Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Doanh nghiệp vừa và nhỏ- Công ty Cổ phần thương mại Hà My - Pdf 26

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời mở đầu
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào, vốn
đều được xem là yếu tố không thể thiếu, là đòi hỏi đầu tiên bắt buộc phải có và đóng một
vai trò hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp.
Đối với một nền kinh tế mới vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp
hoá - hiện đại hoá như nước ta hiện nay, nhu cầu về vốn để đổi mới công nghệ và phát
triển của các doanh nghiệp rất lớn. Do đó, đi tìm lời giải về vốn hay nói cách khác là các
biện pháp nâng cao khả năng huy động vốn của doanh nghiệp là vấn đề mang tính thời
sự và thiết thực đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
Là một doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực thương mại, Công Cổ phần thương
mại Hà My đương nhiên không nằm ngoài xu thế này. Trong quá trình thực tập tại Công
ty, được sự giúp đỡ và hướng dẫn rất nhiệt tình của cô giáo hướng dẫn và các anh chị
trong Công ty, em đã bước đầu được làm quen với thực tế, nghiên cứu tình hình hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, vận dụng lý luận vào thực tiễn và từ thực tiễn làm
sáng tỏ hơn những lý luận được nghiên cứu trong nhà trường.
Với mong muốn đề xuất một số giải pháp nhằm hỗ trợ phát triển loại doanh nghiệp,
khai thác tốt hơn tiềm năng kinh tế của loại hình doanh nghiệp này, em xin chọn đề
tài:
“Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Doanh nghiệp vừa và nhỏ- Công ty Cổ
phần thương mại Hà My”.
Đây là vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và khả năng cạnh tranh
của Công ty trên thị trường quốc tế.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề của em gồm ba phần:
SV: Nguyễn Thị Chinh BH211388- NH21.26
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương 1: Các hình thức huy động vốn trong Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại công ty CPTM Hà My
Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại công ty CPTM Hà My

Theo thông tư liên bộ số 21/LĐTT ngày 17-6-1993 của Bộ Lao động Thương binh Xã
SV: Nguyễn Thị Chinh BH211388- NH21.26
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hội và Bộ Tài chính, các doanh nghiệp ở Việt Nam được phân thành 5 hạng: hạng đặc
biệt, hạng I, II, III và IV dựa trên mức độ phức tạp của quản lý và hiệu quả sản xuất
kinh doanh với 8 tiêu chí rất phức tạp như vốn, công nghệ, lao động, doanh thu, lợi
nhuận… Đối tượng phân loại chủ yếu chỉ giới hạn trong các doanh nghiệp Nhà nước
với mục đích là để xếp thang bậc lương cho cán bộ quản lý doanh nghiệp.
Trước năm 1998, một số địa phương, tổ chức đã xác định DNVVN dựa trên các tiêu
chí khác nhau như: số lao động dưới 50 người, giá trị tài sản cố định dưới 10 tỷ, số dư
vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng và doanh thu hàng tháng dưới 20 tỷ đồng. Ở thành phố
Hồ Chí Minh, những doanh nghiệp có vốn pháp định trên 1 tỷ đồng, lao động trên
100 người, và doanh thu hàng năm trên 10 tỷ đồng là doanh nghiệp vừa, còn dưới
giới hạn trên là doanh nghiệp nhỏ. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, cần phân định
doanh nghiệp vừa và nhỏ theo lĩnh vực sản xuất và dịch vụ. Trong lĩnh vực sản xuất,
doanh nghiệp có số vốn dưới 1 tỷ đồng, lao động dưới 100 người là doanh nghiệp
nhỏ; doanh nghiệp có từ 1 đến 10 tỷ đồng và số lao động từ 100 đến 500 người là
doanh nghiệp vừa. Trong thương mại dịch vụ, doanh nghiệp có số vốn dưới 500 triệu
đồng và lao động dưới 50 người là doanh nghiệp nhỏ; doanh nghiệp có số vốn từ 500
triệu đến 5 tỷ đồng và có từ 50 đến 250 lao động là doanh nghiệp vừa.
Ngày 20-6-1998, Chính phủ đã có công văn số 681/CP-KCN về việc định hướng
chiến lược và chính sách phát triển các DNVVN. Theo công văn này, DNVVN là
những doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng và lao động thường xuyên dưới 200
người. Việc áp dụng một trong hai tiêu chí hoặc cả hai tùy thuộc vào điều kiện cụ thể
của từng địa phương, từng ngành, từng lĩnh vực. Đây có thể được coi là văn bản đầu
tiên đưa ra tiêu chí xác định DNVVN.
Ngày 23-11-2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát
triển DNVVN. Theo Nghị định này, DNVVN là doanh nghiệp có số vốn đăng ký dưới
10 tỷ đồng Việt Nam hoặc số lao động bình quân hàng năm dưới 300 người. Đây là

5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sàng cấp tín dụng.
− Khả năng quản lý hạn chế do các chủ doanh nghiệp thường là những người tự
đứng ra thành lập và vận hành doanh nghiệp. Họ là những người vừa quản lý vừa
tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh nên mức độ chuyên môn
trong quản lý không cao. Phần lớn chủ doanh nghiệp thường không được đào tạo
về quản lý chính quy hoặc không qua khóa đào tạo nào.
− Trình độ tay nghề của người lao động thấp. Các chủ DNVVN không đủ khả năng
cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê lao động có tay nghề cao do
hạn chế về tài chính… Bên cạnh đó, định kiến của người lao động cũng như
những người thân của họ về khu vực này còn khá lớn. Người lao động ít được đào
tạo vì kinh phí hạn hẹp nên trình độ và kỹ năng thấp. Ngoài ra, sự không ổn định
khi làm việc cho các doanh nghiệp này, cơ hội để phát triển thấp cũng là lý do
không thu hút được lao động có kỹ năng cao.
− Khả năng về công nghệ thấp do không đủ tài chính cho nghiên cứu triển khai,
nhiều DNVVN có những sáng kiến công nghệ tiên tiến nhưng không đủ tài chính
cho việc nghiên cứu triển khai nên không thể hình thành công nghệ mới hoặc bị
các doanh nghiệp lớn mua lại với giá rẻ. Tuy nhiên, các DNVVN rất linh hoạt
trong việc thay đổi công nghệ sản xuất do giá trị của dây chuyền công nghệ
thường thấp và họ thường có những sáng kiến đổi mới công nghệ phù hợp với quy
mô của mình từ những công nghệ cũ và lạc hậu. Điều này thể hiện tính linh hoạt
trong đổi mới công nghệ và tạo nên sự khác biệt về sản phẩm để các doanh nghiệp
này có thể tồn tại trên thị trường.
− Các DNVVN Việt Nam thường sử dụng chính những diện tích đất riêng của mình
làm mặt bằng sản xuất, và cũng rất khó thuê mặt bằng sản xuất. Vì vậy, các
DNVVN rất khó khăn trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh khi quy mô doanh
nghiệp được mở rộng. Một số doanh nghiệp thuê được đất thì gặp nhiều trở ngại
SV: Nguyễn Thị Chinh BH211388- NH21.26
6

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ.
Thứ ba, DNVVN làm tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Với sự
tồn tại của nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực sẽ làm giảm
tính độc quyền và buộc các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh, phải liên tục
đổi mới để tồn tại và phát triển. Với sự linh hoạt của mình, các DNVVN cũng sẽ tạo
sức ép cạnh tranh với các công ty lớn. Ngoài ra, nhiều DNVVN còn đóng vai trò là vệ
tinh cho các doanh nghiệp lớn, thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa và phân công lao
động sản xuất, làm tăng hiệu quả của các DNVVN cũng như các công ty hợp tác.
Bên cạnh đó, DNVVN đóng góp không nhỏ vào ngân sách Nhà nước. Mặc dù đóng
góp ngân sách của DNVVN vào thu ngân sách còn nhỏ, nhưng tỷ lệ này đã tăng đáng
kể và có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây từ khoảng 6,4% năm 2001
lên hơn 7,2% năm 2002.
Ngoài ra, DNVVN đóng góp vào quá trình tăng tốc độ áp dụng công nghệ mới. Với
sự linh hoạt của mình, các DNVVN là ngưới đi tiên phong trong việc áp dụng các
phát minh mới về công nghệ mới cũng như các sáng kiến về kỹ thuật. Do áp lực cạnh
tranh nên các DNVVN thường xuyên phải cải tiến công nghệ, tạo sự khác biệt để có
thể cạnh tranh thành công. Mặc dù không tạo ra được những phát minh, sáng kiến
mang tính đột phá nhưng nó là những tiền đề cho sự thay đổi về công nghệ.
Mặt khác, DNVVN đã tạo ra nhiều việc làm mới, giảm áp lực về việc làm và thất
nghiệp. Hiện nay, do tỷ lệ dân số tăng cao trong những năm trước đây nên vấn đề giải
quyết việc làm đang trở nên cấp thiết. Doanh nghiệp Nhà nước đang thực hiện sắp
xếp lại nên không những không thể thu hút thêm lao động mà còn tăng thêm số lao
động dôi dư, trong khi khu vực nước ngoài lại không tạo ra tỷ lệ việc làm đáng kể. Do
đó, phần lớn số người tham gia lực lượng lao động này trông chờ vào khu vực nông
thôn và khu vực DNVVN. Các DNVVN đã tạo ra nhiều việc làm mới với tốc độ tăng
trưởng cao, góp phần tăng thu nhập của người lao động, cải thiện đời sống kinh tế xã
SV: Nguyễn Thị Chinh BH211388- NH21.26
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

những khó khăn về quy mô hoạt động để khu vực này tiếp tục đóng vai trò quan
trọng của mình đối với nền kinh tế và xã hội thì cần có các chính sách hỗ trợ cho các
DNVVN phát triển. Đây vừa là vấn đề tất yếu, vừa là vấn đề cấp thiết trong giai
đoạn hiện nay và sắp tới, đặc biệt là trong quá trình cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
1.2 CÁC HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
1.2.1 Mục tiêu huy động vốn của doanh nghiệp
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành
các hoạt động sản xuất kinh doanh. Mục tiêu quan trọng nhất của hoạt động huy động
vốn của doanh nghiệp là đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thuận lợi.
Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn được đầu tư vào sản xuất kinh doanh với mục
đích cơ bản là tạo ra lợi nhuận cho chủ sở hữu.
Trong nền kinh tế thị trường vốn của doanh nghiệp được coi là toàn bộ giá trị được
ứng ra ban đầu và các quá trình sản xuất tiếp theo, tức là không tham gia vào một quá
trình sản xuất riêng biệt nào mà trong suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ lúc mới
hình thành đến lúc kết thúc.
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, mọi hoạt động từ việc xác định mục tiêu cho đầu
tư dài hạn, tìm nguồn tài trợ cho đến việc đưa ra các quyết định tài chính ngắn hạn - tức
là ba vấn đề quan trọng đầu tiên của doanh nghiệp, đều gắn liền tới các hoạt động có liên
quan đến vốn. Như vậy rõ ràng, vốn là bộ phận không thể thiếu trong quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp và do đó việc huy động, đảm bảo đầy đủ kịp thời vốn cho
nhu cầu sản xuất có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Việc huy động đủ vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên
tục từ khâu mua sắm vật tư, sản xuất, cho đến tiêu thụ sản phẩm. Hơn nữa, trong nền
kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, các doanh nghiệp muốn tồn tại phải có được các bí
SV: Nguyễn Thị Chinh BH211388- NH21.26
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quyết, các công nghệ tiên tiến để nâng cao năng suất lao động, sản xuất ra các sản phẩm
có chất lượng cao, hạ giá thành sản phẩm… Để thực hiện được điều này, doanh nghiệp

nghiệp hoạt động chủ yếu dựa vào hai nguồn vốn: nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải
trả. Tương ứng với mỗi nguồn có những cách huy động vốn khác nhau.
 Đối với nguồn vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp huy động theo các phương
pháp sau:
− Huy động vốn góp ban đầu của các chủ sở hữu: đây là nguồn vốn ban đầu do
các chủ sở hữu doanh nghiệp trực tiếp đầu tư khi thành lập doanh nghiệp. Tuỳ
theo loại hình sở hữu của doanh nghiệp mà nguồn vốn này được tạo lập theo
các hình thức khác nhau. Cụ thể: doanh nghiệp Nhà nước thì do ngân sách Nhà
nước cấp vốn; doanh nghiệp sở hữu một chủ thì vốn ban đầu là do chính chủ
sở hữu đầu tư; các doanh nghiệp thuộc sở hữu tập thể thì vốn đầu tư ban đầu
được hình thành từ sự tham gia đóng góp của các thành viên cổ đông.
Để huy động được nguồn vốn này một cách hiệu quả, doanh nghiệp có thể vận
động các nguồn tiết kiệm nhàn rỗi từ người thân, bạn bè… Ngoài ra, doanh
nghiệp cần có phương án kinh doanh khả thi và hấp dẫn nhằm thu hút các
thành viên góp vốn.
− Huy động vốn từ lợi nhuận sau thuế: trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp
có thể làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu bằng thình thức tái đầu tư lợi nhuận thu
được. Nghĩa là lợi nhuận sẽ được đưa trở lại quá trình kinh doanh nhằm tăng
thêm nuồn vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, nguồn vốn này phụ thuộc vào quy mô
lợi nhuận kiếm được trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Để có được nguồn vốn từ lợi nhuận sau thuế, doanh nghiệp sẽ không chia lợi
nhuận mà tái đầu tư thành vốn kinh doanh. Mặt khác, doanh nghiệp có thể chia
lợi nhuận dưới hình thức cổ phiếu cho cổ đông. Phương pháp này vừa tăng
nguồn vốn kinh doanh, vừa tạo cho các thành viên góp vốn cảm giác an toàn vì
đã nhận được kết quả từ đồng vốn mình bỏ ra.
SV: Nguyễn Thị Chinh BH211388- NH21.26
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
− Huy động nguồn vốn bổ sung bằng cách kết nạp thêm thành viên mới: khi cần
tăng thêm quy mô kinh doanh, các doanh nghiệp thuộc loại hình công ty có thể

Cho vay tín chấp: là hình thức cho vay không cần tài sản đảm bảo, thường áp
dụng cho các doanh nghiệp có uy tín, thường xuyên quan hệ với ngân hàng.
Cho vay có đảm bảo: cho vay cầm cố, cho vay thế chấp tài sản, cho vay có bảo
lãnh, nghiệp vụ chiết khấu chứng từ ghi nợ.

Căn cứ vào hình thức cho vay:
Cho vay từng lần: mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện
thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và
thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất
định.
Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để
thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự
án đầu tư phục vụ đời sống.
Cho vay trả góp: khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả
thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo
nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
Nguồn vốn tín dụng có những ưu điểm như: đáp ứng kịp thời nhu vầu vốn kinh
doanh; lãi suất vay được hạch toán vào chi phí kinh doanh, nên có sự chia sẻ về lợi
ích kinh tế giữa các nhà đầu tư và Nhà nước; dù tăng vốn nhưng các ngân hàng không
chi phối trực tiếp sự quản lý và điều hành kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên,
khi sử dụng phương thức huy động này, doanh nghiệp phải có tài sản đảm bảo cho số
tiền vay, nghĩa là doanh nghiệp phải thanh toán cho ngân hàng đúng hạn. Do đó, số
tiền vay không phải là vô hạn và quy mô vốn vay phụ thuộc vào độ tín nhiệm của
SV: Nguyễn Thị Chinh BH211388- NH21.26
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
người đi vay.
− Huy động vốn từ tín dụng thương mại: nguồn vốn này hình thành trong quan hệ
mua bán chịu giữa các doanh nghiệp với nhau. Đây là loại hình tín dụng ngắn hạn,

chưa nộp, các khoản thanh toán khác là những nguồn vốn mà doanh nghiệp có
thể sử dụng trong một thời gian ngắn nhằm giải quyết phần nào nhu cầu vốn trong
quá trình kinh doanh. Tuy nhiên, với việc chiếm dụng này, phải lưu ý đến khả
năng thanh toán kịp thời các khoản nợ khi đến hạn, các quy định về pháp luật mà
doanh nghiệp phải tuân thủ như thời hạn nộp thuế, xử phạt…
Tóm lại, hoạt động trong điều kiện môi trường đã có các nguồn vốn tiềm năng cho
kinh doanh, việc lựa chọn hình thức huy động vốn, số lượng vốn huy động tuỳ thuộc
vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp, khả năng và hiệu quả của từng nguồn
vốn cấp. Mỗi hình thức huy động có những điểm mạnh, điểm yếu khác nhau nên
doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc cẩn thận trước khi quyết định hình thức huy động vốn
sao cho có hiệu quả nhất trong quá trình kinh doanh.
1.2.3 Kết quả huy động vốn của doanh nghiệp
Trong cách hình thức huy động vốn của doanh nghiệp, hình thức huy động vốn chủ sở
hữu mang lại kết quả lớn nhất. Bởi vì đây là nguồn vốn ban đầu do các chủ doanh
nghiệp góp lại để đưa doanh nghiệp đi vào hoạt động. Nếu vốn góp chủ sở hữu không
đủ để duy trì tất cả các hoạt động của doanh nghiệp thì các chủ doanh nghiệp sẽ nghĩ
đến các hình thức huy động vốn khác. Hình thức mà các chủ doanh nghiệp thường áp
dụng là vay vốn ngân hang. Tuy nhiên hình thức huy động vốn này thường ít mang lại
hiệu quả cao bởi thường các ngân hang đều yêu cầu các khoản tài sản thế chấp và lãi
suất ngân hang tương đối cao. Mặc dù trong những năm gần đây các ngân hàng đã
chú trọng đến việc cấp vốn cho doanh nghiệp nhưng những rào cản như tài sản thế
chấp, lãi suất cao… đã gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp.
SV: Nguyễn Thị Chinh BH211388- NH21.26
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả huy động vốn
Trong nền kinh tế thị trường, khả năng huy động vốn của doanh nghiệp chịu tác
động của nhiều nhân tố, cả nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan.
1.2.4.1. Nhân tố chủ quan.
Nhân tố củ quan ảnh hưởng lớn tới kết quả huy động vốn của doanh nghiệp chính là

Trên cơ sở cơ cấu tối ưu (cơ cấu mục tiêu) được thiết lập phù hợp với tình hình cụ
thể của doanh nghiệp, các nhà quản lý mới tiến hành huy động vốn theo cách giữ cơ cấu
vốn thực tế theo cơ cấu vốn tối ưu sao cho lợi nhuận thu được là cao nhất. Có bốn nhân
tố chủ yếu tác động đến những quyết định về cơ cấu vốn của doanh nghiệp:
- Rủi ro trong kinh doanh được coi là một trong những nhân tố có tác động đến
việc lựa chọn nguồn tài trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Rủi ro đề cập
đến ở đây là rủi ro cố hữu của tài sản của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp không sử dụng
nợ. Như vậy, đối với những doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực có rủi ro kinh
doanh lớn thì việc sử dụng nợ nhiều không phải là một giải pháp huy động tối ưu.
- Nhân tố thứ hai là vấn đề thuế thu nhập doanh nghiệp. Trong trường hợp thuế suất
thuế thu nhập của doanh nghiệp cao thì việc sử dụng nợ nhiều hơn sẽ có lợi vì khi sử
dụng nợ, phần lãi vay phải trả được tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ trước khi tính thuế thu
nhập doanh nghiệp và nhờ đó hạ thấp được chi phí thực tế của nợ. {Chi phí nợ sau thuế =
Chi phí nợ trước thuế*(1- thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp)}.
- Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp trong điều kiện thị trường thay đổi hay
khả năng linh hoạt tài chính của doanh nghiệp cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu
vốn của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có khả năng đảm bảo một nguồn vốn ổn định
để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong thời gian dài, sẽ dễ dàng hơn
trong việc kêu gọi nguồn tài trợ từ các nhà đầu tư. Thật vậy, khi đánh giá đặc điểm này
chúng ta có thể thấy rõ ràng là những nhà cung cấp vốn muốn tăng cường tài trợ cho
SV: Nguyễn Thị Chinh BH211388- NH21.26
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
những doanh nghiệp có thể tự chủ về tài chính hơn là những doanh nghiệp thụ động, và
do đó ảnh hưởng tới cơ cấu vốn của doanh nghiệp.
- Nhân tố thứ tư liên quan đến quan điểm của các nhà quản lý về việc sử dụng vốn.
Có những nhà quản lý sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm sử dụng nhiều nợ hơn để tăng lợi
nhuận song có những người lại thích sử dụng nhiều vốn chủ sở hữu hơn vì mục tiêu an
toàn cho doanh nghiệp.
Bốn nhân tố trên quyết định rất lớn đến mục tiêu cơ cấu vốn của doanh nghiệp.

Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước là một nhân tố có tác động trực tiếp đến
mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, và vì
thế tất nhiên ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn. Trên cơ sở pháp luật kinh tế và các
chính sách kinh tế, Nhà nước tạo môi trường và hành lang cho các doanh nghiệp phát
triển sản xuất kinh doanh và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch kinh tế vĩ mô.
Đây là nhân tố mà các doanh nghiệp bắt buộc phải nắm rõ và tuân thủ vô điều kiện
với tư cách là một pháp nhân đối với những quy định của pháp luật. Việc huy động vốn
từ những nguồn nào, theo phương thức gì, với quy mô bao nhiêu… đều phải thực hiện
theo cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước được thể chế hoá bằng các quy định, nghị
định của Chính và các văn bản pháp luật khác. Ví dụ như theo quy định của Luật Doanh
nghiệp thì các doanh nghiệp Nhà nước hoặc công ty cổ phần có thể huy động vốn bằng
cách phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu, trong khi công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ được
phép tăng vốn bằng cách gọi thêm vốn góp từ các thành viên hoặc kết nạp thêm thành
viên mới, hoặc trích từ quỹ của công ty chứ không được phép phát hành cổ phiếu hay trái
phiếu. Hoặc theo nghị định số 27/1999/NĐ-CP ngày 20/4/1999 sửa đổi, bổ sung “ Quy
chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp Nhà nước ” ban
hành kèm theo Nghị định số 59/CP ngày 03/10/1996 của Chính phủ, doanh nghiệp Nhà
nước được quyền vay vốn của các tổ chức tín dụng (các ngân hàng thương mại, các Công
SV: Nguyễn Thị Chinh BH211388- NH21.26
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ty tài chính… ), các doanh nghiệp khác, các cá nhân ( kể cả cán bộ công nhân viên trong
doanh nghiệp) để đầu tư phát triển nhưng lãi suất huy động vốn không được cao hơn lãi
suất cho vay do ngân hàng Nhà nước công bố cùng thời điểm theo từng ngành nghề, thời
hạn vay. Điều này rõ ràng ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của những doanh
nghiệp có nhu cầu mở rộng quy mô kinh doanh nhưng đã huy động hết những nguồn có
chi phí thấp hơn lãi suất cho vay của ngân hàng.
Ngoài ra, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước trong mỗi thời kỳ cũng ảnh
hưởng không nhỏ đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp. Trong những giai đoạn
Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt thì việc vay vốn ngân hàng để bổ sung

tỷ giá… Thị trường chính là nơi hoạt động của doanh nghiệp. Trong môi trường này, các
doanh nghiệp phải luôn tự đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, đồng thời còn phải
cạnh tranh với rất nhiều doanh nghiệp khác để chiếm lĩnh thị trường. Vì vậy, quá trình
huy động vốn của doanh nghiệp không thể bỏ qua yếu tố thị trường và cạnh tranh. Riêng
đối với doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực xuất nhập khẩu thì sự biến động của tỷ giá
cũng là một yếu tố không thể bỏ qua. Do các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
gắn liền với việc sử dụng ngoại tệ nên việc tỷ giá lên cao hay xuống thấp đều gây ảnh
hưởng đến lượng vốn mà doanh nghiệp đang nắm giữ. Doanh nghiệp cần phải phân tích
những yếu tố này, xem xét tình trạng hiện tại, dự đoán tình hình trong tương lai để lựa
chọn phương án huy động vốn cho thích hợp nhằm tạo được lợi thế của mình trên thị
trường.
SV: Nguyễn Thị Chinh BH211388- NH21.26
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI HÀ MY
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CPTM HÀ MY
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Công Ty Cổ Phần Thương Mại Hà My thành lập năm 2005 theo giấy phép đăng ký kinh
doanh số 0103008059 do Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp ngày 07/06/2005.
Công ty là một Công ty thương mại hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân, được mở
tài khoản và sử dụng con dấu riêng, chịu sự quản lý toàn diện của UBND Quận Hoàn
Kiếm Hà Nội và sự hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của Sở Thương mại thành phố Hà
Nội cũng như Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội.
* Tên tiếng Việt: Công ty cổ phần thương mại Hà My
* Tên giao dịch: Công ty cổ phần thương mại Hà My
* Tên tiếng Anh: Ha My Trading Joint Stock Company
* Địa chỉ đăng ký kinh doanh: Số 52 Ngõ Huyện, Hoàn Kiếm, Hà Nội
* Văn phòng chính: số 152 Tôn Đức Thắng, Đống Đa, Hà Nội
* Các chi nhánh:

Dưới sự chỉ đạo của Tổng giám đốc, công ty CPTM Hà My gồm các phòng ban như
sau:
 Phòng tổ chức hành chính
 Phòng kế toán tài chính
 Phòng kinh doanh
 Phòng quản lý dự án
 Phòng tư vấn giám sát kỹ thuật
 Bộ phận sản xuất trực tiếp
SV: Nguyễn Thị Chinh BH211388- NH21.26
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.1.3 Các hoạt động chủ yếu
 Sản xuất và cung cấp các sản phẩm " Mành rèm cao cấp".
 Tư vấn thiết kế nội thất cho các công trình.
 Thi công hoàn thiện – trang trí nội ngoại thất.
 Sản xuất, mua bán các sản phẩm nội thất văn phòng, trường học như Bàn ghế,
tủ hồ sơ, hệ thống vách ngăn, đồ chơi trẻ em mẫu giáo…
 Xuất nhập khẩu, sản phẩm nội thất, vật liệu xây dựng.
2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh những năm gần đây
2.1.4.1 Tình hình kinh doanh nói chung
Công ty CPTM Hà My ra đời và phát triển vào thời kỳ đất nước đang trên công cuộc đổi
mới, vào lúc Việt Nam ra nhập tổ chức thương mại thế giới. Khi nền kinh tế Việt Nam
đã hội nhập được với nền kinh tế thế giới, nền jinh tế Việt Nam từng bước đạt được
những thành tựu đáng kể. Khi đó, ngành trang trí nội ngoại thất cũng có nhiều cơ hội
phát triển. Và công ty CPTM Hà My cũng không nằm ngoài số đó. Mặc dù đôi lúc nền
kinh tế cũng gặp phải nhiều biến động, ảnh hưởng tới sự kinh doanh chung của các
doanh nghiệp nói chung và công ty CPTM Hà My nói riêng. Tuy nhiên, nhờ sự năng
động trong quản lý của ban lãnh đạo và nỗ lực phấn đấu của các cán bộ công nhân viên,
Công ty đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, phản ánh qua những số liệu cụ thể
sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status