iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1. Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng 5
1.1.1. Khái niệm về cộng đồng 5
1.1.2. Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng 9
1.1.3. Những nguyên tắc của Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng 11
1.1.4. Các thành tố của quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng 13
1.2. Tình hình nghiên cứu và áp dụng CBCRM trên thế giới, trong nƣớc và tại khu
vực nghiên cứu 15
Chƣơng 2: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1. Địa điểm nghiên cứu 29
2.2. Thời gian nghiên cứu 29
2.3. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 29
2.3.1. Phương pháp luận 29
2.3.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 34
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1. Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 39
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên 39
3.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội 44
3.2. Hiện trạng tài nguyên ven biển của Đông Hải và Đại Bình 57
Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng
CBO
Tổ chức dựa vào cộng đồng
CRES
Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trƣờng
ĐDSH
Đa dạng sinh học
ĐNN
Đất ngập nƣớc
HST
Hệ sinh thái
MERD
Ban nghiên cứu Rừng ngập mặn
NN & PTNT
Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
NTTS
Nuôi trồng thủy sản
RAMSAR
Công ƣớc về các vùng đất ngập nƣớc có tầm quan
trọng quốc tế, đặc biệt nhƣ là nơi cƣ trú của loài chim
nƣớc
RNM
Rừng ngập mặn
SWOT
Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Đe dọa
UBND
Ủy ban nhân dân
nuôi cá nƣớc ngọt 50
Hình 3.3. Kiên cố hóa đê biển của xã Đại Bình 54
Hình 3.4. Rừng ngập mặn khu vực xã Đông Hải và xã Đại Bình 62
Hình 3.5. Ngán, bông thùa và sá sùng 64
Hình 3.6. Rừng ngập mặn - cảnh quan đặc trƣng vùng cửa sông - ven biển 66
Hình 3.7. Tình hình sử dụng đất xã Đại Bình 68
Hình 3.8. Tình hình sử dụng đất xã Đông Hải 69
Hình 3.9. Một số đầm tôm bị bỏ hoang ở khu vực Đồng Bí, xã Đại Bình 70
Hình 3.10. Đánh bắt hải sản vùng ven bờ 72
Hình 3.11. Các dụng cụ đánh bắt hải sản bãi triều: mai và cuốc 5 răng khai thác sá sùng,
cuốc khai thác bông thùa, dụng cụ bắt ruốc và thuôn khai thác ngán. 75
Hình 3.12. Mối quan hệ giữa các bên liên quan trong quản lý và khai thác, sử dụng vùng
đất ngập triều thuộc 2 xã Đại Bình và Đông Hải 77
Hình 3.13. Mô hình quản lý rừng ngập mặn tại Đại Bình và Đông Hải 78
Hình 3.14. Mô hình quản lý khu vực bãi triều tại Đại Bình và Đông Hải 79
Hình 3.15. Mô hình CBCRM đề xuất cho Đại Bình và Đông Hải 86 1
MỞ ĐẦU
Lý do lựa chọn đề tài
Đất ngập nƣớc (ĐNN) Việt Nam đƣợc đánh giá là rất phong phú, có vai trò rất quan
trọng trong các hệ thống tự nhiên cũng nhƣ đối với các hệ xã hội, đặc biệt là các hệ
sinh thái ĐNN cửa sông - ven biển. Chƣa tính đến vùng đất ngập nƣớc ở châu thổ
sông Hồng, sông Mê Kông và vùng nội địa, tài nguyên đất ngập nƣớc của Việt Nam
chỉ tính riêng vùng ven biển cũng rất phong phú: 29 tỉnh ven biển với dân số 45
triệu ngƣời có tổng diện tích 139.640km2. Riêng 125 huyện ven biển với dân số 20
based natural resource management- CBNRM). Đây là phƣơng pháp tiếp cận góp
phần nâng cao hiệu quả quản lý bảo tồn ĐDSH. Các mô hình quản lý bảo tồn tài
nguyên thiên nhiên có sự tham gia của cộng đồng đã bƣớc đầu đƣợc thực hiện có
kết quả ở nhiều nƣớc và cũng là một trong những khía cạnh đƣợc Đảng và Nhà
nƣớc Việt Nam quan tâm.
Trong danh mục 30 hệ sinh thái đặc thù bị suy thoái (Cục Bảo vệ môi trƣờng,
2007), hệ sinh thái rừng ngập mặn (RNM) khu vực miền Đông Quảng Ninh nằm
trong 12 hệ sinh thái đặc thù bị suy thoái nghiêm trọng nhất hiện nay.
RNM xã Đông Hải, huyện Tiên Yên và xã Đại Bình, huyện Đầm Hà thuộc hệ sinh
thái RNM khu vực miền Đông Quảng Ninh, trƣớc đây có diện tích khá lớn, khoảng
5000ha, đây là một trong những hệ sinh thái RNM điển hình khu vực phía Bắc Việt
Nam với chất lƣợng rừng tốt, phong phú về chủng loại. Tuy nhiên, do quá trình khai
thác và sử dụng không hợp lý nên diện tích RNM đã bị suy giảm nhiều, hiện chỉ còn
khoảng hơn 1000ha. Mặc dù vậy, diện tích RNM và tài nguyên ĐNN vùng cửa sông
- ven biển này vẫn đang tiếp tục bị đe dọa và có nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng
nếu không có những biện pháp kịp thời để bảo tồn và sử dụng một cách bền vững.
Với những lý do trên, học viên đã chọn đề tài “Nghiên cứu quản lý tài nguyên ven
biển dựa vào cộng đồng tại huyện Tiên Yên và Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh” để
thực hiện luận văn tốt nghiệp khóa học thạc sỹ chuyên ngành Môi trường trong
Phát triển bền vững. Luận văn này đƣợc thực hiện trong khuôn khổ nhiệm vụ quản
lý Nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng “Triển khai áp dụng và hoàn thiện mô hình
quản lý tài nguyên thiên dựa vào cộng đồng phục vụ phát triển bền vững vùng
3
cửa sông ven biển xã Đông Hải, huyện Tiên Yên và xã Đại Bình, huyện Đầm Hà,
tỉnh Quảng Ninh” của Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trƣờng, Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Đối tƣợng nghiên cứu
cho việc xây dựng phƣơng án quy hoạch phục hồi và sử dụng bền vững các
hệ sinh thái tƣơng tự;
Huy động sự tham gia tích cực của cộng đồng vào việc quản lý bền vững
nguồn tài nguyên ven biển và các hệ sinh thái nhạy cảm vùng cửa sông ven
biển.
Đây là đề tài nghiên cứu khoa học phục vụ cho luận văn thạc sỹ đầu tiên
đƣợc thực hiện tại khu vực liên quan đến quản lý bảo tồn tài nguyên thiên
nhiên dựa vào cộng đồng.
Kết cấu của luận văn
Nội dung của luận văn bao gồm:
Phần mở đầu: nêu lý do lựa chọn đề tài, đối tƣợng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu
và ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn.
Chƣơng 1: Tổng quan các tài liệu về CBNRM nói chung và CBCRM nói riêng, các
mô hình CBCRM đã đƣợc xây dựng trong và ngoài nƣớc cũng nhƣ tại khu vực
nghiên cứu.
Chƣơng 2: Địa điểm, thời gian và phƣơng pháp nghiên cứu.
Chƣơng 3: Trình bày các kết quả nghiên cứu về tình hình khai thác, sử dụng và thực
trạng công tác quản lý tài nguyên ven biển, từ đó đề xuất mô hình quản lý tài
nguyên ven biển dựa vào cộng đồng cho khu vực nghiên cứu.
Kết luận và khuyến nghị và các phụ lục.
5
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng
1.1.1. Khái niệm về cộng đồng
Cộng đồng xã hội (dân tộc, triết)
Chỉ một tập đoàn ngƣời rộng lớn, có những dấu hiệu, những đặc điểm xã hội chung
về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cƣ trú. Cũng có
đất liền để có lƣơng thực hoặc thu nhập. Do tài nguyên trên đất liền có vai trò quan
trọng đối với những cộng đồng ven biển và tác động đến tình trạng cùng việc sử
dụng những nguồn tài nguyên biển - đƣợc giả định là tất cả những vật sống và
không sống đƣợc tìm thấy dƣới bề mặt biển - nên chúng cũng đƣợc coi là nguồn tài
nguyên ven biển cùng với những tài nguyên sống và không sống trong biển.
Những cộng đồng ven biển có những nguồn thu nhập đa dạng nhƣng đều có mối đe
dọa nghiêm trọng về an ninh lƣơng thực. Họ sống trên bờ biển phong phú nhƣng
nhìn chung họ lại nghèo, đông đúc và bị gạt ra bên lề sự phát triển. Tuy nhiên họ lại
tỏ ra tháo vát khi nguồn tài nguyên bị suy thoái, họ có thể thiếu tiền nhƣng họ vẫn
tồn tại. Gần đây áp lực gia tăng dân số ở nhiều nơi đã đẩy những ngƣời sống trong
nội địa ra ven biển với hy vọng duy trì sinh kế dựa vào nguồn tài nguyên ven biển
vẫn thƣờng đƣợc coi là tài sản chung. Tất cả những ngƣời di cƣ này góp phần vào
sự thay đổi dân số địa phƣơng, những nhóm ngƣời thiểu số, văn hóa và ngôn ngữ
pha trộn. Cho dù đến từ nội địa hay những vùng ven biển, họ đều là những ngƣời
không có sự ràng buộc từ trƣớc với địa phƣơng. Điều này có nghĩa là tuy có ít vốn
tri thức về sinh thái địa phƣơng nhƣng dân di cƣ lại góp phần vào sự phong phú của
các cộng đồng ven biển với sự đa dạng những nền văn hóa khác nhau.
Hệ thống con ngƣời và sinh thái tạo ra vùng ven biển là hệ thống phức hợp cao độ
về phƣơng diện dân số học cũng nhƣ sinh thái học. Giao diện đất liền và biển là
sinh cảnh biến động, trong đó năng lƣợng, chất dinh dƣỡng và chủng quần động,
thực vật pha trộn với nhau và đƣợc tái sinh. Điều này tạo ra một trong những vùng
có năng suất cao nhất trên Trái Đất đƣợc thể hiện bởi những chuỗi thức ăn phức
hợp, có khả năng duy trì tiềm năng năng suất cao. Có những lý do hợp lý để tin rằng
7
thiên nhiên ảm đạm hiện nay của một số vùng ven biển chủ yếu là do sự phá hoại
khó kiểm soát đối với những mạng lƣới sinh thái phức hợp. Giảm khai thác những
mắt xích quan trọng của chuỗi thức ăn mà thƣờng là các loài ăn thịt có giá trị
biệt. Theo sử sách, có một điều kỳ lạ là Việt Nam có bờ biển rất dài nhƣng nông dân
không có xu hƣớng tiến ra biển. Biển đóng một vai trò hết sức mờ nhạt trong đời
sống của nông dân.
Tổ tiên của ngƣời Việt vốn là cƣ dân nông nghiệp lúa nƣớc, với cảnh quan vùng
đồng bằng tạo tiền đề cho con ngƣời dễ trồng trọt và đánh cá nƣớc ngọt, do đó mặc
dù chƣa ra biển nhƣng khẩu phần ăn của ngƣời Việt có hai thức ăn chủ đạo là cơm
và cá. Cá, tôm, cua nƣớc ngọt luôn sẵn có trong vùng nhiệt đới mƣa nhiều, sông
ngòi, ao hồ dày đặc. Cá biển chƣa trở thành thức ăn quan trọng khi biển cả vẫn là
loại môi trƣờng dữ dằn đối với con ngƣời, nhất là với những ngƣời nông dân thời kỳ
tiền công nghiệp, khi khoa học kỹ thuật chƣa phát triển các loại công cụ chinh phục
biển nhƣ tàu thuyền, dụng cụ đánh bắt,…Hơn nữa, ngƣời Việt Nam có hàng nghìn
năm lịch sử chống ngoại xâm nên nói chung họ e ngại tiếp xúc với ngƣời ngoại
quốc. Vì vậy mà các triều đại trƣớc đây luôn thực hiện chính sách chọn nông, ức
thƣơng, bế quan tỏa cảng. Trong bối cảnh nhƣ vậy, biển hầu nhƣ không có giá trị gì
trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế.
Nhiều ý kiến cho rằng khi tiếp xúc với biển, ngƣời Việt có hai cách ứng xử. Một là,
quai đê lấn biển, cố gắng mở rộng đồng bằng ra phía biển để có đất cấy lúa trồng
khoai, ngăn chặn biển để yên ổn kế sinh nhai. Hai là, có một bộ phận nhỏ dân cƣ
thƣờng là những ngƣời rất nghèo, không có đất canh tác hoặc không tranh giành nổi
những thủy vực để khai thác trong đất liền, họ buộc phải mon men ra biển bằng
những thuyền nhỏ, thuyền nan, thuyền thúng, bè mảng làm nghề đánh cá bằng các
dụng cụ chài lƣới thô sơ. Một bộ phận nghèo đến nỗi không tìm đƣợc đất làm nhà
nên họ đành phải sống lênh đênh trên những chiếc thuyền nhỏ bé, bám biển làm kế
sinh nhai. Tuy nhiên, đại bộ phận những ngƣời dân sống ở ven biển dù làm nghề hái
lƣợm những sản vật tự nhiên của biển hay đánh cá trên những con thuyền nhỏ
nhƣng họ vẫn hƣớng về nông nghiệp. Làng của họ thƣờng bám vào những nơi có
nƣớc ngọt để có thể canh tác nông nghiệp vì con tôm, con cá không đủ nuôi sống
con ngƣời.
ngƣời có khả năng bảo vệ.
10
Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng là quá trình quản lý tài nguyên ven
biển do những ngƣời phụ thuộc vào nguồn tài nguyên đề xƣớng. Vì vậy ngày càng
có nhiều ngƣời sử dụng tài nguyên tham gia vào quản lý nguồn tài nguyên ven biển
và trách nhiệm quản lý mang tính chất địa phƣơng. Ý thức trách nhiệm, sự tuân thủ
pháp luật do đó cũng tăng lên.
Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng là hoạt động nhằm định hƣớng các
vấn đề thông qua kiểm soát quản lý tài nguyên mang tính địa phƣơng hơn. Khi quản
lý tài nguyên dựa vào cộng đồng trở nên tiến bộ hơn nó sẽ giải quyết các vấn đề của
cộng đồng ven biển một cách toàn diện hơn. Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng
là một nỗ lực làm cho cộng đồng “đƣợc kiểm soát hơn”.
Trong tƣơng lai kế sinh nhai bền vững không chỉ đơn thuần là “kế sinh nhai thay
thế” mà nó còn bao gồm cả các khía cạnh văn hoá, xã hội và chính trị đang tác động
một cách mạnh mẽ đến cuộc sống của con ngƣời. Nếu muốn con ngƣời có trách
nhiệm trong việc quản lý, thì lợi ích của họ phải rõ ràng, thực chất, công bằng,
những mục đích thƣơng mại là không thể chấp nhận đƣợc. Việc đánh giá một cách
toàn diện là thực sự cần thiết. Hầu hết các hệ sinh thái bị suy thoái vì nguyên nhân
này hay nguyên nhân khác đều phải đƣợc hồi phục. Kiểm soát việc sử dụng và lạm
dụng tài nguyên sẽ mang lại năng suất tiềm năng cho vùng ven biển và cộng đồng
ven biển, với sự chăm sóc và quan tâm thích đáng, có thể cải thiện đƣợc phúc lợi
của chính cộng đồng ven biển trƣớc mắt cũng nhƣ trong tƣơng lai.
Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng là chiến lƣợc toàn diện nhằm xác
định những vấn đề mang tính chất nhiều mặt ảnh hƣởng đến môi trƣờng ven biển
thông qua sự tham gia tích cực và có ý nghĩa của cộng đồng ven biển. Điều quan
trọng là chiến dịch này tìm cách xác định vấn đề cốt lõi của sự tiếp cận tài nguyên
một cách tự do cùng với tất cả hậu quả bất công và không hiệu quả, bằng cách tăng
Bằng việc tăng cƣờng sự kiểm soát và tiếp cận của cộng đồng đối với tài nguyên
ven biển sẽ tạo ra cơ hội tốt hơn cho tích luỹ lợi ích kinh tế địa phƣơng. Các tổ chức
tại cộng đồng quản lý tốt tài nguyên cũng có thể đƣợc công nhận nhƣ những ngƣời
cộng tác hợp pháp trong việc quản lý tài nguyên ven biển. Sự tăng quyền lực cũng
12
có nghĩa là xây dựng nguồn nhân lực và khả năng của cộng đồng để quản lý có hiệu
quả nguồn tài nguyên của họ theo cách bền vững.
Sự công bằng
Nguyên tắc công bằng gắn liền với nguyên tắc tăng quyền lực. Sự công bằng có
nghĩa là có sự bình đẳng giữa mọi ngƣời và mọi tầng lớp đối với những cơ hội. Tính
công bằng chỉ có thể đạt đƣợc khi mọi ngƣời đều có quyền tiếp cận bình đẳng đối
với những cơ hội tồn tại để phát triển, bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên ven biển.
CBCRM cũng đảm bảo tính công bằng giữa thế hệ hiện tại và tƣơng lai bằng cách
tạo ra những cơ chế có thể bảo đảm cho việc bảo vệ và bảo tồn nguồn tài nguyên
ven biển để sử dụng cho tƣơng lai.
Tính hợp lý về sinh thái và sự phát triển bền vững
CBCRM thúc đẩy những kỹ thuật và thực hành không chỉ để phù hợp với những
nhu cầu về kinh tế, xã hội, văn hoá của cộng đồng mà còn là hợp lý về sinh thái. Do
đó những kỹ thuật phải thừa nhận sức chịu đựng và tiếp thụ của nguồn tài nguyên
và hệ sinh thái.
Sự phát triển bền vững có nghĩa là phải cân nhắc, nghiên cứu trạng thái và bản chất
của môi trƣờng tự nhiên trong khi theo đuổi phát triển kinh tế mà không làm tổn hại
đến phúc lợi của thế hệ tƣơng lai. Quan tâm đến môi trƣờng đƣợc lồng vào nguyên
tắc “Ngƣời quản gia”, nguyên tắc này thừa nhận mọi ngƣời đều là ngƣời bảo vệ
bình dị của Trái Đất này.
Tôn trọng những tri thức truyền thống/bản địa
CBCRM thừa nhận giá trị của tri thức và hiểu biết bản địa. Nó khuyến khích việc
Mặc dù vùng ven biển hiện nay đƣợc xem là đang chịu tác động nghiêm trọng và
việc đánh bắt hải sản thƣờng đƣợc coi nhƣ phƣơng cách cuối cùng thì năng suất
tiềm năng có thể đạt lại đƣợc và hỗ trợ cho phúc lợi của nhân dân địa phƣơng,
những vùng năng suất cao có thể tiếp tục hỗ trợ nhiều cộng đồng ven biển nhƣng
việc kiểm soát và quản lý phải đƣợc coi là điều cốt yếu.
14
Xây dựng nguồn nhân lực
Xây dựng nguồn nhân lực nghĩa là tăng quyền lực cho cộng đồng thông qua giáo
dục, đào tạo và xây dựng tổ chức. Giáo dục bảo tồn hay giáo dục môi trƣờng là
phần quyết định của xây dựng nguồn nhân lực. Nó giúp cho việc tạo dựng sự hiểu
biết chung về những khía cạnh phức hợp và có liên quan với nhau của việc quản lý
tài nguyên thiên nhiên. Bằng cách nhấn mạnh những vấn đề địa phƣơng, giáo dục
môi trƣờng có thể tạo dựng đƣợc nhận thức và kỹ năng góp phần vào năng lực của
cả cá nhân và cộng đồng nhằm ảnh hƣởng đến những thay đổi.
Những ngƣời đứng đầu cộng đồng tạo dựng lòng tin của họ thông qua việc tích luỹ
kiến thức và kỹ năng. Nó cũng bao gồm việc xây dựng và đẩy mạnh khả năng tổ
chức của nhân dân (thí dụ đào tạo ngƣời đứng đầu của họ, mở rộng thành viên, lập
quỹ, kỹ năng cao, thiết lập hệ thống tổ chức, mạng lƣới làm việc). Tất cả những nỗ
lực trên đều nhằm đạt đƣợc sự độc lập và dựa vào chính mình của các tổ chức tại
cộng đồng cũng nhƣ toàn bộ cộng đồng.
Bảo vệ môi trường
Những sinh cảnh ven biển hỗ trợ tài nguyên ven biển. Một khi sinh cảnh bị suy
thoái hay huỷ hoại thì ngay lập tức sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến năng suất của tài
nguyên. Bảo vệ môi trƣờng tập trung vào sự phục hồi, cải thiện và bảo vệ các sinh
cảnh. Ví dụ: Thiết lập các khu bảo tồn, phục hồi và trồng lại rừng.
Bảo vệ môi trƣờng phải bao hàm cả các hệ sinh thái điển hình khác nhau vì chúng
đƣợc liên kết với nhau từ đầu nguồn đến cửa sông. Bảo vệ môi trƣờng có liên quan
16
mô hình đƣợc xây dựng đều có những đặc điểm riêng phụ thuộc vào vị trí địa lý,
tính cách của cộng đồng và tình trạng kinh tế - xã hội của khu vực, nhƣng về cơ
bản đều dựa trên những nguyên tắc chung của quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa
vào cộng đồng đã đề cập ở trên. Do đó, một số bài học kinh nghiệm chung có thể
đƣợc rút ra từ sự thành công cũng nhƣ thất bại của các mô hình này.
Gruber (2007) [21] đã đƣa ra 12 nguyên tắc tổ chức cho việc quản lý tài nguyên
thiên dựa vào cộng đồng một cách hiệu quả.
A) Huy động sự tham gia của các thành viên cộng đồng
B) Nguồn vốn xã hội và mối quan hệ cộng tác
C) Các nguồn lực và sự công bằng
D) Truyền thông và sự phổ biến thông tin
E) Nghiên cứu và phát triển thông tin
F) Trao quyền và xây dựng năng lực cộng đồng
G) Tính hợp pháp và sự tin tƣởng của các thành viên cộng đồng
H) Quan trắc, thông tin phản hồi và trách nhiệm
I) Đồng quản lý và lãnh đạo thích ứng
J) Quá trình ra quyết định có sự tham gia
K) Đặc điểm của cộng đồng: các tiền đề tối ƣu.
L) Sự hợp tác và giải quyết xung đột.
12 nguyên tắc này đƣợc rút ra trên cơ sở tham khảo kết quả của 23 công trình
nghiên cứu và sau đó đƣợc kiểm tra với 24 nghiên cứu trƣờng hợp (từ tài liệu Hội
thảo quốc tế của Ngân hàng Thế giới về Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào
cộng đồng (1998)) về quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng đã đƣợc
thực hiện ở 23 nƣớc trên thế giới.
17
gọi sự tham gia của cộng đồng.
(vi)- Tăng cường sự đa dạng và bảo tồn bản sắc văn hóa
(vii)- Mạng lưới và tăng cường tiếng nói của cộng đồng.
Các sáng kiến dựa vào cộng đồng cần có đƣợc các mối liên hệ và sự hỗ trợ từ
bên ngoài.
Hiệu lực của pháp luật là tối quan trọng trong quản lý tài nguyên ven biển.
Philippines là một trong những nƣớc đã triển khai nghiên cứu và áp dụng nhiều
chƣơng trình/dự án CBCRM nhất trên thế giới và cũng là nƣớc có nhiều kinh
nghiệm trong lĩnh vực này. Một trong những tài liệu đầy đủ và có hệ thống nhất về
quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng là bộ sách “Các phương pháp
tham gia trong quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng” do Viện Tái thiết
Nông thôn Quốc tế (IIRR), Philippines ấn hành năm 1998 và đã đƣợc Trung tâm
Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trƣờng, Đại học Quốc gia Hà Nội dịch sang tiếng
Việt. Nội dung bộ sách này bao gồm các khái niệm, các nguyên tắc, các thành tố và
trọng tâm là các phƣơng pháp tham gia trong quản lý tài nguyên ven biển dựa vào
cộng đồng. Bộ sách là sự chắt lọc kinh nghiệm từ các mô hình quản lý bảo tồn dựa
vào cộng đồng đã đƣợc triển khai trên thực tế.
Hiện nay, CBCRM đang là hƣớng nghiên cứu, tiếp cận có hiệu quả đối với nhiều
nƣớc trên thế giới, đặc biệt là các nƣớc đang phát triển. Một số mô hình quản lý bảo
tồn dựa vào cộng đồng đã đƣợc triển khai thành công trên thực tế, điển hình nhƣ Dự
án trồng lại rừng ngập mặn Buswang ở Kalibo, Philippines; dự án rừng cộng đồng ở
tỉnh Trang, thuộc Tây nam Thái Lan do một tổ chức phi chính phủ địa phƣơng
mang tên Yad Fon thực hiện [6]. Sự thành công của các mô hình này đã cho thấy
một nguyên tắc chung là cộng đồng phải đƣợc tham gia ngay từ đầu của quá trình
quy hoạch, thực hiện và giám sát của việc quản lý tài nguyên, nếu không thì những
19
chƣơng trình về bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên bao gồm cả tài
cá, và qua đó tạo thu nhập khá hơn cho dân làng nói chung và phụ nữ nói
riêng.
Để đạt đƣợc những mục tiêu này một nhóm cán bộ có kinh nghiệm của MERC đã
tập huấn tại chỗ cho dân làng về cách thu hái quả và trồng cây ngập mặn. Ban đầu
tiến hành tập huấn cho một nhóm hạt nhân (khoảng 20 ngƣời) đƣợc tuyển chọn từ
các xã với sự ƣu tiên cho phụ nữ (hình thức tập huấn cho những ngƣời tập huấn -
training of trainers). Những thành viên của nhóm này sau đó sẽ tập huấn cho những
ngƣời dân bình thƣờng ngay tại nơi trồng rừng của họ.
Một số loài cây ngập mặn đƣợc lựa chọn để trồng lại nhƣ Trang (Kandelia), Đƣớc
(Rhizophora), Vẹt (Bruguira), Mắm (Avicennia), Bần (Sonneratia) và một vài loài
khác. Trồng lại cây ở những nơi mà cây non đã bị chết phải đƣợc thực hiện theo
cách xen kẽ, chẳng hạn ở nơi này chỉ trồng Đƣớc vào một mùa và mùa sau sẽ trồng
Trang. Sự đa dạng loài này sẽ tăng đa dạng sinh học và năng suất của khu vực.
Hợp tác với MERC và các tổ chức khác, OXFAM đã công bố ba loại hình sách tập
huấn để giúp đẩy mạnh giáo dục quần chúng về những nội dung có liên quan. Hai
loại sách dành cho trẻ em và đƣợc sử dụng nhƣ sách giáo khoa trong các trƣờng của
huyện.
Chƣơng trình này đã đem lại niềm hy vọng mới cho ngƣời dân địa phƣơng. Nhằm
khuyến khích những ngƣời dân tham gia vào chƣơng trình này ngay từ đầu, Chính
phủ đã cấp đất cho họ. Quyền sở hữu đất cho mỗi hộ gia đình tham gia đã đƣợc Chủ
tịch UBND huyện ký và ngƣời dân sẽ có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ rừng vì
đó là tài sản của họ. Ngoài bảo vệ của các cá nhân, mỗi xã còn cử ra một đội bảo vệ
rừng ngập mặn. Những thành viên của đội sẽ đƣợc trả lƣơng nhờ quỹ thu đƣợc từ
phí bảo vệ đê do ngƣời dân tự đóng góp. Mô hình đắp đê và trồng cây ngập mặn
này hiện đã đƣợc nhân rộng ra những xã lân cận trong huyện Kỳ Anh. Báo cáo tổng
kết của chƣơng trình đã khẳng định một trong những điểm quan trọng nhất làm cho
dự án trở nên bền vững là sự tham gia đầy đủ và tích cực của nhân dân địa phƣơng.