Đây cũng chính là một trong những yếu tố giữ cho môi trường nước ở
trạng thái tương đối ổn định, đáp ứng điều kiện sống cho các loài thuỷ sinh vật sống
trong hồ.
Độ đục của nước Hồ Tây nhỏ do hàm lượng rắn lơ lửng thấp, ngoài ra độ đục
của nước còn do quá trình phân huỷ các mảnh vụn hữu cơ và do các loại tảo trong
nước. Kết quả phân tích đặc điểm thuỷ lý nước Hồ Tây cho thấy độ đục của nước
dao động từ khoảng 48.4-55.9mg/l. Các khu vực còn lại dao động trong khoảng từ
49.8-62.8mg/l. Tại khu vực phía Tây và phía Nam Hồ Tây, độ đục của nước cao
hơn so với các khu vực khác. Độ đục cao nhất của Hồ Tây là mẫu T38 (62.8mg/l) ở
phía Nam. Nguyên nhân do ảnh hưởng của nước thải ở khu vực phía Nam Hồ Tây
và một lượng nước thải từ hồ Trúc Bạch chảy sang.
Giá trị pH: Giá trị pH có ảnh hưởng đáng kể tới đời sống của thuỷ sinh vật, pH
thay đổi trong nước phụ thuộc vào các yếu tố như nguồn thải, thành phần, sinh khối
các loại tảo và bùn kết quả khảo sát cho thấy pH có tính kiềm nhẹ 8.5-8.9.
21
Đặc tính thuỷ hoá. Qua phân tích của Trung tâm tư vấn công nghệ Môi trường
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, đã phân tích một số chỉ tiêu hoá
học quan trọng liên quan đến chất lượng nước cho kết quả như sau.
Kết quả phân tích đặc tính thuỷ hoá nước Hồ Tây được thể hiện trong bảng 2.2
Bảng 2.2: Đặc tính thuỷ hoá Hồ Tây
TT
Chỉ tiêu
Ký hiệu mẫu
TCVN
5945-1995
Loại B
35
37
40
44
< 35
4
SS (mg//l)
39
52.6
20.4
43.0
30.9
74.9
80
5
As (mg/l)
< 0.01
< 0.01
< 0.01
< 0.01
< 0.01
< 0.01
0.1
6
Pb (mg/l)
0.012
0.004
0.004
0.004
0.008
10
Mn (mg/l)
0.3
0.2
0.3
0.5
0.2
0.2
0.8
11
Fe (mg/l)
0.935
0.976
0.366
0.704
1.125
0.359
1
12
Hg (mg/l)
0.002
0.001
0.002
0.002
0.002
0.001
0.002
13
Ni (mg/l)
0.13
16
NO
3
-
(N)
(mg/l)
0.2
0.4
0.1
0.3
0.4
0.1
15
17
NO
2
-
(mg/l)
0.057
0.06
0.151
0.013
0.87
0.016
0.05
18
CN
-
(mg/l)
0.02
(MNP/100ml)
4 450
1 450
740
3 975
1 200
1 333
10 000
22
Fecal
Coliform
(MNP/100ml)
2 900
785
283
2 650
600
614 *Ghi chú: TCVN 5942 – 1995 – Cột B: Tiêu chuẩn chất lượng nước mặt áp
dụng đối với nước mặt dùng cho các mục đích khác.
(Nguồn: Trung tâm tư vấn công nghệ Môi trường – Liên hiệp
các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam – 11/1999)
Nhận xét:
Hàm lượng NO
3
-
của nước Hồ Tây dao động trong khoảng từ 0.08-3.7mg/l,
thấy các cống thải chứa nhiều chất hữu cơ khi xả vào hồ đã làm ảnh hưởng đến chất
lượng nước hồ đặc biệt qua thông số BOD
5
Nhu cầu oxy hoá học (COD) dao động từ 41.1-85.4mg/l cao nhất tại mẫu T41-
cống Cây Si ( 84.6mg/l)
Hàm lượng SO
4
2-
dao động trong khoảng 0.02-0.04mg/l và hàm lượng H
2
S
dao động từ 0.021-0.042mg/l, trung bình đạt 0.028mg/l. Sự xuất hiện của ion sunfit
và H
2
S trong nước hồ Tây chứng tỏ đã hình thành quá trình phân giải yếm khí trong
nước. Tuy nhiên, theo các chuyên gia thì hiện tượng này chỉ xảy ra ở các tầng đáy
hồ, nhất là lớp bùn đáy.
Hàm lượng một số kim loại nặng trong nước hồ Tây tương đối thấp và hầu hết
đều đạt tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn nước mặt loại B. Hàm lượng Cd trong
nước hồ dao động trong khoảng từ 0.0002-0.0003mg/l gần như ở dạng vết trong
nước hồ, so với tiêu chuẩn cho phép thì hàm lượng Cd thấp hơn nhiều lần (gần 100
lần).
Hàm lượng Hg thấp, dao động từ 0.0002-0.0004mg/l. Tương tự đối với Pb và
Mn đều thấp hơn giới hạn tối đa cho phép hàng chục lần
Một điểm đáng chú ý là không thấy lượng dư thuốc bảo vệ thực vật trong nước
hồ. Đây là việc thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản trong hồ. Nói chung các kết
quả phân tích cho thấy Hồ Tây chưa bị ô nhiễm bởi kim loại nặng và thuốc bảo vệ
thực vật.
Nước thải sinh hoạt và đô thị