DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ABS Chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản
CDO Nghĩa vụ nợ có thế chấp
CDS Hợp đồng hoán đổi nợ
CIC Trung tâm tín dụng tại Ngân hàng nhà nước
FED Cục dự trữ liên bang Mỹ
MBS
Chứng khoán được đảm bảo bằng các khoản
vay thế chấp
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTƯ Ngân hàng Trung Ương
SIV Cỗ máy đầu tư cấu trúc
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài: Nếu như đối với nền tài chính thế giới, các tổ chức
xếp hạng tín dụng đã và đang có vai trò quan trọng như một người “ gợi ý” cho các
quyết định đầu tư, thì đối với Việt Nam, người dẫn đường này dường như vẫn chưa
được biết đến một cách toàn diện và sâu sắc.
Cuộc đại khủng hoảng năm 2008 vừa qua không chỉ chứng kiến sự sụp đổ của
nhiều Ngân hàng lớn nhỏ trên toàn thế giới, mà còn phải đối mặt với vấn đề “ niềm tin”
vào người dẫn đường trên thị trường tài chính. Vấn đề xung đột lợi ích, tính độc quyền
và vấn đề minh bạch của các tổ chức xếp hạng tín dụng đã trở thành đề tài lớn, được
cho là có liên hệ mật thiết với cuộc khủng hoảng thanh khoản Ngân hàng nói riêng, và
cuộc đại khủng hoảng 2008 nói chung. Cụ thể, những sai lầm của các tổ chức xếp hạng
tín dụng trong việc định giá các sản phẩm chứng khoán, và những động thái được cho
là “ chạy theo rủi ro thị trường” đã khiến thị trường nhà ở tại Mỹ và châu Âu nhanh
chóng sụp đổ, các Ngân hàng rơi vào tình trạng thu lỗ nặng nề và mất khả năng thanh
khoản, nợ công không ngừng gia tăng. Nền kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, và
hiện tại các quốc gia vẫn đang nỗ lực không ngừng để kích thích lại nền kinh tế.
Đối với Việt Nam, khi thị trường xếp hạng tín dụng còn đang chập chững những
bước đi đầu tiên, vấn đề đặt ra của các nhà quản lí là làm thế nào để tìm được một
hướng đi đúng cho các tổ chức tín dụng; làm thế nào để các tổ chức xếp hạng tín dụng
Chương 3: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã không ngừng cố gằng tìm tòi, nghiên
cứu để có được một đánh giá toàn diện về hoạt động xếp hạng tín dụng trên thế giới nói
chung, và ở Việt Nam nói riêng. Nhưng do đây là một đề tài phức tạp với phạm vi
nghiên cứu khá rộng nên khóa luận này khó tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp của thấy cô và các bạn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn !
I: Tổng quan về tổ chức xếp hạng tín dụng và khủng hoảng thanh
khoản Ngân hàng
1.1. Tổng quan về tổ chức xếp hạng tín dụng:
1.1.1. Khái niệm:
“ Xếp hạng tín dụng” và “ Tổ chức xếp hạng tín dụng” là các khái niệm mà
trên thực tế chưa tồn tại bất kì một định nghĩa mang tính lí thuyết nào về chúng. Chính
vì thế việc tìm hiểu các khái niệm này thông thường thường dựa trên những định nghĩa
của các cơ quan xếp hạng tín dụng lớn như Fitch, S&P hay Moody’s.
Trên trang web của mình, Fitch định nghĩa khái niệm “ xếp hạng tín dụng” là
các quan điểm về khả năng để đạt được các cam kết tài chính của một thể nhân. Các
nhà đầu tư sử dụng xếp hạng tín dụng để theo dõi các chỉ số cơ bản về xác suất vỡ nợ
cũng như kì vọng tương đối về thiệt hại có thể dẫn đến vỡ nợ, trên cơ sở đó tính toán
và đảm bảo khả năng có thể lấy lại tiền từ các khoản đầu tư. Định nghĩa này cho thấy
tính tương đối và mối liên hệ với rủi ro vỡ nợ của việc xếp hạng tín dụng.
S&P lại cho rằng “ xếp hạng tín dụng” là việc làm liên quan đến khả năng trả nợ
của nhà phát hành hoặc một chủ thể phát hành cụ thể. Họ định nghĩa xếp hạng tín dụng
là các quan điểm xoay quanh khả năng trả nợ nói chung của một trái vụ; hoặc khả năng
trả nợ của một trái vụ tương đương với một chứng khoán nợ cụ thể; hoặc các nghĩa vụ
tài chính khác dựa trên các nhân tố rủi ro thích hợp.
“ Xếp hạng tín dụng” còn được định nghĩa theo mức độ sẵn sàng trả nợ của con
nợ. Đó là cách định nghĩa của Moody’s. Theo đó, việc xếp hạng là việc phân tích, tính
toán và đánh giá khả năng và sự sẵn sàng của nhà phát hành chứng khoán về việc thanh
toán đầy đủ và đúng hạn số tiền mà chủ thể nắm giữ chứng khoán được hưởng trong
những tổn thất không đáng có.
Bên cạnh đó với các biện pháp hành chính, việc xếp hạng tín dụng sẽ giới hạn
các chủ thể tham gia thị trường bằng cách hạn chế sự tồn tại của các nhà phát hành yếu
kém dựa vào những xếp hạng tín dụng đã được xác định. Việc tính toán và quyết định
các chỉ số để sắp xếp các khoản nợ theo mức độ rủi ro tăng dần cũng sẽ bảo vệ các chủ
thể tránh những rủi ro của thị trường khi tham gia trên thị trường tài chính.
Như vậy các tổ chức xếp hạng tín dụng đã góp phần nâng cao tính công khai,
lành mạnh, vững chắc của thị trường khi tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia trên thị
trường hoàn toàn chủ động trong việc lựa chọn các phương án kinh doanh, thông qua
những thông số được minh bạch, công khai.
• Đối với nhà phát hành:
Hoạt động tín dụng có thể xem là một hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro bởi nó có
thể gây ra những tổn thất to lớn cho nền kinh tế. Vì thế các tổ chức xếp hạng tín dụng
đã và đang đáp ứng nhu cầu cấp thiết là cung cấp thước đo về rủi ro tín dụng, hay cụ
thể hơn là đưa ra các đánh giá, quan điểm về độ tin cậy tín dụng của nhà phát hành
chứng khoán, khả năng hoàn trả gốc và lãi đúng hạn của họ khi chứng khoán đáo hạn.
Nhà phát hành ở đây có thể là các doanh nghiệp, các ngân hàng phát hành, chính quyền
địa phương thậm chí là cả một quốc gia trong trường hợp phát hành nợ chính phủ. Dựa
vào các chỉ số xếp hạng tín nhiệm, nhà phát hành có thể tạo lòng tin với các nhà đầu tư,
thu hút số lượng lớn các nhà đầu tư tiềm năng khi được xếp hạng tín dụng cao và có
thể tham gia nhiều thị trường vốn.
Chỉ số xếp hạng, ngoài ra còn có thể giúp các nhà phát hành duy trì sự ổn định
trong kinh doanh bằng việc duy trì được thị trường vốn trong mọi hoàn cảnh.Ngay cả
khi thị trường có những biến động bất lợi thì những nhà phát hành được tín nhiệm vẫn
có thể yên tâm về sự tham gia của các nhà đầu tư vào đợt phát hành của mình.
Cuối cùng việc xếp hạng tín dụng còn giúp các nhà phát hành nâng cao năng lực
cạnh tranh trên thị trường tài chính.Thông thường với chỉ số xếp hạng cao, nhà phát
hành có thể dễ dàng đi vay mà chỉ phải trả các khoản lợi tức thấp và tiết kiệm chi phí
lãi vay.Điều này là một lợi thế lớn trên thị trường tài chính.Đồng thời với chỉ số xếp
hạng cao, nhà phát hành cũng sẽ có thêm nhiều cơ hội để tiếp cận với các nhà đầu tư
Chính vì thế phương pháp xét đoán đã nhanh chóng được thay thế bằng những
mô hình toán học và thống kê, lượng hóa các chỉ tiêu và dự báo rủi ro tín dụng.Sau đây
là những mô hình toán học xếp hạng tín dụng doanh nghiệp phổ biến nhất hiện nay.
• Chỉ số Z :
Chỉ số Z do Edward I. Altman ( 1968) nghiên cứu và xây dựng, được công nhận và xử
dụng rộng rãi nhất trên thế giới. Chỉ số này dựa trên phương pháp thống kê với công cụ
phân tích biệt số đa yếu tố ( MDA)
Chỉ số Z bao gồm 5 tỷ số X1, X2, X3, X4, X5 trong đó:
i. X1 giảm khi xuất hiện những khoản lỗ trong hoạt động kinh doanh
ii. X2 đo lường lợi nhuận giữ lại tích lũy qua thời gian, đồng thời chỉ số này cũng
phản ánh sự trưởng thành của công ty
iii. X3 thể hiện khả năng tồn tại và khả năng trả nợ của công ty dựa trên việc phản
ánh khả năng tạo ra lợi nhuận từ các tài sản của công ty
iv. X4 cho biết giá trị tài sản của công ty sụt giảm bao nhiều lần trước khi rơi vào
tình trạng mất khả năng thanh toán. Nếu X4 thấp hơn 1/3 thì xác suất công ty phá sản
là rất cao.
v. X5 đo lường khả năng quản trị của công ty để tạo ra doanh thu trước sức ép
cạnh tranh của các đối thủ khác. X5 thay đổi trên một khoảng rộng đối với các ngành
khác nhau và các quốc gia khác nhau
Từ chỉ số Z cơ bản này, Altman đã phát triển thêm mô hình Z’ và Z’’ để
có thể áp dụng chính xác với từng loại hình doanh nghiệp. Cụ thể:
Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hóa ngành sản xuất:
Z = 1.2X1 + 1.4X2 + 3.3X3 + 0.64X4 + 0.999X5
Nếu Z > 2.99: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn
Nếu 1.8 < Z < 2.99: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có nguy cơ phá sản
Nếu Z <1.8 : Nguy cơ phá sản cao
Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hóa ngành sản xuất:
Z’ = 0.717X1 + 0.847 X2 + 3.107X3 + 0.42X4 + 0.998X5
Nếu Z’ > 2.9: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn
Nếu 1.23 < Z’ < 2.9: doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh bảo, có nguy cơ phá sản
5.65 – 5.85 BBB-
5.25 – 5.65 BB+
4.95 – 5.25 BB
4.75 – 4.95 BB-
4.50 – 4.75 B+
4.15 – 4,50 B
Doanh nghiệp trong
vùng nguy hiểm, có
nguy cơ phá sản cao
3.75 – 4.15 B- Trái phiếu không
nên đầu tư
3.20 – 3.75 CCC+
2.50 – 3.20 CCC
1.75 – 2.50 CCC-
0 – 1.75 D
• Chỉ số Zeta
Zeta cũng là một chỉ số do Altman cải tiến từ chỉ số Z, có tính ứng dụng cao với
các công ty sản xuất hoặc bán lẻ. Mô hình này có 7 biến số cơ bản được sử dụng gồm:
i. X1
ii. X2 = Mức ổn định thu nhập
iii. X3
iv. X4
v. X5
vi. X6
vii. X7 = Quy mô tổng tài sản
1.1.3.2. Phương pháp chuyên gia:
Bên cạnh mô hình toán học, hầu hết hiện nay các tổ chức xếp hạng tín dụng đã
lựa chọn phương pháp chuyên gia là công cụ chính để đánh giá xếp hạng. Phương pháp
này kết hợp các thông tin định tính, các điều chỉnh chủ quan của chuyên gia phân tích
tín dụng với các tỷ số tài chính, dữ liệu tài khoản thanh toán của các công ty vay nợ.
• Nợ thuần = Nợ - tiền mặt và các khoản tương đương tiền
• Tỉ số bảo đảm lãi suất FFo (FFo interest coverage)
• Tỉ số đảm bảo chi phí cố định FFo (FFo fixed-charge coverage)
• Tỉ số đảm bảo trả nợ FCF (FCF debt-service coverage)
Các thước đo đòn bẩy:
• Tỉ số đòn bẩy điều chỉnh FFo (FFo adjusted leverage)
•
•
Các thước đo khả năng sinh lợi:
•
•
• Phương pháp xếp hạng tín nhiệm của S&P:
Tương tự như Fitch, S&P sử dụng phương pháp chuyên gia trong mô hình xếp
hạng tín dụng, trong đó tập trung nhiều vào phân tích dòng tiền và khả năng thanh toán
trong quá khứ. S&P tập trung chủ yếu và khả năng sinh lợi để đánh giá rủi ro kinh
doanh và năng lực cạnh tranh. Có một điểm khác biệt so với Fitch là tổ chức này không
phân loại dữ liệu theo tính chất mà phân loại theo rủi ro bao gồm rủi ro kinh doanh và
rủi ro tài chính.
Rủi ro kinh doanh gồm có rủi ro ngành, khả năng cạnh tranh, vị thế của doanh
nghiệp, lợi thế kinh tế và khả năng sinh lời so với các doanh nghiệp cùng ngành.
Rủi ro tài chính gồm phân tích chính sách tài chính, chính sách, thông tin kế
toán, khả năng đáp ứng dòng tiền, cấu trúc vốn và khả năng thanh toán ngắn hạn. Một
số tỷ số tài chính được S&P sử dụng chẳng hạn như:
•
•
•
•
•
• Dòng tiền trước thay đổi vốn lưu động (
•
nguyên tắc giải quyết các vấn đề của tổ chức xếp hạng tín dụng đã được các nhà quản
lí chứng khoán đồng ý, và như vậy, nó đại diện cho một quan điểm chung về pháp lí
liên quan đến hoạt động của các tổ chức xếp hạng tín dụng trên toàn khu vực.”( A
review of implementation of the IOSCO code of a conduct fundamental for CRAs,
2009, p.3)Các nguyên tắc này nhằm mục đích “ nâng cao chất lượng, tính toàn vẹn,
tính kịp thời và minh bạch của quá trình xếp hạng tín dụng” cũng như để “ giải quyết
các xung đột tiềm tàng về lợi ích”( 2008 IOSCO Code of conduct, 2009, p.8). Bộ luật
này được thực hiện theo mô hình “ thực hiện hoặc giải thích” ( comply or explain
model), tức là các tổ chức xếp hạng tín dụng có thể sử dụng các quy tắc này thành bộ
luật của họ, hoặc nếu không sử dụng, họ cần có một sự giải thích về sự sai khác giữa
các quy tắc của riêng mình với các quy tắc của IOSCO và sự sai khác này có sai phạm
với các quy tắc của IOSCO hay không? Nhìn chung, để giữ vững danh tiếng, các tổ
chức xếp hạng tín dụng thường chọn cách thống nhất các quy tắc của mình với các quy
tắc trên. Tuy nhiên trong trường hợp lựa chọn “ giải thích” ( explain) các tổ chức này
cũng không phải chịu các xử phạt quy phạm pháp luật nào. Bản quy tắc này của
IOSCO cũng bị đánh giá là còn khá “ trìu tượng và chung chung” ( EU Regulation,
explanatory memorandum, p.3), tạo điều kiện cho các tổ chức xếp hạng tín dụng tự do
trong việc thi hành đầy đủ các quy tắc này. Chính vì thế cũng đã có khá nhiều bài viết
liên quan tới khả năng giải quyết tính minh bạch và xung đột lợi ích trong bộ quy tắc
này.
Bên cạnh đó, liên quan đến các vấn đề trong mối quan hệ với người phát hành,
IOSCO cũng khuyến khích các tổ chức xếp hạng tín dụng tách bạch các hoạt động
đánh giá và các hoạt động phụ trợ khác, từ đó để có thể dễ dàng loại bỏ, quản lí hoặc
xem xét các xung đột về lợi ích có thể ảnh hưởng đến kết quả xếp hạng. Các nhà phân
tích tín dụng hoặc những người tham gia vào quá trình đánh giá sẽ không được trả
công trên cơ sở số tiền mà các tổ chức này nhận được từ nhà phát hành với kết quả
đánh giá đó, và không được tham gia vào quá trình định mức phí.
Còn trong hiệp ước Basel II, các tiêu chuẩn pháp lí được chỉ ra đối với các tổ
chức xếp hạng tín dụng bao gồm ba điều kiện chính.Đó là điều kiện về tính khách
quan, tính độc lập và tính minh bạch.
khoản, một Ngân hàng buộc phải vay “ nóng” với mức chi phí cao để chi trả cho những
yêu cầu về tiền mặt cấp bách và do vậy làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng. Ngoài ra,
các Ngân hàng sẽ phải bán các chứng khoán trước khi đến hạn làm giảm thu nhập trung
bình của mình bởi lẽ các chứng khoán có tính thanh khoản cao là những chứng khoán
có “ khả năng được mua và bán nhanh trên thị trường, ổn định giá cả, và rủi ro về tổn
thất vốn đầu tư thấp” ( Peter Rose,2002, tr.107 ). Chính vì vậy các nhà quản lí ngân
hàng đang phải đối mặt với sự đánh đổi giữa khả năng sinh lợi và vấn đề thanh khoản
hợp lí của mỗi Ngân hàng.
Cũng đề cập tới vấn đề thanh khoản, Rudolf Duttweiler( 2008) định nghĩa
thanh khoản không phải một số tiền nào đó hay một tỷ lệ nào đó, mà nó thể hiện phạm
vi khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán của một Ngân hàng. Như vậy, thiếu khả
năng thanh khoán nghĩa là Ngân hàng bị hạn chế trong việc thực hiện các nghĩa vụ
thanh toán, và đối mặt với rủi ro thanh khoản là Ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ
không thể thực hiện các nghĩa vụ thanh toán, theo đó việc không thể thực hiện này sẽ
kéo theo những hậu quả không mong muốn. ( Durweiler,2008, tr 30). Tác giả cũng chia
rủi ro thanh khoản theo đặc tính của các nguồn thanh khoản bao gồm: tính sẵn có, cơ
cấu đáo hạn, cấu trúc chi phí và rủi ro thanh khoản.
1.2.1.2. Đo lường trạng thái thanh khoản của Ngân hàng:
Có nhiều phương pháp được sử dụng để đo lường trạng thái thanh khoản của
Ngân hàng. Sau đây là một số các phương pháp điển hình thường được sử dụng trong
các ngân hàng thương mại:
i. Nguồn và sử dụng thanh khoản: Trạng thái thanh khoản ròng được xác
định bằng chênh lệch giữa luồng tiền tạo ra nguồn thanh khoản và số tiền Ngân hàng
đã sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
Nguồn thanh khoản cơ bản của một Ngân hàng thường gồm các tài sản có coi
như tiền có tính thanh khoản cao, rủi ro giá cả và chi phí giao dịch thấp như trái phiếu,
tín phiếu kho bạc , số tiền mà Ngân hàng có thể đi vay trên thị trường tiền tệ còn được
gọi là năng lực đi vay tối đa, các khoản tiền nằm tại quỹ Ngân hàng và nằm trên tài
khoản của NH TƯ vượt quá mức dự trữ bắt buộc theo quy định của NHTƯ được gọi là
dự trữ vượt mức.
Dự trữ thanh khoản vốn = 0.95 ( Nguồn vốn nóng – dự trữ bắt buộc)
+ 0.3 ( nguồn vốn kém ổn định - dự trữ bắt buộc) + 0.15 ( Nguồn vốn
ổn định - dự trữ bắt buộc)
Sau khi xác định được tổng dự trữ thanh khoản của Ngân hàng, các
ngân hàng sẽ dự tính nhu cầu vay tối đa và dự trữ thanh khoản cho
các khoản vay chất lượng tốt, thông thường được tính bằng 100%
chênh lêch giữa tổng cho vay tối đa tiềm năng và dư nợ thực tế hiện
tại. Khi đó tổng nhu cầu thanh khoản của ngân hàng được xác định
bằng tổng nhu cầu dự trữ thanh khoản vốn và nhu cầu thanh khoản
cho vay.
Dự trữ thanh khoản cho vay = Quy mô cho vay tối đa – Tổng dư nợ
hiện tại
Tổng dự trữ thanh khoản = Dự trữ thanh khoản vốn + Dự trữ thanh
khoản cho vay
Tổng dự trữ thanh khoản= 0.95 ( Nguồn vốn nóng – Dự trữ bắt
buộc) + 0.3 ( nguồn vốn kém ổn định – dự trữ bắt buộc) + 0.15
( nguồn vốn ổn định – dự trữ bắt buộc) + 1.00 ( Quy mô cho vay tối
đa – tổng dư nợ hiện tại)
v. Phương pháp chỉ số tài chính:
• Chỉ số trạng thái tiền mặt ( cash position indicator ): chỉ số càng cao,
ngân hàng càng có khả năng đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời
• Chỉ số chứng khoán thanh khoản ( liquidity securities indicator) : chỉ số
này càng cao, ngân hàng càng có tính thanh khoản cao
• Chỉ số năng lực cho vay ( capital ratio) : chỉ số này càng lớn thì càng bộc
lộ sự kém thanh khoản
• Chỉ số tiền nóng ( hot money ratio): được tính toán dựa trên các loại tài
sản nhạy cảm với lãi suất nên chỉ tiêu này càng cao thì Ngân hàng càng
được xem là thanh khoản
• Chỉ số tiền gửi thường xuyên ( core deposit ratio): chỉ số này càng cao
Ngân hàng càng được đánh giá là thanh khoản
tín dụng lãi suất thấp.Điều này dẫn đến những thay đổi trong nhu cầu gửi tiền và vay
vốn và cả hai điều này đều gây ra những tác động lớn ảnh hưởng tới trạng thái thanh
khoản của Ngân hàng.
Bên cạnh đó, sự thay đổi của lãi suất có thể kéo theo sự thay đổi của thị giá của
các tài sản mà Ngân hàng có thể đem bán để tăng thanh khoản và trực tiếp làm tăng chi
phí đi vay trên thị trường tiền tệ.
1.2.2.3. Chính sách của Ngân hàng Trung ương:
Chức năng của NHTƯ là thực hiện các chính sách tiền tệ với ba công cụ bao
gồm nghiệp vụ thị trường mở, quy định về dự trữ bắt buộc và áp dụng lãi suất chiết
khấu và tái chiết khấu các giấy tờ có giá của NHTM.
Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động mua bán giữa NHTƯ và các NHTM các
giấy tờ có giá như trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc Nhà nước, trái phiếu của
chính NHTƯ. Khi muốn tăng cung tiền trên thị trường, NHTƯ tiến hành mua các trái
phiếu từ NHTM, điều này đồng thời làm tăng cung thanh khoản của các Ngân hàng.
Ngược lại, cung thanh khoản của NHTM cũng bị giảm khi NHTƯ tiến hành bán trái
phiếu cho các Ngân hàng với mục đích giảm cung tiền của nền kinh tế.
Công cụ thứ hai là quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tức là việc các Ngân hàng
phải duy trì một tỷ lệ dự trữ tiền gửi tối thiểu tại NHTƯ.Tỷ lệ này cao đồng nghĩa với
việc cung thanh khoản của các Ngân hàng cao và ngược lại.
Cuối cùng, việc áp dụng lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu là việc NHTƯ quy
định mức lãi suất khi thực hiện chiết khấu hoặc tái chiết khấu các giấy tờ có giá từ các
Ngân hàng.Chi phí vay tiền từ NHTƯ được xem là thấp nếu lãi suất này ở mức thấp,
điều này sẽ giúp các Ngân hàng dễ dàng huy động để đáp ứng cầu về thanh khoản.
1.2.2.4. Khủng hoảng nợ và ảnh hưởng đến Ngân hàng
Đã có nhiều nghiên cứu lí thuyết tập trung vào mối liên hệ tiềm tàng giữa khủng
hoảng nợ và một cuộc khủng hoảng ngân hàng, từ đó dự báo khả năng xảy ra khủng
hoảng kép.Bởi lẽ bất kì một sự thay đổi tiêu cực nào trên thị trường tài chính cũng có
thể gây nên tổn thất cho các khoản đầu tư tài chính, và có thể dẫn đến vấn đề về thanh
khoản, thậm chí là phá sản. Trong một nghiên cứu của mình, Flood và Graber đã đưa ra
mô hình giải thích mang tính lí thuyết về sự xuất hiện của một cuộc khủng hoảng tiền
nhận một khoản lỗ từ cơ hội đầu tư này, và tiềm ẩn nguy cơ bị cô lập trên thị trường
vốn do những bất ổn về kinh doanh.
Thực tiễn, các tổ chức xếp hạng tín dụng vẫn giữ mức A cho Ngân hàng
Lehmon Brother chỉ một tháng trước khi sụp đổ. Hay trong thời gian diễn ra khủng
hoảng nợ dưới chuẩn, khi các chứng khoán hóa đảm bảo bằng nghĩa vụ thế chấp dưới
chuẩn được xếp hạng AAA đã kéo theo việc các Ngân hàng ồ ạt đầu tư và phát hành
chứng khoán hóa, đẫn đến hậu quả phải đối mặt với việc mất khả năng thanh khoản
một khi giá trị chứng khoán bị sụt giảm, thua lỗ nặng nề trong kênh đầu tư chứng
khoán hóa, các kênh huy động vốn đóng băng, người gửi tiền ồ ạt đến rút tiền, ngân
hàng trở nên mất khả năng chi trả và cuối cùng là sự phá sản trên toàn hệ thống.
Mặc dù các tổ chức xếp hạng tín dụng không phải là nhân tố trực tiếp gây ra vấn
đề căng thẳng thanh khoản ở Ngân hàng, nhưng một cách gián tiếp các động thái của
họ lại có những ảnh hưởng nhất định đối với Ngân hàng nói chung và vấn đề quản lí
thanh khoản nói riêng.Người viết xin đưa ra một số quan điểm được xem như mối liên
hệ giữa khủng hoảng thanh khoản Ngân hàng và vai trò của tổ chức xếp hạng tín dụng.
Thứ nhất, đó là vai trò các tổ chức xếp hạng tín dụng trong mô hình kinh doanh
của Ngân hàng. Với sự ra đời của các sản phẩm chứng khoán hóa hay còn gọi là các
sản phẩm tài chính cấu trúc, và việc thị trường chứng khoán phát triển mạnh mẽ, mô
hình kinh doanh “ cho vay và phân phối” đã được áp dụng rộng rãi trên hệ thống Ngân
hàng. Không giống như các khoản vay điển hình truyền thống hoặc việc phát hành trái
phiếu, các sản phẩm này là sự kết hợp của một loạt các khoản vay có đặc tính tương tự
nhau được “ đóng gói” tạo thành một nhóm, được xếp hạng tín dụng dựa trên việc xác
định tỉ lệ lãi suất; hoặc giá trên chất lượng của các khoản vay; hoặc chất lượng của các
tài sản chứa trong nhóm đó. Vấn đề được đặt ra ở đây là các sản phẩm chứng khoán
hóa chỉ được phát hành và giao dịch thuận lợi nếu chúng được xếp hạng tín dụng.
Chính vì thế chỉ một sai sót trong việc xếp hạng cũng có thể dẫn đến những kết quả
khác nhau của hoạt động đầu tư chứng khoán hóa tại các Ngân hàng, nhất là các Ngân
hàng có yêu cầu vốn phụ thuộc vào đánh giá của tài sản cấu trúc mà họ nắm giữ. Mặt
khác, đối với các nhà đầu tư, các chi phí đắt đỏ để quản lí rủi ro cộng với hệ thống
nhân viên chuyên môn không đầy đủ, nhiều nhà đầu tư đã dựa vào kết quả xếp hạng