1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẶNG HỒNG MẠNH
VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC DỰA VÀO CỘNG
ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG
HIV/AIDS TẠI BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH XÃ HỘI HỌC
HIV/AIDS TẠI BẮC KẠN Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Phạm Văn Quyết
Hà Nội - 2013
4
MỤC LỤC
1.2.1. Lý thuyết vai trò xã hội
21
1.2.2. Lý thuyết phát triển cộng đồng
24
1.2.3. Áp dụng các văn bản pháp luật liên quan đến vai trò của các tổ chức
xã hội
25 5
1.3. Những khái niệm công cụ
29
1.3.1. Khái niệm tổ chức xã hội
29
1.3.2. Khái niệm cộng đồng
30
1.3.3. Khái niệm CBO
32
1.3.4. Thao tác hóa khái niệm vai trò của các CBO
32
1.3.5. Khái niệm người sống chung với HIV/AIDS/người có H
33
1.3.6. Khái niệm người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS/trẻ OVC
33
1.3.7. Khái niệm người có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao
33
1.4. Tổng quan các nghiên cứu về vai trò của các tổ chức xã hội dân sự và
tổ chức dựa vào cộng đồng
34
1.4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
46
2.2.1. Các hoạt động chính trong phòng, chống HIV/AIDS
46
2.2.2. Hiệu quả hoạt động của tổ chức dựa vào cộng đồng
62
2.2.3. Tác động của tổ chức dựa vào cộng đồng đối với người có H và
người bị ảnh hưởng bởi HIV tại cộng đồng
74
2.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và vai trò của các
CBO tại Bắc Kạn
75
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
80
1. Kết luận
80
2. Khuyến nghị và giải pháp
81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
83
PHỤ LỤC
88
6
VCT
Cơ sở/Trung tâm xét nghiệm HIV tự nguyện
7
STDs
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục
8
STIs
Các bệnh nhiễm trùng đường sinh sản
9
ARV
Thuốc kháng vi rút HIV
10
CBO
Tổ chức dựa vào cộng đồng
8
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1
Số NCH được tiếp cận và tham gia vào các CBO NCH đến hết tháng
12 năm 2012
Bảng 2.2
Số PSP được tiếp cận, tham gia vào các CBO PSP năm 2012 9
DANH MỤC BIỂU
Biểu 2.1
Số NCH và PSP tham gia vào các CBO năm 2012.
Biểu 2.2
Số NCH và trẻ OVC nhận được các dịch chăm sóc, hỗ trợ tại nhà do
các CBO NCH thực hiện năm 2012
Biểu 2.3
Số PSP nhận được dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV do các CBO
PSP thực hiện năm 2012
Biểu 2.4
Số người dân cộng đồng nâng cao nhận thức về phòng chống
HIV/AIDS thông qua các các buổi truyền thông tại cộng đồng do
CBO tổ chức năm 2012
Biểu 2.5
Số thành viên được nâng cao nhận thức về phòng chống HIV/AIDS
thông qua các các buổi nói chuyện chuyên đề do CBO tổ chức năm
2012
Biểu 2.6
Số thành viên được nâng cao nhận thức về phòng chống HIV/AIDS
thông qua các các buổi sinh hoạt nhóm nhỏ do CBO tổ chức năm
2012
lớn (từ 15-49 tuổi). Khu vực cận Sahara của châu Phi vẫn là nơi bị HIV/AIDS tấn
công nặng nề nhất, gần như cứ trong 20 người lớn (độ tuổi từ 15-49) trong khu vực
này lại có 01 người nhiễm HIV/AIDS đang còn sống (4,9%). Hiện khu vực này
chiếm 69% tổng số người nhiễm HIV/AIDS còn sống của thế giới. Mặc dù tỷ lệ
hiện nhiễm HIV/AIDS ở khu vực cận Sahara châu Phi cao gấp 25 lần so với tỷ lệ
này ở châu Á, nhưng tổng số người nhiễm HIV đang sống ở châu Á (bao gồm Nam
Á, Đông Nam Á và Đông Á) lên tới con số 5 triệu. Sau Cận Sahara của châu Phi
(nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất) là vùng Caribê, Đông Âu và Trung Á - những khu
vực đang có khoảng 1,0% số người lớn đang mang trong mình HIV [33]. Theo
nhận định của Liên hiệp quốc trong Tuyên bố Chính trị về HIV/AIDS – tháng 6
năm 2011, HIV/AIDS vẫn đang tiếp tục lây lan, tạo ra tình trạng khẩn cấp trên
phạm vi toàn cầu và là một trong những thách thức lớn nhất đối với sự tiến bộ, phát 11
triển và ổn định xã hội trên toàn thế giới Đại dịch HIV/AIDS hiện vẫn đang là một
thảm họa chưa từng có của loài người. HIV không chỉ gây ra nỗi thống khổ to lớn
cho các cá nhân, gia đình, cộng đồng mà còn tác động trực tiếp đến sự phát triển
đến phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội của mỗi quốc gia trên khắp
hành tinh với hơn 7.000 người nhiễm mới mỗi ngày, hơn 30 triệu người đã chết do
AIDS, hơn 34 triệu người nhiễm HIV/AIDS đang còn sống và hơn 16 triệu trẻ em
dưới 15 tuổi mồ côi do AIDS [21, tr.2]. Do vậy phòng, chống HIV/AIDS đã, đang
và tiếp tục là nhiệm vụ quan trọng, thướng xuyên, đồng thời là lương tâm trách
nhiệm của mỗi con người đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại.
Kể từ ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện ở Việt Nam năm 1990 đến nay,
số lượng người nhiễm HIV được báo cáo lại đã tăng nhanh chóng. Theo số liệu báo
cáo của Bộ Y tế đến tháng 6 năm 2012 tổng số trường hợp nhiễm HIV hiện đang
còn sống là 204.019 người. Trong đó, tổng số bệnh nhân AIDS hiện đang còn sống
là 58,569 người, tổng số người nhiễm HIV đã tử vong từ trước đến nay là 61.856
người. [5, tr1]
xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; (iv) Tỷ lệ tiếp cận điều trị bằng thuốc đặc hiệu
kháng vi rút HIV, dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con mới chỉ đạt 40-50% nhu
cầu [35, tr5].
Xuất phát từ nhận định, đánh giá về tình hình, ý nghĩa và tầm quan trọng của
công tác phòng, chống HIV/AIDS đồng thời xác định được những nguy cơ và hậu
quả của đại dịch HIV/AIDS là mối đe dọa đối với tính mạng, sức khỏe con người và
tương lai nòi giống của quốc gia, dân tộc, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh
tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước.
Ngày 5/6/2000, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định Về việc thành lập Ủy ban
Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm. Ủy ban
Quốc gia phòng, chốngAIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm là tổ chức
liên ngành, có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ trong việc chỉ đạo, phối hợp
công tác phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm bao gồm 15
các bộ, ngành cụ thể là: 1. Bộ Công an; 2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; 3.
Bộ Y tế; 4. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; 5. Bộ Văn hóa - Thông tin; 6. Bộ Giáo dục
và Đào tạo; 7. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; 8. Ủy ban Dân tộc và Miền 13
núi; 9. Tổng cục Hải quan; 10. Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng; 11. Bộ Tài chính;
12. Bộ Kế hoạch và Đầu tư; 13. Bộ Tư pháp; 14. Văn phòng Chính phủ; 15. Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
Tất cả các bộ ngành Trung ương đến các tỉnh, huyện/thị xã và các cấp xã đều phải
thành lập Ủy ban phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm
nhằm đối phó với những nguy cơ và hậu quả của đại dịch HIV/AIDS gây ra.
Mặc dù dịch HIV có xu hướng chững lại, không tăng nhanh như những năm
trước đây, số người nhiễm HIV/AIDS mới phát hiện đã giảm liên tục 3 năm gần
đây, phần lớn người nhiễm HIV mới phát hiện chủ yếu tập trung trong nhóm nguy
cơ cao nhưng về cơ bản Việt Nam vẫn chưa khống chế được dịch HIV. Số lượng
người nhiễm HIV không phải chỉ là trách nhiệm của ngành Y tế mà còn là trách
nhiệm của tất cả các ban ngành đoàn thể và người dân trong cộng đồng.
Nghiên cứu về “Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động
phòng, chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn” góp phần đưa ra một bức tranh về thực trạng
của các CBO cũng như những đóng góp của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong
hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn. Từ đó, nghiên cứu đưa ra một
số kết luận và khuyến nghị nhằm giúp các nhà quản lý có thể quản lý và hỗ trợ phát
huy những mặt tích cực của các tổ chức dựa vào cộng đồng tại địa phương góp phần
vào sự phát triển của xã hội.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng,
chống HIV/AIDS tại địa bản tỉnh Bắc Kạn.
Chỉ ra những thuận lợi và khó khăn của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong
hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
Đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động của các CBO
trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn. 15
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu tìm hiểu sự hình thành, mục đích hoạt động, hình thức, cơ cấu tổ
chức, hoạt động, vai trò và việc thực hiện vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng
tại tỉnh Bắc Kạn cũng như những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động phòng,
chống HIV/AIDS. Tìm hiểu các giải pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả của
các tổ chức dựa vào cộng đồng tại tỉnh Bắc Kạn
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu và mẫu nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống
HIV/AIDS tại Bắc Kạn.
tính của người sống chung với HIV và người tiêm chích ma túy. 10 tổ chức dựa vào
cộng đồng được lựa chọn tại Bắc Kạn được thành lập từ giai đoạn tháng 7/2007 đến
tháng 3/2012. Cụ thể như sau:
1. Nhóm tự lực Hy Vọng thị xã Bắc Kạn được thành lập tháng từ tháng 7 năm
2007 – Nhóm tự lực của những người sống chung với HIV gồm 45 thành
viên sống tại địa bàn Thị xã Bắc Kạn thường xuyên tham gia sinh hoạt tại
nhóm.
2. Nhóm tự lực Ban Mai Xanh thị xã Bắc Kạn được thành lập từ tháng 3/2011
là nhóm tự lực của những người bạn tình âm tính của NCH và người tiêm
chích ma túy gồm 35 thành viên sống tại địa bàn thị xã Bắc Kạn thường
xuyên tham gia sinh hoạt tại nhóm.
3. Nhóm tự lực Niềm Tin được thành lập tháng từ tháng 3 năm 2011 dưới sự
bảo trợ của Ủy ban nhân dân phường Nguyễn Thị Minh Khai là nhóm tự lực
của những người sống chung với HIV gồm 30 thành viên sống tại địa bàn
thuộc phường Nguyễn Thị Minh Khai - Thị xã Bắc Kạn thường xuyên tham
gia sinh hoạt tại nhóm. 17
4. Nhóm tự lực Hoa Hướng Dương được thành lập tháng 11/2011 dưới sự bảo
trợ của Ủy ban nhân dân phường Nguyễn Thị Minh Khai là nhóm tự lực của
những người bạn tình âm tính của NCH và người tiêm chích ma túy gồm 30
thành viên sống tại địa bàn phường Nguyễn Thị Minh Khai - Thị xã Bắc Kạn
thường xuyên tham gia sinh hoạt tại nhóm.
5. Nhóm tự lực Hy Vọng huyện Chợ Mới được thành lập tháng 8 năm 2010 –
Nhóm tự lực của những người sống chung với HIV gồm 30 thành viên sống
tại địa bàn huyện Chợ Mới thường xuyên tham gia sinh hoạt tại nhóm.
6. Nhóm tự lực Ban Mai Xanh huyện Chợ Mới được thành lập từ tháng 11 năm
2011 – Nhóm tự lực của những người bạn tình âm tính của NCH và người
tiêm chích ma túy gồm 35 thành viên sống tại địa bàn thị xã Bắc Kạn thường
tài “Vài trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống
HIV/AIDS tại Bắc Kạn”. Trongluận văn này, tác giả sử dụng phương pháp phân
tích tài liệu để có một cơ sở vững chắc nhằm tiếp cận và tìm hiểu về tổ chức dựa
vào cộng đồng và vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng dưới góc độ nghiên
cứu của khoa học xã hội học. Các tài liệu bao gồm:
Số liệu thống kê của Bộ y tế về tình hình HIV/AIDS trong cả nước và địa
bàn tỉnh Bắc Kạn.
Báo cáo của Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS (TTPC HIV/AIDS) tỉnh
Bắc Kạn năm 2011 và năm 2012 về tình hình dịch HIV/AIDS và các hoạt động
phòng, chống HIV/AIDS tại địa phương.
Kế hoạch công tác phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Bắc Kạn năm 2011 và 2012
của TTPC HIV/AIDS tỉnh Bắc Kạn.
Báo cáo hoạt động của 10 tổ chức dựa vào cộng đồng là nhóm Hy Vọng thị
xã Bắc Kạn, Hy Vọng Chợ Mới, Hy Vọng Bạch Thông, Hy Vọng Chợ Đồn, Hy
Vọng Ba Bể, Niềm Tin phường Nguyễn Thị Minh Khai thị xã Bắc Kạn, Ban Mai 19
Xanh thị xã Bắc Kạn, Ban Mai Xanh Chợ Mới, Ban Mai Xanh Bạch Thông, Hoa
Hướng Dương phường Nguyễn Thị Minh Khai thị xã Bắc Kạn năm 2011 và 2012.
Các báo cáo nghiên cứu lên quan đến các CBO như : Báo cáo nghiên cứu về
“Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong việc hỗ trợ khả năng chi trả phí
dịch vụ về chăm sóc, điều trị cho người có H (NCH) tại thành phố Hồ Chí Minh và
Đồng Nai” do Mạng lưới NCH các tỉnh phía Nam thực hiện tháng 8 năm 2012.
Báo cáo “Khảo sát nhu cầu đào tạo của các tổ chức xã hội dân sự - phát triển tổ
chức và huy động sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng chính sách ở Việt
Nam” do quỹ Châu Á thực hiện tháng 11 năm 2008.
Tài liệu và báo cáo từ dự án: “Tiểu dự án thành phần Trung tâm Nghiên cứu
Sức khỏe Cộng đồng và Phát triển (COHED) trực thuộc Hợp phần dự án Liên hiệp
các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) – Dự án Quỹ toàn cầu phòng, chống
– CT/TƯ, ngày 11/3/1995 về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
phòng, chống HIV/AIDS. Chỉ thị số: 54 – CT/TƯ, từ ngày 30/11/2005 của Ban Bí
thư TƯ Đảng về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống
AIDS trong tình hình mới. Pháp lệnh phòng, chống HIV/AIDS của Uỷ ban
Thườngvụ Quốc hội (ngày 31/5/1995)
5.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Mục đích của phương pháp phỏng vấn sâu chủ yếu nhằm tìm hiểu vai trò và
việc thực hiện vai trò của các CBO trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.
Đối tượng phỏng vấn sâu: Gồm 17 người đại diện cho các CBO, đại diện cơ
quan quản lý chuyên môn về phòng, chống HIV/AIDS, cơ quan chính quyền địa
phương, người được hưởng lợi từ các CBO bao gồm người người nhiễm và bị ảnh
hưởng bơi HIV/AIDS. Cơ cấu mẫu phỏng vấn như sau:
4 đại diện của các tổ chức dựa vào cộng đồng (3 tổ chức của người sống chung
với HIV, 1 tổ chức của người bị ảnh hưởng bởi HIV)
01 đại diện cán bộ TTPC HIV/AIDS tỉnh Bắc Kạn – Cơ quan quản lý và thực
hiện các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn. 21
01 đại diện cho lãnh đạo UBND phường, xã – Cơ quan quản lý và cho phép các
tổ chức dựa vào cộng đồng hoạt động tại địa bàn.
01 cán bộ y tế cơ sở (Trạm y tế xã, phường) thường xuyên phối hợp thực hiện
các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS với các tổ chức dựa vào cộng đồng.
05 người sống chung với HIV được hưởng lợi từ các tổ chức dựa vào cộng đồng.
05 người bị ảnh hưởng bởi HIV được hưởng lợi từ các tổ chức dựa vào cộng
đồng (vợ, chồng, bố, mẹ, con cái, anh chị em trong gia đình hoặc hàng xóm của
người sống chung với HIV/AIDS).
5.3. Phương pháp phát phiếu khảo sát thông tin về tổ chức
10 phiếu khảo sát thông tin về tổ chức đã được gửi cho lãnh đạo của 10 CBO tại 5
huyện của tỉnh Bắc Kạn nhằm tìm hiểu về vai trò của các CBO trong hoạt động phòng,
Kạn?
Câu hỏi 2: Những khó khăn của các tổ chức dựa vào cộng đồng thường gặp phải là
gì? Nguyên nhân của những khó khăn đó và phương hướng để giải quyết những khó
khăn đó như thế nào?
23
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Vận dụng quan điểm phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, xã hội học Maxist là lý luận cơ sở của đề tài
Báo cáo này sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử làm nền tảng cho toàn bộ quá trình nghiên cứu về vấn đề:
“Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống
HIV/AIDS”.
Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử “Là thế giới quan của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa duy vật biện chứng
giải thích các hiện tượng và quá trình xã hội trong mối quan hệ qua lại, trong sự vận
động và biến đổi không ngừng. Chủ nghĩa duy vật lịch sử là sự mở rộng những
nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào việc nghiên cứu cuộc sống của xã
hội, sự áp dụng những nguyên lý ấy vào việc nghiên cứu xã hội, cũng như nghiên
cứu các hình thức sinh hoạt xã hội ”[40].
Chính vì vậy, khi xem xét và đánh giá vấn đề “Vai trò của các tổ chức dựa
vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn” tác giả
xét nó trong mối quan hệ với các nhân tố chủ quan và khách quan khác như: Đặc
điểm của các tổ chức dựa vào cộng đồng tại tỉnh Bắc Kạn, các chính sách của tỉnh
Bắc Kạn đối với hoạt động của các tổ chức dựa vào cộng đồng, tình hình dịch
HIV/AIDS trong cả nước cũng như tại tỉnh Bắc Kạn.
Từ điển xã hội học đã định nghĩa “vai trò xã hội là tập hợp những hành vi,
thái độ, quyền lợi và sự bắt buộc mà xã hội mong đợi đối với một vị thế nhất định
và sự thực hiện của cá nhân đối với vị thế đó’’ [18, tr 1360].
Định nghĩa này cho thấy, khi nói đến vai trò xã hội của cá nhân người ta
không thể không nhắc đến địa vị xã hội hay vị thế xã hội của cá nhân, tổ chức đó. 25
Vai trò và địa vị không tách rời nhau, không thể có vai trò mà không có địa vị và
ngược lại. Địa vị xã hội của một cá nhân được hiểu đơn thuần chính là sự khác biệt
về vị trí xã hội trong một cơ cấu xã hội. Sự khác biệt đó được so sánh dựa trên một
số đặc điểm hoặc phẩm chất được cho là có ý nghĩa trong xã hội đó. Mặt khác, một
địa vị xã hội luôn được gắn với quan hệ với người khác. Sự xếp đặt địa vị bắt nguồn
từ những quan điểm của người khác. Quan điểm này được dựa trên một hệ thống
giá trị của cộng đồng.
Khi nói đến vai trò xã hội của một cá nhân là nói đến những đòi hỏi của xã
hội đặt ra với các địa vị xã hội cá nhân đó đang nắm giữ. Mỗi cá nhân có một loạt
các vai trò tương ứng với những “hình mẫu xã hội ” khác nhau mà họ tham gia, tạo
thành một tập hợp vai trò. Để cá nhân có thể thực hiện tốt vai trò của mình thì chuẩn
mực do xã hội đề ra phải rõ ràng. Mặt khác, cá nhân đó phải học hỏi về các vai trò
trong quá trình xã hội hóa, tức là phải học hỏi về các yêu cầu, đòi hỏi mà họ cần
phải thực hiện khi họ tiếp nhận một vị thế xã hội và việc thực hiện vai trò của cá
nhân cũng phải phù hợp với nhau. Sự chênh lệch đó chính là nguyên nhân tiềm ẩn
của những xung đột về vai trò.
Khi một cá nhân mang nhiều vị thế xã hội thì sẽ phải thực hiện nhiều vai trò.
Tuy vậy, cá nhân hay tổ chức không thể nhầm lẫn trong việc thực hiện vai trò tương
quan với vị thế xã hội của mình từng thời điểm. Khi cá nhân tham gia nhiều nhóm
xã hội khác nhau họ phải đáp ứng những mong đợi của nhóm đó.
Các nhà lý thuyết vai trò cho rằng vai trò xã hội (role sociale) của con người
càng lúc càng trở nên đa dạng hơn. Lý do là trong xã hội hiện đại, mối quan hệ của
Vai trò của các CBO cũng tương tự như vai trò cá nhân trong hệ thống xã
hội. Vai trò của các CBO tại tỉnh Bắc Kạn được thể hiện thông qua các hoạt động
phòng, chống HIV/AIDS. Vai trò của các CBO tại tỉnh Bắc Kạn phụ thuộc vào nhu
cầu của những NCH, những người bị ảnh hưởng bởi HIV, đồng thời phụ thuộc vào
điều kiện môi trường kinh tế chính trị xã hội nơi tổ chức đó được sinh ra mà ở đây