MỞ ĐẦU
Việt Nam là quốc gia có bờ biển trải dài hơn 3260 km cùng với các hệ thống
sông ngòi trong nội địa rộng lớn, đã tạo nên nguồn lợi thủy sản vô cùng đa dạng và
phong phú. Đây chính là các yếu tố tạo nên tầm quan trọng của việc phát triển
ngành thuỷ sản. Nhờ công cuộc đổi mới và các cải cách về thị trường, ngành thuỷ
sản trong những năm gần đây đều đạt tốc độ tăng trưởng hằng năm từ 5 – 12% về
sản lượng, chính vì thế, đã góp phần cải thiện tình hình kinh tế - xã hội, xoá đói
giảm nghèo, thúc đẩy sinh kế bền vững và tạo việc làm cho cư dân các khu vực
nông thôn. Thuỷ sản thực sự là một phần không thể thiếu trong tiến trình phát triển
của Việt Nam. Nếu so sánh với canh tác lúa thông thường, các sản phẩm từ hoạt
động sản xuất thuỷ hải sản đem lại nguồn thu nhập cao hơn cho các hộ gia đình
nông thôn đồng thời cũng làm phong phú chế độ dinh dưỡng của các gia đình [7].
Theo ước tính, có rất nhiều người đã và đang sống nhờ phần lớn vào các hoạt
động đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản ở hệ thống đầm phá. Tuy nhiên, chính
những hoạt động này lại đang tạo ra một sức ép đáng kể lên hệ thống sinh thái môi
trường đầm phá và các nguồn tài nguyên thiên nhiên gắn liền với nó.
Đầm Ô Loan thuộc huyện Tuy An tỉnh Phú Yên, một tỉnh duyên hải Nam
Trung Bộ với diện tích tự nhiên khoảng 1570 ha, nổi tiếng với nguồn lợi thủy sản
như tôm, cá, sò huyết, cua ghẹ, hàu, Từ những năm 1990 khi phong trào nuôi tôm
phát triển mạnh đã có trên 360 ha ao đìa nuôi tôm, đã tạo ra lượng sản phẩm thủy
sản lớn cho xã hội, tạo thêm việc làm góp phần tăng thêm thu nhập cho một số bộ
phận ngư dân. Tuy nhiên, các ao đìa nuôi tôm hầu hết được xây dựng tự phát nên đã
gây tác động ảnh hưởng xấu đến cảnh quan môi trường và hệ sinh thái đầm [13].
Theo Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Tuy An, những
năm gần đây, đã có hai lần xảy ra ô nhiễm nghiêm trọng làm cho môi trường đầm bị
xuống cấp, cá chết hàng loạt. Lần thứ nhất vào tháng 5 năm 1998, lần thứ 2 vào
tháng 5 năm 2010, sau mỗi lần như vậy nguồn lợi thủy sản ở đây bị suy giảm đáng
kể, người làm nghề khai thác thì không có thu nhập, người nuôi trồng thủy sản thì
gặp nhiều bất lợi do môi trường nuôi không đảm bảo, dịch bệnh đối với thủy sản
diễn biến phức tạp. Nhiều người cho biết trước đây thu nhập của họ do nghề đánh
bắt, nuôi trồng thủy sản trên đầm mang lại rất cao nhưng hiện nay thu nhập đã bị
Diện tích lãnh thổ có quan hệ mật thiết với sinh thái và môi trường đầm phá.
Đó là những mối quan hệ về giao thông, thủy lợi, nghề cá, nông nghiệp, lâm nghiệp,
… Sự biến đổi về khí hậu và thiên tai: nguồn nước ngầm, ngập lụt, nhiễm mặn, vi
khí hậu, nơi sinh sống và định cư của số đông dân cư ven biển, là nơi cần đầu tư lớn
về xây dựng cơ sở hạ tầng [6].
Đầm phá có chức năng cực kỳ quan trọng về môi trường, liên quan đến cuộc
sống dân sinh, kinh tế của cả một cộng đồng dân cư rộng lớn. Đầm phá là một hồ
điều hòa khổng lồ nằm giữa vùng đồng bằng lãnh thổ có khí hậu khắc nghiệt, có tác
dụng điều tiết vi khí hậu khu vực theo hướng thuận lợi cho cuộc sống. Nhờ có nó,
đã hạn chế rất nhiều khả năng gây ngập lụt khu vực và những tác hại của nước
dâng. Khi có bão, thường có mưa lớn dồn nước ở thượng nguồn về, đồng thời nước
2
dâng từ thủy triều biển cũng tràn vào. Đầm phá là vùng chứa cả nước lũ thượng
nguồn, cả nước dâng từ biển, làm giảm rất nhiều khả năng ngập lụt cho đồng bằng.
Vùng đầm phá có tác dụng lớn đến duy trì lượng nước ngầm vùng đồng bằng
ven rìa, có tác dụng tốt với hệ sinh thái đồng ruộng và duy trì nguồn nước ngầm
sinh hoạt cho nhân dân.
Đối với vùng biển ven bờ, vùng đầm phá có chức năng làm sạch môi trường.
Bùn cát hoặc các chất gây ô nhiễm từ lục địa phần lớn rơi lắng và được lưu giữ
trong đầm phá trước khi đưa ra biển. Đây là nơi tích tụ chôn vùi các vật chất thải, dễ
bị nhạy cảm, tổn hại do ô nhiễm từ lục địa, nhưng chính nhờ đó mà bảo vệ cho môi
trường biển phía ngoài được trong sạch [6; 7].
b. Thủy văn
Vùng đầm phá chịu tác động chủ yếu chế độ thủy văn từ biển, nhưng hàng
năm phải chịu tác động lớn từ nguồn nước ngọt nội địa đổ ra đặc biệt là mùa mưa
lụt. Mức độ ảnh hưởng lớn được thể hiện trong việc bồi lắng tích tụ phù sa, sự xâm
thực do dòng chảy, triều cường. Đầm phá còn có những tác dụng đáng kể trong việc
phân tán bớt năng lượng của sóng, gió, thủy triều [7].
1.1.2.2. Vai trò của đầm phá với con người
a. Phát triển kinh tế xã hội
cộng đồng dân cư xung quanh, hạn chế rất đáng kể những thiệt hại về người và tài
sản do thiên tai gây ra.
Đầm phá là màng đệm giữa biển và đồng bằng, ngăn mặn xâm nhập sâu vào
lục địa. Nhờ có nó, nước biển và nước ngọt được pha trộn, trao đổi thành nước nhạt
hơn trước khi theo áp lực triều lấn theo đáy các lòng sông ngược về phía lục địa.
Cũng do là một vực nước kín, có cửa thông ra biển, mỗi khi có bão hay
giông tố làm biển động, đầm phá là nơi neo đậu, tránh trú an toàn cho hàng trăm
thậm chí hàng ngàn tàu thuyền lớn nhỏ, nhờ đó tránh được nhiều thiệt hại về tài sản
cũng như tính mạng cho con người [10; 11].
e. Đảm bảo an ninh quốc phòng
Ngoài các vai trò trên thì vùng đầm phá còn có vai trò về an ninh quốc
phòng. Đây là một vị trí phòng thủ trọng yếu ven biển, là nơi diễn ra nhiều cuộc đổ
quân, giao tranh trong lịch sử, là những căn cứ thủy quân trong các thời kỳ kháng
chiến cũng như phòng thủ trong thời bình [10].
1.2. Tình hình khai thác và sử dụng đầm phá trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình khai thác và sử dụng đầm phá trên thế giới
Hệ thống đầm phá phân bố chủ yếu ở các cửa sông, ven biển nó đóng vai trị
rất quan trọng trong việc tạo ra hệ sinh thái, bảo vệ cộng đồng và cung cấp một
lượng thủy sản dồi dào, giải quyết và tạo việc làm cho phần lớn lao động tại đây.
Tại khu nghỉ mát Palmetto Dunes Oceanfront, vào những năm 1970, ba dặm
dài bãi biển ở đây gần như bị biến mất khi thủy triều lên. Nhưng ngày nay, tại đây
đã có nhiều dịch vụ phục vụ cho du lịch sinh thái, nhờ vào sự nghiên cứu của các
nhà khoa học trên thế giới chuyển đổi bằng cách nạo vét lượng lớn cát sau đó vận
4
chuyển cát đổ ra các bãi biển phía ngoài, để tạo ra hệ thống đầm phá đầm nước
mặn. Mặc dù chuyển một khu nghỉ mát nhưng vẫn bảo tồn được hệ sinh thái, luôn
được kiểm soát thủy triều để giữ cho nước sạch và vẻ hoang sơ vốn có của nó [14].
Tại Cameroon, các đầm phá ven biển Complex Douala là vùng đất thấp phía
nam của cộng hòa Cameroon. Ở đây còn là nơi có một hệ đa dạng sinh học cao với
nguồn lợi thuỷ sản nước lợ và nước mặn. Thời gian gần đây do chính quyền đã
5
sản một cách ồ ạt, thiếu quy hoạch và sự buông lỏng quản lý của các cấp chính
quyền địa phương,… Cụ thể tình hình đầm phá ở khu vực này như sau:
1.2.2.1. Tỉnh Thừa Thiên Huế
Tỉnh Thừa Thiên Huế có hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai với diện
tích 22000 ha. Đây là vùng nước lợ tiêu biểu cho cả quốc gia và khu vực Đông Nam
Á, có giá trị cao về đa dạng sinh học với nhiều loại sinh vật đặc hữu, quý hiếm và là
nơi thuận lợi cho việc tổ chức nhiều loại hình du lịch khác nhau. Ngoài ra, tại đây
còn có tần suất đa dạng sinh học rất cao, vì khu vực này là nơi giao thoa giữa 2
vùng khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới giữa bán đảo Sơn Trà và điểm mút nhô ra của
đèo Hải Vân, đa dạng sinh học đứng thứ 3 trên toàn quốc. Hệ sinh vật biển ở khu
vực này có 1013 loài thuộc 410 giống, bao gồm 245 loài thực vật phù du, 74 loài
động vật phù du, 103 loài rong biển, 4 loài cỏ biển, 12 loài thực vật ngập mặn, 144
loài san hô, 161 loài động vật đáy và 270 loài cá biển trong đó có 132 loài cỏ rạn
san hô. Các rạn san hô ở đây phân bố chủ yếu ở ven đảo Sơn Trà và ven bờ bắc
mũi Hải Vân, bao gồm các loài san hô tạo rạn Ahermatypic, san hô sừng
Gorgonacea và san hô mềm Alcyonacea [8; 11].
Những năm gần đây trước sức ép của con người môi trường của hệ đầm phá
Tam Giang - Cầu Hai bắt đầu bị ô nhiễm nghiêm trọng và mức độ ô nhiễm đang
ngày càng gia tăng, nhất là ô nhiễm do các chất thải, ô nhiễm dầu, bên cạnh đó là sự
thay đổi lớn về diện tích mặt nước, làm suy giảm nghiêm trọng nguồn lợi thủy hải
sản [11].
1.2.2.2. Tỉnh Quảng Ngãi
a. Đầm Nước Mặ
Thuộc địa phận xã Phổ Thạnh (huyện Đức Phổ), có tổng diện tích khoảng
150ha. Đây là khu vực đầm phá kiểu vịnh kín, thông ra biển tại cửa Sa Huỳnh.
Nước đầm luôn có độ mặn khá cao cả về mùa khô và mùa mưa, vì vậy có tên là
đầm Nước Mặn. Với đầm này chỉ có thể nuôi trồng thủy sản nước mặn và làm
muối. Vì thế, từ lâu nhân dân ở đây đã khai thác một phần diện tích của đầm để làm
muối [3]
cá chình, cá mun rất quý hiếm có trong sách đỏ thế
iới.
Có chừng 650 hộ dân của 4 xã ven đầm chuyên sống bằng nghề khai thác
đánh bắt trên đầm. Mỗi năm khai thác được khoảng 1000 đến 1200 tấn tôm, 780
đến 1100 tấn cá các loại, thời gian khai thác quanh năm nhưng nhiều nhất là vào
đầu mùa mưa. Nhưng hiện nay đáng báo động là tình trạng khai thác hủy diệt như:
khai thác khu vực bãi đẻ; khai thác bằng lưới mắt nhỏ (đáy, đăng, mành); khai thác
bằng xung điện,… làm nguồn lợi ở đây suy giảm nghiêm trọng. Đáng chú ý là loài
chình mun có nguy cơ tuyệt chủng. Ngành thủy sản đã đưa ra một con số đáng báo
động là: sản lượng khai thác năm 2006 so năm 2000 đối với cá chình giảm 90%, cá
giảm 50%, tôm giảm
8
%,
Do nghề khai thác thủy sản tự phát, thiếu quy hoạch, không có sự quản lý
chặt chẽ từ chính quyền nên dễ dẫn đến nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi thủy sản. Nhiều
nhà nghiên cứu đã đề ra giải pháp bảo vệ bằng cách thành lập nhóm hạt nhân bảo vệ
nguồn lợi ở cả 4 xã nói trên, mỗi xã một đội, xây dựng mô hình đồng quả lý, . có
quy chế quản lý, hàng năm thả bổ sung giống cá, tôm để góp phần tái tạo phát triển
nguồn lợi,… Đầm Trà Ổ là một trong 45 khu bảo tồn được quy hoạch là hệ thống
các khu bảo tồn vùng nước nội địa đến năm 2020 củNama Việ
[1].
b. Đầm
ị Nại
Diện tích trên 5060 ha. Nơi đây không chỉ có nhiều loài chim trú ngụ: cũ,
diệc,le le,. mà còn có sự phong phú của các loài thủy sản như: tụm, cua, á, hàu,.
Trước năm 1975 có khoảng 1000 ha rừng ngập mặn, thời gian qua do phong trào
nuôi tôm phát triển, rừng ngập mặn bị tàn phá, cho nên hiện nay rừng chỉ còn rải
rác. Rừng ngập mặn không còn, nên các loài chim, thủy sản trú ngụ ở đây cũng
giảm dần. Bên cạnh đó, nhân dân ven đầm nhất là vùng Phước Thuận, Phước Sơn
(Tuy Phước), Nhơn Bình (Quy Nhơn) dựng phương tiện đánh bắt hủy diệt: lưới mắt
Mông mát mẻ, là vùng nuôi tôm hùm thương phẩm lớn nhất của tỉnh Phú Yên.
Ngoài ra, đầm Cù Mông còn có nhiều loại h
sản khác [5]
b. Đầm Ô Loan
Đầm Ô Loan là một đầm nước lợ nằm vía Đông ve
quốc lộ , dưới c
đèo Quán Cau
. Đầm nằm về phía Nam thị tChí Th, huyện
Tuy An
, tỉnh Phú Yên. Đây là một danh lam thắng cấp quốia của
Việt Nam Đầrộng hơn 15.7
km²
với độ sâu trung bình 1,2 đến 1,4 một, mùa mưa có thể sâu tới 3 một. Sông
Cái và một số sông nhỏ cấp nước ngọt cho đầm. Một lạch nhỏ nối đầm với biển,
bao bọc quanh đầm là nơi Đồng Cháy, nơi Cẩm và cồn An Hải. Trong đầm có
nhioại hsảý như
cá
, sò huyết
10
,
ghẹ
, nhưng hiện nay đầm Ô Loan đã bị xâm hại nghiêm trọng bởi việc đắp hồ
koanh v
g để nuôi thủy [ 4; 5].
1.2.3. Tình hình khai thác và sử dụng
ầm phá tại huyện Tuy An
Tuy An là một huyện có đặc điểm địa lí tự nhiên khá đặc biệt. Nơi và biển
nối tiếp nhau và bị chia cắt bởi hệ thống sông suối. Bờ biển Tuy An nói riêng và
Phú Yên nói chung thuộc vùng bãi ngang, vùng cửa sông, chịu ảnh hưởng bồi lấp
rất lớn bởi các dải cát ven bờ. Vì vậy, đã tạo ra hệ thống đầm phá khá phức tạp, nhất
Tuy An, trạm Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Tuy An, việc khai thác nguồn lợi thủy sản
tại đây diễn ra phức tạp, bất hợp lí. Khả năng tái tạo nguồn lợi thủy sản trong đầm
không đáp ứng được nhu cầu khai thác, vì lượng nghề khai thác từ nhiều năm nay
đã phát triển với số lượng lớn khó kiểm soát, ngư dân vẫn sử dụng những phương
tiện khai thác mang tính hủy diệt, phá hoại môi trường như: xung điện (lưới điện,
xiếc điện, bộ kích điện); lưới kéo (lưới rùng, lưới ba màn dựng quây kéo); soi điện,
… Những nghề này khai thác không có chọn lọc và thường làm xáo trộn nền đáy,
gây tổn hại trực tiếp đến môi trường và nguồn lợi thủy sản nhất là những cá thể nhỏ.
Do vậy, nguồn lợi thủy sản tại đây bị suy giảm nhanh chóng về số lượng và chủng
loại. Theo những ngư dân lớn tuổi ở đây cho biết có nhiều loài đặc sản trước đây rất
phong phú nhưng ngày nay rất hiếm gặp hoặc có năm xuất hiện, có năm không như:
sò huyết, ngao dầu, ốc lông, vẹm xanh mực nag,
đối, cá đuối [2 ; 9; 10 ].
1.
Tổng quan về huyện Tuy A
1.3.1. Điều kiện tự nhiên
Tuy An là một huyện ven biển khu vực Nam Trung Bộ, Phía Bắc giáp thị
trấn Sông Cầu, Phía Nam giáp với thành phố Tuy Hòa, phía Đông giáp với biển
Đông, phía Tây giáp
i huyện Đồng Xuân,
v
Sơn Hòa.
Diện tích 448,8 km 2 , dân số năm 2010 là 1215 n
ườ
i, ậ
độ dân số 293 ngư
/km 2 [9] .
1.3.1.1. Địa hình
Tuy An nằm phía Đông dãy núi Trường Sơn, địa hình phức tạp, có nhánh
nh
iệt độ r
g bình thấp nhất 2
5 0 C) [10] .
1.3.1.3. Sông ngòi
Hệ thống sông ngòi Tuy An gồm có một sông chính là sông Kì Lộ dài 75
km, bắt nguồn từ đỉnh Kong-Kboong cao 1209 một ở phía tây tỉnh Bình Định, chảy
qua huyện Đồng Xuân về Tuy An, qua cầu Ngân Sơn rồi đổ ra biển. Đoạn qua Tuy
An có ch
ề
dài 20 km với lưu vực trên 1900
km
2 , lưu lượng trung bình 30 – 40 m 3 /s.
Do độ dốc lớn nên dễ gây lũ lụ
mùa mưa và khô cạn vào
a hè [9] .
1.3.1.4. Biển và bờ biển
Do ảnh hưởng và tác dụng bào mòn của Sông, biển nên bờ biển Tuy An rất
quanh co, khúc khủy, tính theo mép nước đất liền có chiều dài 42,5 km. Bờ biển đẹp
có nhiều danh lam thắng cảnh, là nơi nghỉ mát, du lịch rất tốt n
đầm Ô Loan, Bãi Xép, gành Đá Đĩa,…
Dọc th
bờ biển có hai loại biển điển hình.
- Bãi cửa sông: nằm dọc theo cửa biển là đầm Ô Loan, đầm có chu vi rộng,
nồng độ muối thấp. Đây là vùng có thế mạnh phát triển nuôi tr
g thủy sản nước lợ nhất là tôm, cá,…
- Bãi biển bờ đá: là bãi ngang v
vũng bờ đá, đáy biển có độ dốc cao.
Biển Tuy An thuộc hệ thống ven bờ, có độ sâu gấp, thềm lục địa hẹp, đáy
biển gồ ghề, độ dốc đổ dồn từ bờ ra khơi. Chịu
dựng và Thương mại, Dịch vụ, với giá trị sản xuất là 329,415 triệ đồng, đạt 73,3%
so chỉ tiêu Ngh q
15
t v à tăng 17,5% so với năm 2005 [10 ].
Bảng 1.1.
Chỉ tiêu Giá trị sản xuất
(1994) triệu đồng
Tỷ trọng cơ cấu theo
giá trị(%)
Tốc độ tăng bình
quân hằng năm (%)
Tổng giá trị
sản xuất
1.006.500 100 10,1
Nông Lâm
Thủy Sản
329,415 32,73 3,3
Công nghiệp,
Xây dựng
364,000 36,16 13,8
Thương mại,
Dịch vụ
313,085 31,11 14,5
ấu nền kinh tế huyện Tuy An (năm 20
)
( Nguồn: Phòng Thống kê huyện Tuy An)
Tốc độ tăng tưởng bình quân hàng năm của khối ngành Nông Lâm Thủy Sản
là 3,3% năm. Khối ngành Thương mại, Dịch vụ có tốc độ tăng trưởng bình quân cao
nhất với 14,5%. Điều này chứng tỏ cơ cấu nền kinh tế huyện Tuy An đang có sự
chuyển dịch đúng đắn, tăng dần tỷ trọng khối ngành thương mại dịch vụ, giảm dần
Tây, nhờ tỉnh lộ ĐT641, ĐT643 về các xã miền núi; có hệ thống giao thông thông
suốt từ trung tâm huyện về các xã, đường liên xã; có đường cơ động (đường quốc
phòng) chạy dọc tuyn b
từ phía Bắc huyện đến thành
ố Tuy Hồ [10 ].
1.4. Tổng q
n về đầm Ô Loan
1.4.1. Vị trí địa lí đầm Ô Loan
Đầm Ô Loan thuộc huyện Tuy An là vực nước ven bờ biển, do lưu vực vùng
cửa sông tạo nên. Hình dạng kéo dài song song với bờ biển và ngăn cách với bờ
biển bởi một dải cát, tiếp nhận nước từ các sông Phượng Lụa, sông
với biển qua cửa Tân Quy xã An Hải.
Hình 1.2. Đầm Ô Loan chụp trên vệ tinh
Đ
m
Ô Loan loại đầm kín nằm ở
ị
trí toạ
ộ
13 o 13' - 13 o 19' vĩ độ Bắc, 109 o
14'- 109 o 17' kinh Đông. Cách thị trấn Chí Thạnh huyện Tuy An 6 km về phía
18
Đông Nam, nằm gần đường quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Bắc – Nam; diện tích
1570 ha, trải dài theo hướng Bắc - Nam, nơi rộng nhất 2,5 km, nơi dài nhất 8 km,
chu vi tiếp giáp bởi ăm xã của huyện đó là các xã n Cư,A Ni
Đơn g, An Hải, An Hiệp và An Hồ [ 10; 1 1 ].
1.4.2. Đi
kiện khí hậu, thời tiết, khí tượng, thuỷ văn
Đầm Ô Loan nằm trong đới khí hậu Nam Trung Bộ, có điều kiện thuận lợi
về khí hậu. Nằm sâu trong khu vực nội chí tuyến, có lượng bức xạ mặt trời phong
đường giao thông tới tận các ao hồ [9; 10
.
1.5. Giá trị về môi trư
g của đầm Ô Loan
1.5.1. Môi trường sinh thái
Đầm Ô Loan với đặc thù riêng là một đầm kín, diện tích 1570 ha, là một đầm
có diện tích cỡ trung bình ở khu vực miền Trung, nhưng nổi tiếng nhờ cảnh quan
đẹp, môi trường sinh thái khá thuận lợi. Chính vì vậy, ở đây nguồn lợi hải sản khá
đa dạng và phong phú, trong
ó có nhiều hải sản quý, đặc biệt là Namsò huyết.
Về địa hình đầm có độ dốc từ Bắc và dồn về giữa đầm, từ Tây sang Đông
hướng ra biển. Độ sâuNam trung bình từ 0,8 đến 1 một, nơi cạn nhất phía đầm, nơi
sâu nhất vùng giữa đầm và cửa đầm. Vùng cửa đầm tương đối hẹp và trải dài, đặc
biệt cửa không ổn định do vùng ven biển là vùng bãi ngang. Do vậy, đã ảnh hưởng
lớn đến việc trao đổi nước giữa đầ
và biển, dẫn đến môi trường đầm không ổn định.
Ngoài ra ngày nay rất nhiều tác động do con người gây nên: từ hoạt động
nuôi trồng thủy sản (đào đắp ao hồ mất diện tích tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến
nơi cư trú của các loài thủy sản ở giai đoạn nhỏ; thuốc, hóa chất, chất xả thải chưa
qua xử lí trong quá trình nuôi,…); từ rác thải trong sinh hoạt; từ sự bồi lắng tíh tụ tự
nhiên do l l
;… ản hưởng lớn đến môi tr
ng sinh thái [11 ].
1.5.2 . Điều kiện thổ nhưỡng
ChNamất đáy chủ yếu là bùn cát (ở phía giữa đầm về phía và phía Tây); cát
bùn (ở phía Bắc và Đông Bắc). Thuận lợi cho giáp xác và nhiều loài cá sống đáy
(tụm,cua, ghẹ, cá bống, cá mú, cá đuố,
traivà các lo àih
ễn thể: sị, điệp, hầu) [9 ].
1.5.3 . Độ mặn (S ‰ )
o phù hợp là rất cần thiết.
1.5.6 . Muối dinh dưỡng
Hàm lượng muối phốt phát dao động trong năm từ 0.5 – 5.67 mg P/l. Hàm
lượng nitrat từ 1.89 – 2.27 mg N/l. Hàm lượng muối dinh dưỡng trong đầm thấ
sự hấp
ụ của thực vật phù du trong đầm gây
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠN
21
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng vệ sinh môi trường, hoạt độ
sử dụng nguồn lợi, hình thức quản lý tại đầm Ô Loan.
- Phạm vi nghiên cứu: đầm Ô Loan thuộc 5 xã An Cư, An Hải, A
Ninh Đông, An Hiệp, An Hòa huyện Tuy An, Tỉnh Phú Yên
- Thời
n nghiên cứu: từ 21 thán
2 đến 30 tháng 4 năm 2011
2.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiể
các hoạt động phụ t
ộc vào nguồn lợi của
m Ô Loan.
+ Đánh bắt thủy sản
Nuôi trồng thủy sản
+ Thu nhập của ngư dân q
nh đầm
- Những h
t động sống của ngườ
Thủy sinh vật dinh dưỡng là một khâu rất quan trọng trong chu kì sống của
tôm, cá. Số lượng thức ăn giàu nghèo là một trong nhiều yếu tố quyết định sự phân
bố của giống loài và trữ lượng của chúng. Trong đó thực vật
hù du và động vật đáy có tầm quan trọ
bậc nhất [2].
3.1.2. Thực vật nổi - thực vật phù du
Thực vật nổi là những loài vi tảo có đời sống trôi nổi, là thức ăn giàu dinh
dưỡng của ấu trùng, nhiều loài hải
ản, là mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn tự nhiên.
Thực vật phù du phát triển mạnh, có hơn 100 loài đã được tìm thấy trong
đầm. Trong năm có hai lần thực vật phù du phát triển cao nhất, một vào tháng 6,
tháng 7 và một vào tháng 12. Trong đầm nuôi, do điều kiện sống nên khu hệ tảo có
nhiều nhóm ưu thế t
y nhau phát triển và ít sai khác với
vùng sông [2; 13].
3.1.3. Động vật nổi - động vật phù du
Động vật phù du là một trong những khâu quan trọng trong mắt xích thức ăn
của các loài tôm, cá trong thủy vực. Động vật phù du trong đầm Ô Loan có tới 82
loài, phần lớn có nguồn gốc từ bi
n
Lượng động vật phù du rất cao, trung bình đạt
đến 2064 con/m 3 , cao hơn 4 – 5 lần các đầm khác trong nước. Đây là lượng
24
ức ăn đáng kể cho c
loài thủy sản trong đầm, nhất là tôm con.
3.1.4. Động vật đáy
Động vật đáy vùng triều chủ yếu gồm các loài ăn lọc, ăn cặn vẩn và ăn tạp
tạo nên một nhóm tiêu thụ đặc biệt quan trọng trong chuỗi xích thức ăn phế liệucủa
vùng tiều. Mộ số loài củ yếu thường ặp có giu nhiều tơ ( Polychaeta ), ốc
( Gastropoda ), cua cũng ( Brachyura ), thân mền, giáp xác, daai, sò huyết, khối