ĐỀ TÀI
“HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI BÀI TẬP ĐIỆN HỌC LỚP 9”
I. PHẦN MỞ ĐẦU:
I.1. Lý do chọn đề tài:
Môn vật lý chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống các môn học ở trường
phổ thông, nó có nhiệm vụ cung cấp các kiến thức vật lý cơ bản phổ thông có hệ
thống, góp phần phát triển năng lực tư duy khoa học, rèn luyện những kĩ năng cơ
bản có tính tổng hợp.
Lớp 9 là lớp cuối cấp, trong trường THCS học sinh được học bộ môn vật lý
một cách có hệ thống theo chương trình cải cách. Vật lý 9 đóng vai trò quan trọng
trong suốt quá trình học bộ môn vật lý ở phổ thông. Nó có nhiệm vụ tạo điều kiện
phát triển năng lực của học sinh lên một mức cao hơn và đặt ra những yêu cầu cao
hơn đối với họ, đó là các yêu cầu về khả năng phân tích tổng hợp, khả năng tư duy
trừu tượng, khái quát trong xử lý thông tin để hình thành khái niệm, rút ra các quy
tắc, quy luật và định luật vật lý, Bài tập vật lý có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc học tập bộ môn vật lý, qua việc giải bài tập học sinh có thế:
• Củng cố các kiến thức cơ bản.
• Rèn kĩ năng, kĩ xảo sử dụng ngôn ngữ vật lý, lập luận, suy luận logic các
công thức vật lý, vận dụng công thức vào tính toán.
• Làm chính xác hóa các định luật vật lý.
• Liên hệ với thực tế đời sống, sản xuất.
Qua quá trình giảng dạy bộ môn vật lý theo chương trình đổi mới tại trường
THCS Lê Quý Đôn, qua thực tế giảng dạy của bản thân, tôi thấy rằng môn vật lý 9
có số lượng bài tập tương đối phù hợp và không quá khó đối với học sinh. Song
trên thực tế, việc giải quyết các bài tập còn gặp nhiều khó khăn, học sinh còn gặp
nhiều vướng mắc và kết quả đạt được chưa cao, bởi việc giải bài tập bắt nguồn từ
lý thuyết, ở lớp dưới số lượng bài tập định lượng ít, do vậy học sinh chỉ quen với
các bài tập định tính, vì vậy mà lên lớp 9 thói quen đó còn tồn tại thể hiện trong
việc giải các bài tập định lượng. Qua quá trình giảng dạy tôi nhận thấy rằng đa số
các em còn lúng túng trong việc giải các bài tập định lượng, thể hiện trong quá
trình giải các bài tập cụ thể, các em thường không bắt đầu từ những dữ kiện của bài
Nghiên cứu điều tra thực trạng của học sinh trong học vật lý chưa chủ động
trong giải bài tập, chưa nắm được bản chất của các hiện tượng vật lý, chưa biết
cách áp dụng toán học vào giải bài tập vật lý, còn sợ sệt khi cho bài tập về nhà,
chưa tự giải bài tập ở nhà làm bài tập ở nhà còn mang tính đối phó với việc kiểm
tra của giáo viên.
I.3. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 9 trường THCS Lê Quý Đôn.
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Giới hạn trong phần bài tập vật lý lớp 9 phần điện học.
I.5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Từ lý luận thực tiễn để phân tích đánh
giá thực trạng.
- Phương pháp nghiên cứu thực tế: Dự giờ, khảo sát, quan sát, trao đổi qua
các hình thức và kết quả kiểm tra của giáo viên và học sinh.
- Phương pháp thực nghiệm: Thực dạy trên lớp và tiến hành khảo sát học
sinh.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Nhóm phương pháp hỗ trợ: Bảng biểu, thống kê toán học.
II. PHẦN NỘI DUNG:
II.1. Cơ sở lý luận:
Vật lý là một môn khoa học thực nghiệm cho nên khi giảng dạy phải chú ý
đảm bảo tính trực quan, sinh động. Đối với học sinh THCS tư duy còn đang trên đà
phát triển, nhận thức dễ theo thói quen, do đó người giáo viên giảng dạy môn vật
2
lý phải có kiến thức vật lý vững vàng, có kĩ năng kĩ xảo trong việc xây dựng kiến
thức.
Việc giải bài tập vật lý có ý nghĩa rất quan trọng vì nó giúp học sinh hiểu sâu
hơn về quy luật vật lý, biết phân tích và áp dụng chúng vài thực tế. Thông qua việc
giải bài tập tạo điều kiện cho học sinh vận dụng linh hoạt các kiến thức để tự lực
giải quyết thành công các tình huống khác nhau, đồng thời còn giúp học sinh ôn
- Các tiết bài tập còn quá ít nên việc giáo viên hướng dẫn cho các em học
sinh không được nhiều và hiệu quả còn thấp, không đủ các dạng bài tập.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra:
Khảo sát 105 học sinh lớp 9 bằng một bài kiểm tra sau khi học xong phần
đoạn mạch nối tiếp và song song.
Đề bài:
Bài 1: Cho mạch điện có sơ đồ. Biết U = 12V, R
1
= 20Ω, R
2
= 5Ω, R
3
= 8Ω.
3
a. Tìm số chỉ của vôn kế khi nó được mắc vào hai điểm A và N trong hai trường
hợp K mở và K đóng.
b. Thay vôn kế bằng ampe kế, tìm số chỉ của vôn kế khi nó được mắc và hai điểm
trong hai trường hợp K mở và K đóng.
R
3
A R
1
B
R
2
N K
2: Khi mắc song song ba điện trở R
1
= 10Ω, R
2
3
R
1
A N B
R
AB
= R
1
+ R
3
= 20 + 8 = 28 Ω Hình a
AI
U
AB
28
12
R
AB
==
=>
VRIU
ABAN
43,38
28
12
3
===
* K đóng ta có mạch điện như hình b. R
1
R
= 1A => U
AN
= I
AN
.R
3
= 1.8 = 8V
b. * K mở: Khi mắc ampe kế vào hai điểm AN thì dòng điện không chạy qua R
3
.
Vậy trong mạch( hình a) chỉ có điện trở R
1
, ta có:
A
R
U
II
A
6,0
20
12
1
====
4
* K đóng: Tương tự ta có:
Ω=
+
=
+
= 4
= 12.5Ω
I
2
= 1,6A U
2
= 20V
R
3
= 16Ω
I
1
= 1.25A U
3
= 20V
Kết quả bài làm của học sinh như sau:
II.3. Giải pháp, biện pháp:
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Việc tìm hiểu đối tượng học sinh là công việc đầu tiên khi người thầy muốn
lấy các em làm đối tượng thực hiện một công việc nghiên cứu nào đó. Do đó tôi đã
làm sẵn một số phiếu có ghi sẵn một số câu hỏi mang tính chất thăm dò như sau:
- Em có thích học môn Vật lý không ?
- Học môn Vật lý em có thấy nó khó quá với em không ?
- Em có thuộc và nhớ được nhiều công thức, định nghĩa Vật lý không ?
- Khi làm bài tập em thấy khó khăn ở điểm nào ?
- Em đã vận dụng thành thạo công thức Vật lý chưa ?
- Em có muốn đi sâu nghiên cứu các bài toán về mạch điện không ?
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Dựa vào kết quả tìm hiểu học sinh qua các phiếu câu hỏi ở trên, tôi đã thấy
được những khó khăn bức xúc của học sinh trong việc học tập Vật lý 9 và sự cần
thiết phải đi sâu nghiên cứu các bài tập về mạch điện. Một lý do nữa là số tiết dành
2
1
R
R
U
U
=
Đoạn mạch song song: ( 2 điện trở )
21
III +=
21
UUU ==
21
111
RRR
+=
Hay
21
21
.
RR
RR
R
+
=
1
2
2
1
R
, U
BC
, U
AC
.
* Tìm hiểu đề bài:
Biết
R
1
= 7Ω C
R
2
= 3Ω R
1
R
3
R
3
= 6Ω.
I
1
= 2A
6
A
B
Tính U
AB
, U
BC
, U
= 7.2 = 14V
Đoạn BC gồm: R
2
//R
3
nên
Ω=
+
=
+
= 2
63
6.3
.
32
32
RR
RR
R
BC
U
BC
= I
BC
. R
BC
= 2.2 = 4 V
Đoạn AC gồm AB nt BC nên: U
AC
= U
R
3
R
4
* Tìm hiểu đề bài:
R
1
= 1Ω
R
2
= 10Ω
R
3
= 50Ω
R
4
= 40Ω
I
A
=1A
I
1
= ?; I
2
=?; I
3
= ? ;I
4
= ? U
423
23
4
4
23
3
2
3
2
60
40
II
R
R
I
I
==>===
7
A
R
2
Mặt khác: I
23
+ I
4
= I
PQ
= 1A. Vậy
1
3
.
423
423
RR
RR
R
PQ
R
MN
= R
PQ
+ R
1
= 24 + 1 = 25Ω
Vậy U
MN
= 25.1 = 25V
Tìm thêm cách giải khác.
* Nhận xét:
- Bài tập đòi hỏi học sinh phải phân tích được mạch điện khi có nhiều điện trở.
- Khả năng vận dụng công thức của học sinh phải thuần thục.
Bài toán 3: ( bài toán về đại lượng định mức của một dụng cụ điện)
Các đèn Đ
1
và Đ
2
giống nhau, loại 6V, được mắc như sơ đồ hình vẽ. Hai đèn sáng
bình thường.
a. So sánh R
1
* Hướng dẫn học sinh: B
- Phân tích mạch điện. Chú ý xem các dụng cụ có mấy điểm chung.
- Đèn sáng bình thường khi nào.
* Giải:
Dễ thấy Đ
1
và R
1
có hai điểm chung nên Đ
1
// R
1
Tương tự: Đ
2
// R
2
Đoạn mạch AB gồm: ( R
1
// Đ
1
)nt(R
2
// Đ
2
)
Hai đèn sáng bình thường nên: U
đ1
= U
đ2
2
= U
đ2
Do mạch I nối tiếp mạch II nên: I
I
= I
II
.Vậy I
đ1
+ I
1
= I
đ2
+ I
2
hay I
1
= I
2
.
Ta có :
1
1
1
I
U
R =
và
2
2
1
= R
2
=2,5Ω.
Ba đèn Đ
1
, Đ
2
, Đ
3
cùng loại đều có
điện trở 5Ω. Hiệu điện thế giữa CD là
12V. Đèn Đ
1
sáng bình thường. Bỏ
qua điện trở của dây nối.
a. Các đèn thuộc loại bao nhiêu vôn ?
b. Hiệu điện thế giữa hai đầu đèn Đ
2
và Đ
3
?
C A R
2
-
Đ
1
Đ
2
B R
2
R
3
* Đáp án và biểu điểm:
Bài 1:
Tóm tắt:
R
1
= R
2
= 2,5Ω
U
đm1
= U
đm2
= U
đm
=U
đm
R
đ1
= R
đ2
= R
đ3
= 5Ω
Đ
1
sáng bình thường
2
là:2,5 +2,5 = 5Ω (0.25đ)
Điện trở đoạn AB gồm: ((Đ
2
//Đ
3
)nt R
2
) //Đ
1
là (0.25đ)
Ω=
+
=
5,2
55
5.5
AB
R
9
A
= 6V. Do đèn 1 sáng bình thường nên U
đm
= 6V. (0.5đ)
b. Dễ thấy: U
đ2
= U
đ3
. U
đ2
+ U
2
= U
AB
= 6V.(1) (0.5đ)
Mặt khác:
)2(1
5,2
5,2
23
2
2
2
===
dd
R
R
U
U
(0.5đ)
Từ (1) và (2), ta có: U
A
= ?
a. K mở mạch điện được vẽ lại:
A R
1
R
2
B (0.5đ)
Đoạn mạch AB gồm: R
1
nt R
2
(0.5đ)
I = I
A
= 0,6A =>
Ω=== 20
6,0
12
I
U
R
AB
AB
(0.5đ)
Mà R
AB
= R
1
+ R
I
U
R
AB
AB
(0.5đ)
Mà R
AB
= R
1
+ R
23
=> R
23
= 16 – 8 = 8Ω (0.5đ)
Mặt khác:
Ω=
−
=
−
==>+=
24
812
8.12
.
111
232
232
3
3223
===
(0.5đ)
* Nhận xét bài làm của học sinh:
- Ưu điểm:
+ Phần lớn học sinh hoàn thành bài 1 và một phần của bài 2.
+ Học sinh nắm chắc cách phân tích và vận dụng đúng công thức khi tính
toán.
+ Học sinh thấy được lợi ích của việc tìm hiểu bài tập Vật Lý.
- Nhược điểm:
+ Một số học sinh chưa hoàn thành được phần 2c vì chưa nắm chắc được
cách biến đổi mạch điện.
+ Việc trình bày của một số học sinh còn chưa chặt chẽ, lôgic.
* Kết quả cụ thể:
Tổng
số HS
Phân loại (điểm) Số lượng Phần trăm So sánh với khi
chưa thực hiện
27
Giỏi ( 9- 10 ) 15 14,3% Tăng 8 em
Khá ( 7 – 8 ) 47 47,8% Tăng 17 em
TB ( 5 – 6 ) 39 37,1% Giảm 19 em
Yếu, kém ( dưới 5) 4 0,8% Giảm 6 em
III. KẾT LUẬN -KIẾN NGHỊ:
III.1. Kết luận:
Việc giao bài tập về nhà cho học sinh nghiên cứu giúp học sinh có thái độ
tích cực, tự giác tìm lời giải cho mỗi bài toán.
Đến tiết bài tập, giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh trình bày bài giải chi
tiết, nhiều em có thể cùng tham gia giải một bài tập, kích thích khả năng độc lập,
sáng tạo của mỗi học sinh.
Giúp các em có được cái nhìn tổng quan về phương pháp giải một bài tập