BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN PHONG THIÊN NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN CHI NHÁNH TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN CHI NHÁNH TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số : 60 34 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ THỊ THANH VINHChủ tịch hội đồng
Trần Đình Chất
Khoa sau đại học
đỡ tận tâm từ Tiến sĩ Đỗ Thị Thanh Vinh trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu.
Xin được trân trọng cảm ơn Cô và kính gửi những lời chúc tốt đẹp nhất đến Cô và gia
đình, kính mong sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy của Cô và đồng nghiệp sẽ luôn có
nhiều kết quả tốt, đóp góp nhiều hơn nữa cho sự nghiệp giáo dục của đất nước.
Có được những số liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài, ngoài những nỗ lực của
bản thân, tôi còn nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ tích cực, nhiệt tình từ các chuyên gia là
cán bộ quản lý của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Kiên
Giang, Ngân hàng bạn trên địa bàn, khách hàng, bạn bè và người thân.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người thực hiện Luận văn
Nguyễn Phong Thiên
iii MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
i
LỜI CẢM ƠN
ii
MỤC LỤC
iii
1.6.2 Ngân hàng No&PTNT Việt Nam 30
iv 1.7 Kinh nghiệm của các Ngân hàng trên thế giới trong việc nâng cao năng lực cạnh
tranh 33
Kết luận chương 1
34
CHƯƠNG 2
:
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA AGRIBANK KIÊN
GIANG
35
2.1 Giới thiệu về Agribank Kiên Giang 35
2.2 Năng lực cạnh tranh của Agribank Kiên Giang giai đoạn 2011 - 2013 38
2.2.1 Tình hình hoạt động kinh doanh 38
2.2.2 Đánh giá các yếu tố nội lực 40
2.2.3 Khảo sát ý kiến khách hàng về chất lượng dịch vụ của Agribank Kiên Giang 58
2.3 Ma trận hình ảnh cạnh tranh của Agribank Kiên Giang 61
Kết luận chương 2
68
CHƯƠNG 3
:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
AGRIBANK KIÊN GIANG
69
3.1 Cở sở đề xuất giải pháp 69
3.1.1 Dự báo phát triển của hệ thống ngân hàng 69
3.1.2 Chiến lược phát triển của Agribank Kiên Giang đến năm 2020 71
3.1.3 Quan điểm nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank Kiên Giang 72
Việt Nam
AGRIBANK KIÊN GIANG
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát tri
ển nông thôn
Việt Nam – Chi nhánh Kiên Giang
ASEAN
Association of Southeast Asian Nations - Hi
ệp hội
các Quốc gia Đông Nam Á.
ASIAN BANKER Tạp chí The Asian Banker.
ATM Automatic Teller Machine – Máy rút tiền tự động.
BIDV KIÊN GIANG
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Vi
ệt Nam
– Chi nhánh Kiên Giang.
DONGABANK KIIÊN GIANG
Ngân hàng TMCP Đông Á – Chi nhánh
Kiên
Giang.
KIENLONGBANK KIÊN GIANG
Ngân hàng TMCP Kiên Long –
Chi nhánh Kiên
Giang.
EUR
Đồng tiền chung của Liên minh Châu Âu
IMF International Monetary Fund – Quỹ tiền tệ quốc tế.
L/C Letter of Credit - Thư tín dụng.
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam –
Chi
nhánh Kiên Giang.
VIETINBANK Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.
VIETINBANK KIÊN GIANG
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam –
Chi
nhánh Kiên Giang.
VIP Very important person – Nhân vật quan trọng.
VND Đồng Việt Nam.
WB World Bank – Ngân hàng thế giới
WTO
World Trade Organization – Tổ chức Thương m
ại
Thế giới.
vii DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Kết cấu của ma trận hình ảnh cạnh tranh 27
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Agribank Kiên Giang giai đoạn 2011 -
2013 38
Bảng 2.2: Thị phần huy động vốn của Agribank Kiên Giang so với 06 đối thủ cạnh
tranh trên địa bàn tỉnh 42
Bảng 2.3: Thị phần huy động của Agribank Kiên Giang so với 04 Ngân hàng TMQD
trên địa bàn tỉnh 43
Bảng 2.4: Thị phần cho vay của Agribank Kiên Giang so với 06 đối thủ trên địa bàn
tỉnh 48
Bảng 2.5: Thị phần cho vay của Agribank Kiên Giang so với 4 ngân hàng TMQD trên
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Qua nhiều năm duy trì tốc độ tăng trưởng tốt, đến nay, nền kinh tế Việt Nam đang
đối mặt với nhiều thách thức to lớn. Trong nhiều nguyên nhân, nguyên nhân chủ yếu được
xác định là xuất phát từ chính nội tại của nền kinh tế nước ta. Những tồn tại, yếu kém này
đã được các tổ chức quốc tế, các chuyên gia và đặc biệt là Ban chấp hành Trung ương
Đảng và Chính phủ chỉ ra tại Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI) với quyết tâm là phải tái
cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất
lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Theo đó, trong 5 năm tới, việc cơ
cấu lại nền kinh tế tập trung vào 3 lĩnh vực quan trọng nhất là: Tái cơ cấu đầu tư với
trọng tâm là đầu tư công; Cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cơ cấu hệ
thống ngân hàng thương mại; Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước.
Đối với việc cơ cấu lại thị trường tài chính, trong đó tái cơ cấu hệ thống ngân
hàng thương mại được xác định là trọng tâm, mang tính chất quyết định nhằm tạo lập
ra cho nền kinh tế một hệ thống NHTM được quản trị tốt, hoạt động hiệu quả, sản
phẩm và dịch vụ ngân hàng đa dạng, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị
trường với đại bộ phận là doanh nghiệp vừa và nhỏ và các hộ sản xuất kinh doanh.
Song song đó, thực hiện cổ phần hóa các NHTM nhà nước, nâng cao tiềm lực tài
chính, khả năng quản trị, chất lượng các dịch vụ, sức cạnh tranh và hiệu quả hoạt động
để NHTM nhà nước thực sự làm nòng cốt trong hoạt động của hệ thống NHTM cả
nước.
Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) là Ngân
hàng thương mại 100% vốn Nhà nước hàng đầu, nắm giữ vai trò chủ đạo và chủ lực
trong phát triển kinh tế Việt Nam, đặc biệt là đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông
thôn. Quá trình hình thành và phát triển trong suốt gần 25 năm, Agribank đã có một hệ
thống mạng lưới rộng khắp cả nước với khoảng 2.400 Chi nhánh, Phòng Giao dịch,
gần 4.200 cán bộ, nhân viên, và có tổng tài sản trên 560.000 tỷ đồng, tổng nguồn vốn
Qua quá trình công tác tại Agribank Chi nhánh Kiên Giang, nhận thức được
tính cấp thiết của vấn đề nêu trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Nâng cao năng lực
cạnh tranh của Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Chi nhánh tỉnh
Kiên Giang” để làm Luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung:
Đánh giá về năng lực cạnh tranh của Agribank Kiên Giang trong tương quan so
sánh với một số Chi nhánh ngân hàng đối thủ khác đang hoạt động trên địa bàn tỉnh để
có sự nhìn nhận đúng đắn, đầy đủ về những điểm mạnh và điểm yếu, cơ hội và thách
3 thức của Agribank Kiên Giang, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao khả
năng cạnh tranh của Chi nhánh trong thời gian tới.
* Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích, đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh và năng lực cạnh tranh của
Agribank Kiên Giang.
- Khảo sát, ý kiến của khách hàng và của chuyên gia về năng lực cạnh tranh của
Agribank Kiên Giang; so sánh, đánh giá tương quan với một số Chi nhánh ngân hàng
đối thủ khác đang hoạt động trên cùng địa bàn.
- Đ
ề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
Agribank Kiên
Giang.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về khả năng cạnh tranh của Agribank Kiên Giang
trên các sản phẩm dịch vụ hiện có của Agribank Kiên Giang như: Huy động vốn và
cho vay, thanh toán xuất nhập khẩu, sản phẩm thẻ và các sản phẩm, dịch vụ khác, công
nghệ, chất lượng nguồn nhân lực.
- Phạm vi nghiên cứu: Tổ chức khảo sát năng lực cạnh tranh của Agribank Kiên Giang
làm việc trong lĩnh vực ngân hàng ở địa bàn tỉnh Kiên Giang.
5. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn sẽ bao
gồm 03 chương với kết cấu được trình bày như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của NHTM.
Chương 2: Đánh giá năng lực cạnh tranh của Agribank Kiên Giang.
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank Kiên Giang.
5 CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát hoạt động của NHTM
1.1.1 Khái niệm NHTM và các dịch vụ ngân hàng
1.1.1.1 Khái niệm NHTM
Ngân hàng là một loại hình kinh doanh trong nền kinh tế nhưng nó có vai trò rất
quan trọng đối với chính nền kinh tế. Theo quan điểm của nhiều người, họ xem ngân
hàng cùng với tiền tệ là một trong những phát minh vĩ đại của loài người, bên cạnh các
phát minh quan trọng khác. Thông qua hoạt động của chính mình như nhận tiền gửi,
cho vay và đầu tư, các ngân hàng có khả năng “tạo tiền”. Sự thay đổi trong khối lượng
tiền tệ do ngân hàng tạo ra liên quan chặt chẽ tới tình hình kinh tế, đặc biệt là mức tăng
trưởng của việc làm, tình trạng lạm phát, từ đó mà ảnh hưởng tới các mục tiêu kinh tế
vĩ mô. Đây là một trong những lý do khiến hoạt động của ngân hàng luôn được đặt
dưới một hệ thống các quy định chặt chẽ của các Chính phủ nhằm tăng cường khả
năng quản lý, kiểm tra, kiểm soát hoạt động ngân hàng, đồng thời nhằm hướng dẫn
hoạt động của ngân hàng theo hướng có lợi cho nền kinh tế.
Ở mỗi quốc gia, tùy vào nhận thức, quan điểm, mức độ cạnh tranh, phong tục
tập quán… Khái niệm NHTM được diễn đạt, định nghĩa khác nhau. Ví dụ như: Ở
Pháp, theo Luật ngân hàng năm 1941 thì "Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở
Hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
1.1.1.2 Các dịch vụ Ngân hàng
Trên cơ sở các hoạt động nghiệp vụ theo từng tính chất, mục tiêu khác nhau, có
thể phân nhóm dịch vụ của NHTM theo 03 nhóm như sau:
a. Nhóm dịch vụ huy động vốn
Đây là nhóm dịch vụ hoạt động nhằm mục tiêu tạo ra nguồn vốn kinh doanh
cho ngân hàng. Khi phát sinh hoạt động này, khách hàng được hưởng lợi tức và đồng
thời được cung ứng một số dịch vụ khác như dịch vụ ngân quỹ, thu chi tài chính, phát
hành séc , cụ thể như sau:
- Dịch vụ nhận tiền gửi tiết kiệm và thanh toán: Đây là hoạt động dịch vụ nhằm huy
động nguồn tiền nhàn rỗi tạm thời của khách hàng và thực hiện chi trả theo yêu cầu
của khách hàng.
- Các loại giấy tờ có giá: Bên cạnh hoạt động huy động vốn theo hình thức nêu trên,
NHTM cũng có thể phát hành các loại giấy tờ có giá (Chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu
ngân hàng) trên thị trường tài chính. Các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, nếu có
nhu cầu sẽ đầu tư theo quy định của pháp luật. Theo nhu cầu và khả năng cạnh tranh,
mỗi NHTM sẽ phát hành giấy tờ có giá với kỳ hạn và lãi suất khác nhau.
7 b. Nhóm dịch vụ sử dụng vốn:
Đây là nhóm dịch vụ tạo ra thu nhập chính cho ngân hàng, gồm một số dịch vụ
chủ yếu sau:
- Chiết khấu giấy tờ có giá và cho vay thương mại
Đây là dịch vụ truyền thống của các NHTM với mục đích cung cấp vốn cho các
khách hàng là những cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu vốn phục vụ cho hoạt
động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng… không vi phạm các quy định của pháp luật hiện
hành. Bên cạnh đó, nhằm đa dạng hóa các loại hình dịch vụ cho vay thương mại với kỳ
hạn vay và lãi suất tiền vay linh hoạt hơn, các NHTM còn thực hiện nghiệp vụ chiết
khấu các loại giấy tờ có giá cho các khách hàng theo nhu cầu.
1.1.2.1 Các đặc điểm của dịch vụ ngân hàng
- Tính vô hình:
Là những sản phẩm dịch vụ nên khách hàng không thể cảm nhận trực tiếp bẳng
các giác quan như các sản phẩm thông thường. Để đánh giá chất lượng trước khi mua
và chỉ cảm nhận được chất lượng trong quá trình mua và sau khi sử dụng dịch vụ là rất
khó, do vậy, uy tín thương hiệu có tác động rất lớn đến quyết định sử dụng của khách
hàng.
- Tính không tách biệt và không thể lưu trữ:
Khi thiết kế sản phẩm dịch vụ, các NHTM phải hướng vào nhu cầu của người
dùng, sản phẩm được tạo ra và tiêu dùng đồng thời với nhau nên không thể dự trữ để
cung cấp trong tương lai.
- Tính không đồng nhất:
Chất lượng dịch vụ ngân hàng phụ thuộc nhiều vào sự tác động qua lại giữa
nhân viên ngân hàng và khách hàng nên tuy có cùng một dịch vụ nhưng chất lượng sẽ
có sự khác biệt nếu được cung cấp bởi các nhân viên khác nhau hoặc được đánh giá
bởi khách hàng khác nhau.
- Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đều có mối quan hệ mật thiết, tương tác, hỗ trợ lẫn
nhau:
Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng vừa tranh giành sử dụng nguồn lực lại vừa bổ
sung nguồn lực cho nhau. Ví dụ: nhóm dịch vụ sử dụng vốn phụ thuộc rất lớn vào kết
quả hoạt động của nhóm dịch vụ huy động vốn và ngược lại, nếu nhóm dịch vụ sử
dụng vốn hoạt động hiệu quả sẽ làm tăng tính cạnh tranh cho nhóm huy động vốn
1.1.2.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của NHTM
- Cấu trúc tài sản, cơ cấu kinh doanh và nguồn sinh lợi nhuận có tính đặc thù riêng:
9 Do tính chất khác biệt giữa ngân hàng và các doanh nghiệp phi tài chính khác là
ngân hàng kinh doanh tiền và các giấy tờ có giá nên cấu trúc tài sản của ngân hàng
khác biệt so với cấu trúc tài sản của các doanh nghiệp. Tài sản của ngân hàng chủ yếu
ngân hàng bạn, tránh tình trạng xảy ra đổ bể một ngân hàng sẽ dẫn đến ảnh hưởng
hàng loạt cả hệ thống.
- Môi trường hoạt động chịu tác động lớn của các yếu tố bên ngoài:
Hoạt động ngân hàng luôn được Chính phủ kiểm soát, giám soát chặt chẽ nhất
nhằm mục tiêu:
Kiểm soát khả năng “tạo tiền” của các NHTM và định hướng hoạt động kinh
doanh của NHTM nhằm có lợi cho sự phát triển của cả nền kinh tế.
Nhằm đảm bảo an toàn cho các khoản tiết kiệm của công chúng, điều này
cũng là nhằm duy trì ổn định xã hội.
Nhằm đảm bảo bình đẳng và công khai cho doanh nghiệp, người dân trong
việc tiếp cận các sản phẩm dịch vụ mà NHTM cung cấp.
Bên cạnh đó, hoạt động ngân hàng thường chịu sự tác động của nhiều loại rủi ro
cũng như tác động từ các yếu tố bên ngoài như: rủi ro về chính sách, lãi suất, tín dụng,
thanh khoản và tình hình phát triển kinh tế, hệ thống pháp luật, văn hóa tiêu dùng,
công nghệ, môi trường cạnh tranh cùng ngành
- Yếu tố công nghệ có tác động rất lớn đến hoạt động ngân hàng:
Ngày nay, trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực tài chính ngân hàng,
bên cạnh yếu tố con người thì yếu tố công nghệ đóng vai trò vô cùng quan trọng nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động. Ứng dụng hiệu quả công nghệ cho phép ngân hàng kiểm
soát hiệu quả hơn hoạt động kinh doanh, rút ngắn thời gian cung cấp dịch vụ và cung
cấp nhiều tiện ích hơn cho khách hàng. Công nghệ bao gồm những công nghệ mang tính
quản lý như: hệ thống thông tin quản lý nội bộ, hệ thống quản trị rủi ro, hệ thống thanh toán
trực tuyến và công nghệ mang tính chất tác nghiệp như: hệ thống thanh toán điện tử, hệ
thống ATM, các máy POS…
1.1.3 Chức năng và vai trò cơ bản của NHTM
* Chức năng của NHTM:
- Chức năng trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán:
Chức năng này của NHTM có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ hoạt động của
* Vai trò của NHTM:
- Là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế:
Trong bất kỳ nền kinh tế nào thì vốn đều được tạo ra từ quá trình tích lũy, tiết
kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức. Ở mỗi quốc gia, để có nhiều vốn
phải tăng thu nhập quốc dân và tiêu dùng hợp lý. Để tăng thu nhập quốc dân thì phải
mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hóa, phát triển sản xuất kinh doanh trong nền kinh
tế. Tuy nhiên, để làm được điều này thì lại phải cần có vốn. Khi nguồn vốn bị thiếu
hụt, doanh nghiệp sẽ mất cơ hội đầu tư mới hoặc không kịp thời tiến hành quá trình tái
sản xuất
12 NHTM, thông qua nhóm các dịch vụ về huy động vốn, chính là nhân tố quyết
định việc khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh
tế để đưa vào lưu thông, phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các doanh
nghiệp. Đồng thời, thông qua hình thức cấp tín dụng, NHTM tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng nguồn vốn do Ngân hàng cấp để mở rộng sản xuất
kinh doanh, đầu tư máy móc, thiết bị, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động
mang lại hiệu quả kinh tế. Đây là điều kiện nhằm nâng cao năng lực và khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp. Cạnh tranh càng mạnh mẽ, nền kinh tế sẽ càng phát triển.
Như vậy với khả năng cung cấp vốn, NHTM đã trở thành một trong những điểm khởi
đầu cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
- Là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường:
Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong bất kỳ môi trường nào, nhất là trong
nền kinh tế thị trường, cạnh tranh luôn diễn ra gay gắt, khốc liệt, đòi hỏi phải có chiến
lược riêng để tồn tại và không ngừng phát triển. Thị trường luôn gắn chặt đến mọi hoạt
động của doanh nghiệp ở cả hai góc độ là thị trường đầu vào và thị trường đầu ra. Để
có thể tiến hành bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, doanh nghiệp cũng cần phải
tham gia vào thị trường đầu vào nhằm thực hiện thành công chiến lược 5P: Product
(Sản phẩm), Price (Giá cả), Promotion (Giao tiếp, khuyếch trương), Place (Địa điểm)
1.2.1 Cạnh tranh
* Khái niệm
Để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp nói chung và ngân hàng thương mại nói
riêng cũng đều không tránh khỏi quy luật cạnh tranh. Cạnh tranh là quy luật tất yếu,
xảy ra trong suốt quá trình vận động của các tổ chức, doanh nghiệp… Tùy theo đối
tượng nghiên cứu, cạnh tranh được định nghĩa khác nhau. Khái niệm cạnh tranh được
sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, ngành và quốc gia hoặc thậm chí cả khu vực
liên quốc gia. Do vậy, tùy vào đối tượng nghiên cứu mà ta có khái niệm về cạnh tranh
khác nhau.
Ở phạm vi doanh nghiệp, P.Samuelson định nghĩa: “Cạnh tranh là sự kình địch
giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường”.
Chú trọng hơn đến tính chất cạnh tranh và phương pháp cạnh tranh, Giáo sư
Tôn Thất Nguyễn Thiêm cho rằng: “Cạnh tranh trên thương trường phải là cạnh tranh
lành mạnh, cạnh tranh không phải để diệt trừ đối thủ của mình mà là để đem lại cho
khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn, mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình
chứ không phải đối thủ của mình”.
1.2.2 Lợi thế cạnh tranh
Đối với ngân hàng, cạnh tranh lẫn nhau được xem như là cuộc chiến trường kỳ.
Trong cuộc chiến này, mỗi ngân hàng muốn chiến thắng phải có một vài lợi thế hơn
14 đối thủ. Đó chính là lợi thế cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh của một ngân hàng so với
các đối thủ là nhờ ngân hàng đó cung cấp giá trị lớn hơn cho khách hàng, làm tăng
mức độ hài lòng của khách hàng so với các ngân hàng khác.
Mức độ hài lòng của khách hàng là mức độ trạng thái cảm giác của khách hàng
bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sử dụng sản phẩm dịch vụ so với những
mong muốn, kỳ vọng của họ về sản phẩm dịch vụ đó dựa vào kinh nghiệm của những
lần mua trước, hoặc ý kiến của bạn bè, người thân và các thông tin từ các nguồn khác
cũng như từ chính cam kết của ngân hàng.
Kênh phân phối là cầu nối của ngân hàng với khách hàng trong việc cung ứng
các sản phẩm dịch vụ ngân hàng và tiện ích phụ trợ. Do vậy, kênh phân phối cũng
chính là yếu tố quan trọng, có mức độ ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực cạnh tranh
của một ngân hàng.
- Hoạt động bán hàng và marketing:
Bên cạnh việc tạo ra sản phẩm và tổ chức hệ thống kênh phân phối hiệu quả,
hoạt động bán hàng và marketing cũng có ý nghĩa quyết định đến việc xây dựng và
phát triển năng lực cạnh tranh của một ngân hàng. Chính sách giá linh hoạt, kỹ năng
phục vụ của nhân viên và các chính sách markting hợp lý sẽ góp phần không nhỏ trong
việc lôi kéo và duy trì lòng trung thành của khách hàng.
* Nhóm yếu tố bổ trợ:
- Sức mạnh tài chính:
Một ngân hàng được xem là có năng lực cạnh tranh thực sự khi ngân hàng đó
có tiềm lực tài chính mạnh do đây là nhân tố quyết định tạo ra khả năng chống đỡ các
rủi ro, khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực quản trị thông qua
ứng dụng công nghệ… của một ngân hàng.
- Quản lý chi phí kinh doanh:
Quản lý chi phí kinh doanh hiệu quả sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh về mặt chi phí
so với các đối thủ và đây luôn là một trong những yêu cầu hàng đầu của một ngân
hàng. Với lợi thế chi phí thấp, ngân hàng sẽ được bảo vệ trong quá trình cạnh tranh
nhờ thu được lợi nhuận cao hơn so với đối thủ có cùng một mức doanh thu.
- Công nghệ:
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng hiện đại, công nghệ đóng vai trò rất lớn
trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh vượt trội hơn so với đối thủ. Công nghệ có thể đem
lại hiệu quả cao cho việc mở rộng quy mô hoạt động và cũng có thể thay đổi cả cấu
trúc hoạt động của ngân hàng thông qua việc mở rộng kênh phân phối, tạo ra những
sản phẩm dịch vụ mới, quy trình mới… Theo như nhận định của Giáo sư Peter S.Rose:
“Ngân hàng muốn duy trì lợi nhuận và khả năng mở rộng hoạt động, thường bằng