BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN THỊ MINH HIỀN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI
THƯỜNG XUYÊN CỦA CÁC ĐƠN VỊ
THUỘC NGÀNH NÔNG NGHIỆP TẠI
KHO BẠC NHÀ NƯỚC KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Khánh Hòa - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
khác.
Học Viên
NGUYỄN THỊ MINH HIỀN
ii
iii MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHI TIÊU CÔNG VÀ KIỂM SOÁT CHI
TIÊU CÔNG 7
1.1. Chi tiêu công và quản lý chi tiêu công 7
1.1.1. Khái niệm 7
1.1.2. Phân loại chi tiêu công 8
1.1.3. Vai trò của chi tiêu công 9
1.1.4. Quản lý chi tiêu công 9
1.2. Chi thường xuyên 12
1.2.1. Khái niệm 12
1.2.4. Kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc Nhà nước đối với cơ quan hành
chính và đơn vị sự nghiệp 16
1.2.4.1. Nguyên tắc cơ bản trong kiểm soát chi thường xuyên đối với cơ quan
hành chính và đơn vị sự nghiệp 16
1.2.4.2. Nội dung kiểm soát chi thường xuyên đối với cơ quan hành chính và đơn
vị sự nghiệp 16
a. Điều kiện chi ngân sách 16
b. Kiểm soát, thanh toán 18
c. Nội dung kiểm soát, thanh toán đối với một số khoản chi chủ yếu 19
c. Trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan, đơn vị trong quản lý, cấp phát các
Nhà nước Khánh Hòa trong thời gian qua 49
2.3. Phân tích thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc Nhà
nước đối với các đơn vị trong ngành Nông nghiệp thuộc tỉnh Khánh Hòa trong thời
gian qua 52
2.3.1. Đặc điểm phát triển của ngành Nông nghiệp ảnh hưởng đến công tác kiểm
soát chi của kho bạc 52
2.3.2. Qui trình giao dịch trong kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước
đối với các đơn vị trong ngành Nông nghiệp qua Kho bạc Nhà nước Khánh Hòa
54
v 2.2.3. Tình hình kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước ngành Nông
nghiệp qua Kho bạc Nhà nước Khánh Hòa trong thời gian qua 59
2.3.4. Kết quả khảo sát sự hài lòng của các đơn vị sử dụng ngân sách ngành Nông
nghiệp tại Kho bạc Nhà nước Khánh Hòa 64
2.4. Đánh giá chung về công tác kiểm soát chi thường xuyên các đơn vị trong ngành
Nông nghiệp qua Kho bạc Nhà nước Khánh Hòa 69
2.4.1. Những kết quả đạt được 69
2.4.2. Những hạn chế 69
2.4.3. Nguyên nhân 70
2.4.3.1. Nguyên nhân khách quan 70
2.4.3.2. Nguyên nhân chủ quan 70
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI
THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG NGÀNH NÔNG NGHIỆP
TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC KHÁNH HÒA 72
3.1. Quan điểm quản lý chi tiêu công của Nhà nước và ngành Kho bạc 72
- Mục tiêu 72
3.2. Các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà
nước trong ngành Nông nghiệp tại KBNN Khánh Hòa 72
MTQG: Mục tiêu quốc gia
KBNN: Kho bạc Nhà nước
PTNT: Phát triển nông thôn
NSNN: Ngân sách Nhà nước
TKTG: Tài khoản tiền gửi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy Kho bạc Nhà nước Khánh Hòa 39
Sơ đồ 2.2: Qui trình ‘’một cửa’’ kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Khánh
Hòa 54
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà đổi mới và phát triển mạnh mẽ nhằm xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu tăng trưởng
nhanh, ổn định và bền vững, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Cùng với xu thế đó, lĩnh vực tài chính, ngân sách đã và đang tiến hành đổi
mới một cách sâu sắc và toàn diện không chỉ với nhiệm vụ tạo lập, tăng cường khai
thác các nguồn lực, thúc đẩy và duy trì tăng trưởng kinh tế mà còn có nhiệm vụ động
viên, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, mọi tiềm năng của đất nước.
Ngân sách Nhà nước là bộ phận cấu thành quan trọng nhất của Tài chính công,
nó giữ vị trí chủ đạo, chi phối và quyết định tới tất cả các bộ phận khác của Tài chính
công. Những năm gần đây, công tác quản lý Ngân sách Nhà nước đã có những chuyển
biến quan trọng như: thu Ngân sách Nhà nước không những đáp ứng đủ nhu cầu chi
thường xuyên mà bước đầu đã có tích lũy cho đầu tư phát triển; bội chi Ngân sách
giảm dần, cơ cấu Ngân sách từng bước được thay đổi theo chiều hướng tích cực; công
tác lập, duyệt và phân bổ dự toán đã dần đi vào nề nếp…góp phần thực hiện có hiệu
quả các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước. Tuy nhiên, việc
quản lý Ngân sách Nhà nước, đặc biệt là quản lý chi Ngân sách Nhà nước hiện vẫn còn
nhiều hạn chế, bất cập làm ảnh hưởng tới hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước. Tình
hệ thống Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ tài chính. Với chức năng quản lý Nhà nước
về quỹ Ngân sách Nhà nước, Kho bạc Nhà nước có nhiệm vụ quản lý, kiểm soát các
khoản chi Ngân sách Nhà nước. Kho bạc Nhà nước là khâu cuối cùng trong hệ thống
các cơ quan quản lý Ngân sách Nhà nước có trách nhiệm kiểm soát trước khi chi tiền
Ngân sách Nhà nước được thanh toán, chi trả cho các đối tượng thụ hưởng.
Xuất phát từ lý do như trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: ‘’Hoàn thiện công tác
kiểm soát chi thường xuyên các đơn vị thuộc ngành Nông nghiệp tại Kho bạc Nhà
nước Khánh Hòa’’ để làm luận văn thạc sỹ cho mình. Thông qua nghiên cứu, góp
phần tìm kiếm các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý trong công tác kiểm soát chi
thường xuyên đối với ngành Nông nghiệp tại địa phương, góp phần quan trọng để thúc
đẩy ngành Nông nghiệp Khánh Hòa phát triển vững chắc.
2. Mục tiêu của đề tài
- Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của luận văn là đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chi
thường xuyên các đơn vị thuộc ngành Nông nghiệp tại Kho bạc Nhà nước Khánh
3
Hòa, trên cơ sở đó nhằm tìm kiếm các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác này đối
với ngành Nông nghiệp của Khánh Hòa.
- Mục tiêu cụ thể
- Phân tích thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên các đơn vị thuộc
ngành Nông nghiệp tại Kho bạc Nhà nước Khánh Hòa.
- Khảo sát sự hài lòng của các đơn vị sử dụng ngân sách ngành Nông nghiệp tại
Kho bạc Nhà nước Khánh Hòa.
- Đánh giá những tồn tại, hạn chế trong công tác kiểm soát chi thường xuyên các
đơn vị thuộc ngành Nông nghiệp tại Kho bạc Nhà nước Khánh Hòa.
- Đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên
các đơn vị thuộc ngành Nông nghiệp tại Kho bạc Nhà nước Khánh Hòa.
công trình nghiên cứu này chủ yếu đi sâu vào những nội dung mang tính chuyên môn,
kỹ thuật nghiệp vụ, các quy trình tác nghiệp quản lý và kiểm soát chi Ngân sách Nhà
nước qua Kho bạc Nhà nước như: cơ chế kiểm soát chi, thủ tục, quy trình kiểm soát
chi…
Trong luận văn này, tác giả lựa chọn vấn đề quản lý chi Ngân sách Nhà nước
qua Kho bạc Nhà nước để nghiên cứu nhưng chỉ tập trung về quản lý Nhà nước về chi
Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước trong ngành Nông nghiệp trên địa bàn
tỉnh Khánh Hòa. Quản lý nhà nước về chi Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
mà luận văn đề cập là việc Nhà nước thông qua Kho bạc Nhà nước với tư cách là một
công cụ trong hệ thống Tài chính để thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi
Ngân sách Nhà nước theo những nguyên tắc, hình thức và phương pháp được qui định
trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo cho Ngân sách Nhà nước được
sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.
Luận văn tập trung chủ yếu vào các hoạt động quản lý mang tính ‘’quyền lực
nhà nước’’ của Kho bạc Nhà nước thông qua công tác kiểm soát chi Ngân sách Nhà
nước trong ngành nông nghiệp. Qua đó làm rõ vị trí, vai trò của Kho bạc Nhà nước
trong quản lý quỹ Ngân sách Nhà nước nói chung và quản lý Nhà nước về chi Ngân
sách Nhà nước nói riêng. Đồng thời, luận văn cũng đặc biệt chú ý tới vấn đề nâng cao
chất lượng phục vụ khách hàng giao dịch của Kho bạc Nhà nước cho phù hợp với xu
thế phát triển của nền hành chính hiện đại (tức là phải làm tốt cả 2 chức năng: quản lý
và phục vụ). Đây là những nội dung mà các công trình nghiên cứu trước đây chưa đề
cập hoặc có nhưng còn sơ lược, chưa mang tính hệ thống.
6. Đóng góp của đề tài
5
Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản trong công tác kiểm soát chi
thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước; tham khảo kinh nghiệm
quản lý Nhà nước về chi Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước ở một số quốc
gia trên thế giới.
công nghệ thông tin trong Kho bạc Nhà nước Khánh Hòa; Cải thiện sự phục vụ và
nâng cao năng lực chuyên môn của công chức Kho bạc Nhà nước Khánh Hòa; Cải
thiện công tác tiếp nhận và xử lý thông tin phản hồi tại Kho bạc Nhà nước Khánh Hòa.
7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHI TIÊU CÔNG VÀ KIỂM SOÁT
CHI TIÊU CÔNG
1.1. Chi tiêu công và quản lý chi tiêu công
1.1.1. Khái niệm
Chi tiêu công cộng là tổng hợp các khoản chi của chính quyền trung ương,
chính quyền địa phương, các doanh nghiệp nhà nước và của toàn dân khi cùng trang
trải kinh phí cho các hoạt động do Chính phủ quản lý.
Chi tiêu công phản ánh những lựa chọn chính sách của Chính phủ. Mỗi khi
Chính phủ quyết định cung cấp những loại hàng hóa và dịch vụ nào với khối lượng và
chất lượng ra sao thì chi tiêu công cộng đều phản ánh chi phí để thực hiện các quyết
định đó. Tuy nhiên, hiển thị chi phí để thực hiện các quyết định cung cấp hàng hoá và
dịch vụ của Chính phủ thế nào vẫn còn là câu hỏi gây nhiều tranh cãi. Chính vì thế, nó
cũng đã làm nảy sinh hai cách hiểu khác nhau về chi tiêu công cộng.
Thứ nhất, có những chi phí trong việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ thông qua
ngân sách công cộng, tức là khối lượng tiền mà Chính phủ chi ra từ ngân sách để đáp
ứng các khoản chi tiêu này. Chẳng hạn, việc Chính phủ trích ngân sách để cho giáo
dục, quốc phòng… thuộc loại chi tiêu này. Cách hiểu này có thể gọi là chi tiêu công
cộng theo nghĩa hẹp, hay còn gọi là chi tiêu của Chính phủ.
Tuy nhiên, hiểu chi tiêu công cộng như vậy xem chừng chưa thỏa đáng. Lý do là
hấu hết các quyết định, quy tắc hay chính sách của Chính phủ đưa ra đều trực tiếp hoặc
gián tiếp tác động đến chi tiêu của khu vực tư nhân, và do đó sẽ ảnh hưởng sự phân bổ
tư nhân. Vì thế, với một tổng nguồn lực có hạn của nền kinh tế, vấn đề đặt ra là cân
nhắc nên chi tiêu chúng vào đâu sẽ có hiệu quả nhất.
Chi chuyển giao hay chi có tính chất phân phối lại, ví dụ như chi lương hưu, trợ
cấp, phúc lợi xã hội…Những khoản chi tiêu này không thể hiện yêu cầu của khu vực
công cộng với các nguồn lực thực của xã hội vì chúng chỉ đơn thuần là sự chuyển giao
từ người này sang người khác thông qua khâu trung gian là khu vực công cộng. Tuy
nhiên, nói vậy không có nghĩa là chi chuyển giao không gây ra tổn thất gì cho xã hội,
các chương trình phân phối lại đều gây ra những méo mó trong sự phân bổ nguồn lực,
do đó dẫn đến sự phi hiệu quả [1].
- Phân loại theo chức năng
Cách phân loại theo tính chất thường có ý nghĩa đối với việc phân tích kinh tế
nhiều hơn là việc quản lý chi tiêu ngân sách của Chính phủ. Một cách phân loại khác
theo mục đích giao dịch được gọi là phân loại theo chức năng. Cách phân loại này
thường được sử dụng trong đánh giá phân bổ nguồn lực của Chính phủ nhằm thúc đẩy
9
thực hiện các hoạt động và mục tiêu khác nhau của Chính phủ. Theo cách phân loại
này, chi tiêu công cộng bao gồm:
Chi cho cách dịch vụ nói chung của Chính phủ (hay chi hành chính). Đây là
những khoản chi ngân sách cho những hoạt động thường xuyên để đảm bảo Chính phủ
có thể thực hiện các chức năng của mình. Thuộc loại này gồm chi cho các cơ quan
hành chính của Chính phủ, chi cho cảnh sát, tòa án…
Chi cho các dịch vụ kinh tế bao gồm những khoản đầu tư của chính phủ vào cơ
sở hạ tầng, điều tiết, trợ cấp sản xuất…
Chi cho các dịch vụ cộng đồng và xã hội. Đây là các khoản chi cho cộng đồng
nói chung, các hộ gia đình và cá nhân như chi cho giáo dục, y tế, hưu trí, trợ cấp thất
nghiệp, phúc lợi, văn hóa, giải trí…
Chi khác. Chủ yếu là để trả lãi cho các khoản nợ của Chính phủ hoặc phân bổ
ngân sách giữa các cấp chính quyền. [1]
- Phân loại theo mục đích chi tiêu
lực tài chính của Nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động trong cung cấp hàng hóa,
dịch vụ công và thực hiện công bằng xã hội.
+ Công cụ quản lý: Gồm các chính sách kinh tế - tài chính, pháp chế kinh tế - tài
chính và chương trình hóa các mục tiêu, dự án.
+ Cơ chế quản lý: Là phương thức mà qua đó Nhà nước sử dụng các công cụ
quản lý tác động vào quá trình phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính để hướng
vào những mục tiêu đã định.
+ Nội dung quản lý: Gồm việc phân cấp chi giữa chính quyền trung ương và
chính quyền địa phương, soạn lập ngân sách trên cơ sở dự báo thu nhập và kế hoạch
phân bổ nguồn lực, gắn kết ngân sách với việc đưa ra chính sách; cấp phát, thanh toán
và kiểm soát chi; kế toán, báo cáo và đánh giá thực hiện; kiểm toán và giám sát của
các cơ quan lập pháp và các cơ quan khác…[1]
- Lập kế hoạch trong quản lý chi tiêu công
+ Theo khoản mục
Đối với phương thức lập ngân sách theo khoản mục, chi tiêu ngân sách được
khoản mục hóa. Những khoản mục này luôn được chi tiết và định rõ khoản chi tiết cho
từng tiểu mục chi. Với phương thức này các cơ quan, đơn vị phải chi tiêu theo đúng
khoản mục quy định và cơ chế trách nhiệm giải trình tập trung vào các yếu tố đầu vào.
Lập ngân sách chi tiêu công theo khoản mục có điểm mạnh là tính đơn giản và khả
năng kiểm soát chi tiêu bằng việc so sánh dễ dàng với các năm trước thông qua việc
ghi chép chi tiết các yếu tố đầu vào. Tuy nhiên phương thức này bộc lộ những điểm
hạn chế như chỉ nhấn mạnh đến khâu lập ngân sách với các khoản chi tiêu có tính tuân
11
thủ mà Nhà nước đưa; Sự phân phối nguồn lực tài chính không trả lời được câu hỏi tại
sao lại chi tiêu cho công việc đó; Ngân sách chỉ được lập trong thời gian ngắn hạn là
một năm; không chú trọng đúng mức đến tính hiệu quả trong phân bổ nguồn lực và
hiệu quả hoạt động trong việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ công [6].
+ Theo công việc thực hiện
Lập ngân sách chi tiêu công theo công việc thực hiện phân bổ nguồn lực theo
phân bổ và đánh giá sử dụng nguồn lực tài chính nhằm hướng vào đạt được những
mục tiêu chiến lược phát triển Nhà nước [6].
- Nội dung quản lý chi tiêu công
+ Tôn trọng kỷ luật tài chính tổng thể.
+ Phân bổ nguồn lực theo những ưu tiên chiến lược
+ Đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của các chương trình cung cấp hàng hóa dịch
vụ công [4]
1.2. Chi thường xuyên
1.2.1. Khái niệm
Chi thường xuyên là quá trình phân bổ và sử dụng thu nhập từ các quỹ tài chính
công nhằm đáp ứng các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường
xuyên của nhà nước về quản lý kinh tế – xã hội.
Chi thường xuyên có phạm vi rộng, gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ
thường xuyên của nhà nước. Khoản chi này mang tính chất tiêu dùng, quy mô và cơ
cấu chi thường xuyên phụ thuộc chủ yếu vào tổ chức bộ máy nhà nước. Với xu thế
phát triển của xã hội, nhiệm vụ chi thường xuyên của nhà nước ngày càng gia tăng
chính vì vậy chi thường xuyên cũng có xu hướng mở rộng. Xét theo lĩnh vực chi, chi
thường xuyên bao gồm:
- Chi cho các đơn vị sự nghiệp. Đây là các khoản chi cho các đơn vị sự nghiệp
công lập nhằm cung cấp các dịch vụ đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, phát triển
nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tạo động lực để nâng cao năng suất lao
động, thúc đẩy phát triển kinh tế theo chiều sâu. Cụ thể:
+ Chi cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế của nhà nước. Các khoản
chi này nhằm đảm bảo hoạt động cho các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ phục vụ
trực tiếp cho các hoạt động kinh tế như đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực nông, lâm,
ngư nghiệp; thủy lợi; khí tượng; thủy văn… mặc dù các đơn vị sự nghiệp kinh tế có
tạo ra sản phẩm và chuyển giao được nhưng không phải là đơn vị kinh doanh nên các
khoản chi tiêu được coi như chi NSNN. Xu hướng ở Việt Nam, nhà nước chỉ giữ lại
một số đơn vị sự nghiệp kinh tế cần thiết cho sự phát triển kinh tế quốc gia, các đơn vị
13
đồng, khám chữa bệnh cho người dân. Trong khuôn khổ nhất định, chi tài chính công
phải đáp ứng kinh phí cho hoạt động khám chữa bệnh của một số đối tượng như trẻ
nhỏ, những người thuộc diện chính sách xã hội. Chi tài chính công tập trung chủ yếu
14
vào chi cho y tế dự phòng, y tế công cộng nhằm đảm bảo sức khỏe chung của cộng
đồng.
Chi cho hoạt động sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao là các khoản chi cho
hoạt động văn học, nghệ thuật, bảo tàng, truyền thanh, truyền hình, thể dục, thể thao…
khoản chi này không chỉ nhằm mục đích nâng cao trình độ dân trí, nâng cao sức khỏe
về tinh thần cho người dân mà còn góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc, góp phần khẳng định và nâng cao hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế.
Chi cho hoạt động xã hội là các khoản chi cho đảm bảo xã hội và cứu tế xã hội.
Khoản chi này nhằm đảm bảo cuốc sống của người dân khi gặp khó khăn do ốm đau,
bệnh tật hoặc những người già không nơi nương tựa nhằm ổn định xã hội.
Nhìn chung các khoản chi cho hoạt động sự nghiệp là mang tính tiêu dùng
nhằm mục đích nâng cao trình dộn dân trí, sức khỏe thể chất và tinh thần cho người
dân. Bên cạnh đó khoản chi này còn tạo động lực gián tiếp để thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, đảm bảo trật tự xã hội.
- Chi cho các hoạt động quản lý nhà nước (chi quản lý hành chính): là các
khoản chi để đảm bảo hoạt động của hề thống các cơ quan quản lý nhà nước từ trung
ương đến địa phương như chi cho hệ thống cơ quan quyền lực, cơ quan hành chính, cơ
quan chuyên môn các cấp, viện kiểm sát và tòa án. Trong xu hướng phát triển của xã
hội, các khoản chi quản lý hành chính không chỉ dừng lại ở việc duy trì hoạt động
quản lý của bộ máy nhà nước để cai trị mà còn nhằm mục đich phục vụ xã hội. Hoạt
động này nhằm bảo vệ và hỗ trợ cho các chủ thể và các hoạt động kinh tế phát triển,
chẳng hạn hoạt động cấp phép, công chứng, hộ khẩu…
- Chi cho hoạt động an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội. Khoản chi
cho an ninh nhằm đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tạo ra sự yên bình cho người dân.
Chi quốc phòng nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, chống lại sự xâm lấn của các