ĐỔI MỚI CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRONG CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG
TỈNH BẮC GIANG
Tháng 12 năm 2010
® Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Giang giữ toàn quyền - Bắc Giang, tháng 12 năm 2010
© Ghi rõ nguồn trích dẫn khi phát hành lại - Trang 1
!"#$%&#!'()%*%+!,-,.!%/!%.##%.0,1230-$4*51!6%3%7#$
89(:!7#$4!#$%&#!'()%*%+!$2*;#<==>?<=@=>
%A#$%;#!%8,B#$(C&##%D#E
%FG#$%F-#$,B$:6%46*#$$2*;#<=@@?<=@>H
IJKLMNO@@
J@@
P$%&#!'()%*%+!*#$!4!#%BFQ#$?%/!;#$,B$:6%46R@@
PSTU2VBWT4#$)8#W)#%#$%.0!"X:#%D#@
YLN@>
%.0,1!"#$FQ$4*,&#@>
%/!;#$#$%&#!'()%*%+!!"$4*,&#%.##C@Z
?V[(\W)8##$%]@H
OI@H
^NK_@H
@V!7#$4!!%`2;*<=
<V!7#$4!3!%'!%/!%.#<=
aSTU)89(:2;2Fb!*#$>#c0$d#2DC<@
eOWNfJghfijkl
<<
^mnoNnp<<
eKŽn•NLsha<
N•tnONa<
?‘LJga<
@ !",-#%.0,1/X’5F“#$!%(C#W#$%.6,1W246'#$C&(!d(230-
6%FG#$6%465;C%+!!"$4*,&#a<
<%/!;#$!"%*;2S#$*#$#%BFQ#$6%3%7#$aa
a”(4‰#%!"X:#%D#?0STU)89(:XF-!2d(,BXB%+!)#%#$%.0a
STU2V[(\W)8##$%]au
KaE
OI•<=@=aE
® Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Giang giữ toàn quyền - Bắc Giang, tháng 12 năm 2010
© Ghi rõ nguồn trích dẫn khi phát hành lại - Trang 3
!"#
$$%&'
()*+,-,.
Thư ký Hội đồng KH&CN Sở GD&ĐT
/-(01234-,.5(6,37895:-5;3<=(<(>305?35(>,,5(>@<ABC(
@=(.():DA3*5C05E,.
Nhà báo Thomas Friedman người Mỹ đã đưa ra khái niệm dùng trọng
lượng của sản phẩm để so sánh trình độ của một quốc gia. Trước câu hỏi: “Để có
được 500 USD, người ta đã làm gì?”, ông trả lời:
- Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam bán 5 tấn than đá.
- Nông dân đồng bằng Sông Cửu Long bán 2 tấn gạo.
- Trung Quốc bán 1 chiếc xe máy trọng lượng 100 kg.
- Hãng Sony bán 1 chiếc tivi trọng lượng 10 kg.
- Hãng Nokia bán 1 chiếc điện thoại di động trọng lượng 0,1 kg.
- Hãng Intel bán 1 con chíp máy tính trọng lượng 0,01 kg.
- Hãng Microsoft bán 1 phần mềm máy tính 0 kg.
Ví dụ trên cho thấy vai trò vô cùng quan trọng của nghiên cứu khoa học kỹ
thuật trong sản xuất, làm tăng hàm lượng tri thức trong một sản phẩm. Khoa học
trí hết sức quan trọng, góp phần to lớn trong việc bồi dưỡng nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên, trình độ quản lý của hiệu trưởng, những
nhân tố quyết định chất lượng giáo dục.
/F0G8H3E,.0)3,.5(6,37895:-5;3.(-(B:I,JKKLMJKNK
N/E,.0)30C3573O35PBI:
Công tác nghiên cứu khoa học những năm qua luôn được lãnh đạo Sở quan
tâm chỉ đạo. Hằng năm, Sở đã thành lập Hội đồng KH&CN ngành, xây dựng Kế
hoạch hoạt động cụ thể. Sở đã có các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị thực
hiện nhiệm vụ đăng ký các đề tài khoa học cấp ngành, cấp tỉnh, hướng dẫn các
tác giả đề tài trong quá trình nghiên cứu, hướng dẫn các đơn vị thực hiện sinh
hoạt tổ chuyên môn, cụm chuyên môn theo các chuyên đề khoa học, tham gia các
cuộc thi sáng tạo kỹ thuật do Liên hiệp các Hội khoa học tỉnh tổ chức. Sở đã ban
hành Điều lệ Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh chu kỳ 2005-2008, chu kỳ 2009-
2011, trong đó có nội dung nghiên cứu khoa học. Năm 2010, Sở ban hành Điều lệ
Hội thi giáo viên dạy giỏi các cấp học, ngành học chu kỳ 2011-2015, trong đó
quy định cụ thể công tác nghiên cứu khoa học. Hội đồng KH&CN ngành đã chỉ
đạo các tác giả thực hiện đề tài cấp ngành hoàn thành đúng tiến độ.
J/F0G8H3E,.0)3,.5(6,37895:-5;3
Giai đoạn 2005-2010, công tác nghiên cứu khoa học có bước tiến bộ, đạt
được những kết quả đáng khích lệ. Việc bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên về
chuyên môn, nghiệp vụ, về công nghệ thông tin được các đơn vị quan tâm tổ
chức thực hiện hiệu quả. Hằng năm, các nhà trường đều yêu cầu và động viên đội
ngũ tích cực nghiên cứu khoa học thông qua các chuyên đề tự bồi dưỡng và viết
sáng kiến kinh nghiệm. Nhiều đơn vị đã tích cực phát động học sinh tham gia Hội
thi sáng kiến cải tiến kỹ thuật. Nhiều giáo viên tích cực tham gia những đề tài
khoa học cấp ngành. Có nhiều đề tài, sáng kiến góp phần nâng cao trình độ cho
đội ngũ, góp phần đổi mới phương pháp dạy học, quản lý. Nhiều sáng kiến giải
quyết những khó khăn trong thực tiễn giáo dục đặt ra.
® Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Giang giữ toàn quyền - Bắc Giang, tháng 12 năm 2010
© Ghi rõ nguồn trích dẫn khi phát hành lại - Trang 5
mới PPDH môn Lịch Sử
Ngành 2007
3 Dương Mạnh Trí THPT Hiệp
Hòa 3
Ứng dụng CNTT ĐM
PPDH toán
Ngành 2007
4 Đặng Thiều Quang PTP GD&ĐT
LG
Sáng tạo TBDH (máy
chiếu)
Tỉnh,
Bộ
2007
4 Nguyễn Thanh Hải THPT HH1 Sách điện tử Địa lý Ngành 2008
5 Nguyễn Quang Bách Phòng GD&ĐT
SĐ
Xây dựng Tư liệu điện tử
Lịch sử và PPDH.
Ngành 2008
5 Ngọ Văn Giáp Sở GD&ĐT Giải pháp Xây dựng
trường học thân thiện, h/s
tích cực…
Ngành 2009
® Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Giang giữ toàn quyền - Bắc Giang, tháng 12 năm 2010
© Ghi rõ nguồn trích dẫn khi phát hành lại - Trang 6
6 Lê Thế Tùng, Hoàng
Công Học, Hoàng
Văn Thục, Ngô Đức
Long
2009
12 Nguyễn Thị Mây Phòng GD Yên
Dũng
Rô bốt điều khiển SK cấp
Tỉnh
2009
13 Trần Thị Quyên GV Phòng GD
YD
Cải tiến bộ lọ đựng hóa
chất
SK cấp
Bộ
2005
14 Ong Thế Chiến GV Phòng GD
YD
Sáng tạo thiết bị dạy học SK cấp
Tỉnh
2005
15 Nguyễn Sỹ Nhẽ Phòng GD
Lạng Giang
Dụng cụ điều chế và thu
khí đa năng, chưng cất
phân đoạn
SK cấp
Tỉnh
2009
16 Nguyễn Trúc Vân THPT Chuyên Ứng dụng CNTT dạy Hóa
THPT
SK cấp
Tỉnh
2010
® Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Giang giữ toàn quyền - Bắc Giang, tháng 12 năm 2010
© Ghi rõ nguồn trích dẫn khi phát hành lại - Trang 7
Các tác giả trên là những người đam mê nghiên cứu khoa học, là hạt nhân
thúc đẩy phong trào thi đua sáng tạo trong các nhà trường. Sản phẩm nghiên cứu
sáng tạo của họ đã góp phần tạo nên những giờ dạy hấp dẫn, sáng tạo, nâng cao
chất lượng, hiệu quả giáo dục nói chung và bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng.
Đặc biệt các em học sinh với lòng say mê nghiên cứu đã bước đầu hình thành
cách học tập mới, đã sáng tạo những sản phẩm phục vụ thiết thực cho học tập, lao
động sản xuất.
U/E,.0)37,.DA,.9F0G8H,.5(6,378
Với sự chỉ đạo của lãnh đạo Sở, lãnh đạo các đơn vị, những sản phẩm khoa
học, sáng tạo kỹ thuật về cơ bản đã được áp dụng trong thực tiễn giáo dục thông
qua sinh hoạt chuyên môn tổ, cụm trường, qua các kỳ thi giáo viên dạy giỏi các
cấp, qua các đợt hội thảo và bồi dưỡng giáo viên trong hè. Các đề tài, sáng kiến
kinh nghiệm cũng được các giáo viên chia sẻ qua thư điện tử. Từ năm 2009, Sở
đã cho đăng tải các đề tài khoa học của giáo viên trong ngành trên trang Web của
ngành: Ngữ văn địa phương Bắc Giang và phương pháp giảng dạy, Lịch sử địa
phương Bắc Giang, Địa lý địa phương Bắc Giang, các đề tài tiêu biểu phục vụ
cho giáo viên và học sinh THCS, THPT. Trang Web của ngành cũng đăng tải các
giáo án tốt của giáo viên dạy giỏi, các bài giảng E-learning…
V/E,.0)3*5W(5X*01:,.5:I0BS,.,.5(6,37895:-5;3
Ngành GD&ĐT, Hội đồng KH&CN ngành đã tích cực phối hợp với Sở
KH&CN tỉnh. Sự phối hợp này đã tháo gỡ được nhiều khó khăn trong công tác
của Hội đồng. Nhờ đó, hoạt động khoa học của ngành được tư vấn, giúp đỡ về
định hướng, giải pháp, văn bản chỉ đạo mới, về tài liệu, và đặc biệt là kinh phí.
Hằng năm, Hội đồng KH&CN ngành nhận được sự hỗ trợ từ 5 đến 10 triệu đồng,
các đề tài cấp ngành được hỗ trợ từ 10 đến 20 triệu đồng. Sự phối hợp này tác
động rất tích cực tới công tác nghiên cứu khoa học của ngành.
/5Y,.5I,35F<Z,.8[6,,5\,
tình nghiên cứu gặp nhiều khó khăn, trong khi việc nghiên cứu đòi hỏi tốn nhiều
thời gian, công sức, tiền bạc.
Lợi ích mà các sáng kiến trong ngành mang lại là lợi ích mang tính xã hội,
lâu dài, khó xác định được lợi ích kinh tế cụ thể, nên khi chuyển giao kỹ thuật
khó xác định và đem lại lợi ích kinh tế của chủ sở hữu trí tuệ.
Trình độ chuyên môn, năng lực lực nghiên cứu của một số cán bộ quản lý,
giáo viên còn hạn chế. Còn một bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên chưa nắm chắc
và hiểu sâu kiến thức cần dạy cho học sinh, chưa biết cách nghiên cứu, các bước
tiến hành một đề tài, cách bố cục và trình bày một sáng kiến.
Công tác nghiệm thu, đánh giá chưa chặt chẽ, còn mang tính động viên,
biểu hiện bệnh thành tích. Việc triển khai ứng dụng các đề tài, sáng kiến chưa kịp
thời.
Quy trình công nhận các danh hiệu chiến sỹ thi đua, giáo viên dạy giỏi
chưa thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học, sáng kiến cải tiến kỹ thuật: thành
tích công tác – sáng kiến – xét công nhận hoặc: đạt lý thuyết giỏi – đạt thực hành
giỏi – sáng kiến – công nhận (nên bắt đầu từ yêu cầu có sáng kiến).
Tâm lý thụ động, ngại đổi mới và không dám đổi mới trong quản lý và dạy
học của một số hiệu trưởng và giáo viên cản trở cho hoạt động sáng tạo.
/'5]Q,.5]=,.<Z.(H(*5)*01:,..(-(B:I,JKNNMJKNL
N/'5]Q,.5]=,.
® Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Giang giữ toàn quyền - Bắc Giang, tháng 12 năm 2010
© Ghi rõ nguồn trích dẫn khi phát hành lại - Trang 9
1.1. Xây dựng những vấn đề lớn, giải quyết những nhiệm vụ lớn, tập trung
chỉ đạo và phối hợp để có những đề tài cấp tỉnh, cấp Bộ.
1.2. Tiếp tục nghiên cứu những vấn đề khó khăn, vướng mắc trong thực
tiễn giáo dục đặt ra nhằm đáp ứng yêu cầu mới của giáo dục phổ thông, nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện, nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược đào tạo nguồn
nhân lực có chất lượng.
1.3. Chú trọng nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cách
quản lý trường học, thực hiện dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng, dạy học
© Ghi rõ nguồn trích dẫn khi phát hành lại - Trang 10
tác nghiên cứu khoa học. Biên tập, nhân bản các đề tài, sáng kiến có chất lượng
cao phục vụ bồi dưỡng giáo viên và có phần kinh phí động viên tác giả khoa học.
2.3. Tăng cường phối hợp với Sở KH&CN tỉnh để tranh thủ sự giúp đỡ về
kỹ thuật và kinh phí.
^''_
!"#$$%&
`,.5(a8b8-,.
Phó trưởng phòng GD&ĐT Lạng Giang
c.5(6,37895:-5;301:,.3)3,5Z01]d,.M05?301I,.<Z.(H(
*5)*e
Việc nghiên cứu khoa học (NCKH) trong giáo dục và đào tạo là một nhiệm vụ
hết sức quan trọng. Chính vì thế mà Luật Giáo dục năm 2005 (được sửa đổi năm
2009) đã dành hẳn một điều (điều 18) để nói về nghiên cứu khoa học. Trong đó
xác định rõ:
1. Nhà nước tạo điều kiện cho nhà trường và cơ sở giáo dục khác tổ chức
nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến khoa học, công nghệ; kết hợp đào tạo với nghiên
cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, từng bước thực
hiện vai trò trung tâm văn hóa, khoa học, công nghệ của địa phương hoặc của cả
nước.
2. Nhà trường và cơ sở giáo dục khác phối hợp với tổ chức nghiên cứu khoa
học, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong việc đào tạo, nghiên cứu khoa học
và chuyển giao công nghệ, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
3. Nhà nước có chính sách ưu tiên phát triển nghiên cứu, ứng dụng và phổ
biến khoa học giáo dục. Các chủ trương, chính sách về giáo dục phải được xây
dựng trên cơ sở kết quả nghiên cứu khoa học phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Việc NCKH ở mỗi ngành học, cấp học có vị trí, vai trò, mục đích, tác dụng
khác nhau. Đối với các trường từ Mầm non tới Trung học phổ thông, việc nghiên
cứu khoa học có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, cải tiến
phương pháp quản lý đồng thời góp phần quan trọng trong việc cung cấp dữ liệu
được chú trọng và hiệu quả chưa cao. Có thể dẫn chứng như sau:
+ Hàng năm, đến kỳ thi GVG (trước đây mỗi năm một lần) thì các thầy cô
giáo mới tập trung vào viết Sáng kiến - Kinh nghiệm.
+ Có giáo viên còn chưa hiểu đúng nội hàm của tiêu đề, mặc dù nội dung là
viết về một kinh nghiệm nào đó trong dạy học hoặc quản lý nhưng tiêu đề vẫn ghi
là: "Sáng kiến kinh nghiệm".
+ Phần lớn sản phẩm của các thầy cô giáo viên giỏi đều là những kinh
nghiệm được đúc rút từ thực tế công tác, tuy cũng rất quý nhưng chưa phải là một
đề tài khoa học.
+ Số đề tài khoa học, sáng kiến hoặc kinh nghiệm thật sự có giá trị, có khả
năng áp dụng trong phạm vi huyện trở lên còn ít.
+ Một số đề tài, sáng kiến, kinh nghiệm có giá trị thì cũng chưa được quan
tâm nhân rộng.
+ Bên cạnh việc ngành giáo dục tổ chức cho GVG thi viết đề tài, sáng kiến
hay kinh nghiệm thì Liên hiệp Hội KHCN tỉnh cũng thường xuyên phát động
Hội thi sáng tạo KHCN và sáng tạo trẻ dành cho thanh thiếu niên nhi đồng. Tuy
® Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Giang giữ toàn quyền - Bắc Giang, tháng 12 năm 2010
© Ghi rõ nguồn trích dẫn khi phát hành lại - Trang 12
nhiên các nhà trưởng hưởng ứng chưa cao. Năm 2010 cả tỉnh mới có hơn 60 sản
phẩm của các em học sinh dự thi. Và huyện Lạng Giang mói chỉ có một em được
giải 3 (và cũng chỉ có một số ít huyện tham gia).
Vậy nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng trên? Bên cạnh nguyên nhân chủ
quan là do thiếu sự quan tâm của lãnh đạo các trường cũng như của Phòng GD-
ĐT, cũng phải kể đến một số nguyên nhân khách quan sau:
+ Giáo viên có ít thời gian cho công tác nghiên cứu, thời gian chủ yếu tập
trung vào công tác chuyên môn như soạn bài, giảng dạy, làm phổ cập, thăm gia
đình học sinh, vận động học sinh bỏ học quay lại trường, tổ chức các hoạt động
tập thể, làm hồ sơ tự đánh giá đối với giáo viên mầm non thì chưa đủ 1,5
gv/1lớp nên chỉ chăm sóc trẻ từ sáng tới tối cũng đã hết thời gian
+ Giáo viên chưa có kỹ năng cũng như phương pháp nghiên cứu khoa học.
làm độc lập thì khó khăn
+ Mở hội nghị hướng dẫn nghiên cứu khoa học, cung cấp tài liệu NCKH tới
rộng rãi đội ngũ CBGV.
cS0fWBa0Z(Of),.9(F,O9(,5,.5(>@34-gH,05\,
Thông thường, để dạy học bằng CNTT cần sử dụng máy tính kết nối với máy
chiếu đa năng Projector. Sử dụng máy đèn chiếu này thì giá thành rất đắt, khoảng
45-70 triệu đồng một máy (giá thời điểm năm 2005, lúc nhà trường bắt đầu thí
điểm), đồng thời khấu hao bóng đèn khoảng 10.000 đồng một giờ sử dụng. Vì
thế, tôi đã có sáng kiến lắp thêm card VGA có đường xuất ra Tivi vào máy tính
để có thể kết nối trực tiếp vào màn hình tivi 29”. Như vậy, học sinh có thể xem
ngay nội dung trên màn hình TV đồng thời có thể nghe được cả tiếng, trong khi
máy đèn chiếu không có chức năng nghe tiếng. Với phòng học bình thường (45
m
2
)thì TV 29” là phù hợp, HS có thể nhìn rõ hình và nghe rõ tiếng từ loa TV.
Việc sớm có các thiết bị trình chiếu như vậy đã tạo điều kiện cho giáo viên
phát huy khả năng ứng dụng của mình. Chỉ đến cuối năm học 2005-2006, 100%
giáo viên nhà trường đều biết soạn, giảng bằng bài giảng điện tử. Trừ môn Thể
dục là không ứng dụng, còn lại các môn học khác đều ứng dụng khá hiệu quả.
Theo quan điểm hiện nay, việc sử dụng máy vi tính và máy chiếu vào dạy học
như là một công cụ hỗ trợ hiện đại nhưng không thể thay thế vai trò người thầy
và bảng đen phấn trắng, chỉ lúc cần, người giáo viên mới sử dụng máy vi tính để
đưa các hình ảnh, đoạn phim hay các phần mềm hỗ trợ để khai thác tính tích cực
của học sinh. kênh chữ xuất hiện ít trên màn hình, dẫn đến màn hình bé cũng đáp
ứng được. Và như vậy, thiết bị như trên sử dụng lại khá hiệu quả. Tuy nhiên, bây
giờ có thể cải tiến hơn, đó là không cần Card màn hình nữa, mà dùng thẳng Tivi
tinh thể lỏng kết nối thẳng với máy tính sẽ có độ nét cao, bền, nhẹ. Đề tài này của
tôi đã được giải Khuyến khích trong Hội thi sáng tạo KHCN của tỉnh Bắc Giang
năm 2007.
Năm 2006, Tôi đã chỉ đạo một nhóm giáo viên trường THCS Hương Sơn sưu
để góp phần hình thành nên thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội trong thời kì đổi
mới. Bất cứ người giáo viên nào cũng phải nâng cao trình độ hiểu biết kiến thức
của bộ môn, mở rộng sự hiểu biết kiến thức chung với bài giảng và có phương
pháp giảng dạy hiệu quả. Để làm được như vậy, mỗi người giáo viên phải không
ngừng hoàn thiện về trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, phải có những
sáng kiến kinh nghiệm để đổi mới phương pháp giảng dạy và cải tiến thiết bị
phương tiện dạy học một cách thường xuyên.
Mặt khác, trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngày nay,
đối tượng của giáo dục là học sinh có thể tiếp cận những giá trị của loài người về
cả phương diện tri thức lẫn tình cảm tư tưởng qua rất nhiều kênh thông tin khác
nhau chứ không chỉ phụ thuộc vào kết quả giáo dục của thầy cô giáo. Thực tế đó
đòi hỏi mỗi giáo viên phải có sự điều chỉnh trong phương pháp, phương tiện cũng
như cách thức giáo dục cho phù hợp
® Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Giang giữ toàn quyền - Bắc Giang, tháng 12 năm 2010
© Ghi rõ nguồn trích dẫn khi phát hành lại - Trang 15
Như vậy, chính nền tảng chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo từ trường
chuyên nghiệp, cộng với yêu cầu đòi hỏi của thực tế giảng dạy trong thời kì mới
đã đặt ra yêu cầu cho người giáo viên là phải không ngừng cải tiến cái cũ, tìm đến
với cái mới, để ngày một hoàn thiện hơn nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội về
giáo dục trong giai đoạn mới. Đó cũng chính là những điều kiện tiền đề để người
giáo viên tiến hành làm công tác nghiên cứu khoa học trong giai đoạn hiện nay.
/5?301I,.,.5(6,37895:-5;334-.():<(6,5(>,,-[
N/S(D8,.,.5(6,378e
Phần lớn giáo viên hiện nay sau khi tốt nghiệp tại các trường chuyên
nghiệp đều có được những nền tảng rất căn bản để tiến hành nghiên cứu khoa
học. Có ý thức, cố gắng tích lũy kinh nghiệm, đề ra những sáng kiến giúp cho
người giáo viên giảng dạy tốt hơn, đóng góp được nhiều hơn cho sự nghiệp giáo
dục trong phạm vi chuyên môn của mình. Tuy vậy, để nghiên cứu khoa học có
hiệu quả cần tính đến mức độ năng lực, hoàn cảnh và những yêu cầu của chuyên
môn. Người giáo viên do trực tiếp giảng dạy từ năm này sang năm khác, có thực
biệt, trong những năm vừa qua ngành giáo dục phát động đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ thông tin trong dạy học để nâng cao chất lượng, đã có những đề tài
khoa học hướng đến và tạo ra những đồ dùng, tư liệu thiết thực phục vụ cho các
giáo án, bài giảng điện tử một cách kịp thời. Từ đó góp phần đổi mới phương
pháp dạy học, nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực ứng dụng công nghệ
thông tin cho giáo viên.
U/I,35Fe
Bên cạnh nhưng ưu điểm, công tác nghiên cứu khoa học của giáo viên còn
nhiều những tồn tại. Điều đó thể hiện trên tất cả các mặt, từ cơ chế chính sách
dến chất lượng, qui mô, giá trị của đề tài, đến phương pháp, phương tiện nghiên
cứu, đến mức độ ứng dụng cũng như quan điểm, thái độ của người giáo viên khi
làm công tác khoa học. Điều đó được thể hiện ở những khía cạnh sau :
Đa số giáo viên hiện nay mới dừng ở mức độ tổng kết kinh nghiệm giảng
dạy. Đây là điều hết sức cần thiết, tuy nhiên, nghiên cứu khoa học không chỉ
dừng lại ở việc tổng hợp những kinh nghiệm đã có. Số liệu và dữ liệu chính xác
đã được tập hợp phải được soi sáng bởi lí luận, thông qua những phương pháp
nghiên cứu đúng đắn và cuối cùng phải phải làm sáng tỏ những thuộc tính và bản
chất của vấn đề, làm phong phú thêm cho lí luận dạy học. Thông thường hiện
nay, những nội dung nghiên cứu mà giáo viên hướng tới mới chỉ làm sáng tỏ một
vấn đề nhỏ để ứng dụng trong một phạm vi hẹp. Tức là chủ yếu mới dừng lại ở
mức độ của một sáng kiến kinh nghiệm chứ chưa bao quát lên thành qui mô của
một đề tài khoa học.
Số lượng đề tài, sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên tuy nhiều những
nhiều đề tài còn dừng lại ở mức độ là làm cho đầy đủ thủ tục để hoàn thiện hồ sơ
thi đua khen thưởng. Chất lượng đề tài thấp, thậm chí còn là sự lặp lại phần lớn
hoặc toàn bộ nội dung của các đề tài đi trước.
Phương pháp và tiện nghiên cứu khoa học của giáo viên vẫn chủ yếu màn
tính kinh nghiệm chủ nghĩa. Bản thân nhà trường là nơi giáo viên công tác là một
cơ sở giáo dục chứ không phải là cơ quan nghiên cứu cho nên phương tiện, thiết
bị, tư liệu đều thiếu thốn.
không gian khoa học phục vụ cho việc nghiên cứu. Thư viện trường học chưa
đảm bảo cho việc tra cứu, sưu tầm biên soạn tư liệu phục vụ đề tài theo yêu cầu.
Với những đề tại phải thực địa, điền dã người giáo viên phải tự liên hệ công tác.
Những đề tài liên quan đến đồ dùng thiết bị hay công nghệ thông tin giáo viên
cũng phải tự mày mò và thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Do vậy, khi
nói đến ý tưởng sáng tạo nhiều giáo viên rất quan tâm nhưng quá trình bắt tay
vào thực hiện nhiều người đã không theo đuổi để đi đến hòan thiện được đề tài.
Thứ tư, việc động viện khuyến khích khen thưởng cho những người có
thành tích trong nghiên cứu khoa học ở cấp cơ sở chưa được tiến hành kịp thời và
đúng mức. Thông thường chỉ dừng ở mức độ biểu dương tinh thần và ý chí khắc
phục khó khăn để hòan thành tốt nhiệm vụ. Việc có đề tài khoa học của viên chỉ
là cơ sở để xét tặng một danh hiệu nào đó chứ chưa có khen thưởng dành riêng
cho những giáo viên hoàn thành nghiên cứu một công trình hay sáng kiến nào đó
® Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Giang giữ toàn quyền - Bắc Giang, tháng 12 năm 2010
© Ghi rõ nguồn trích dẫn khi phát hành lại - Trang 18
Mak8T0O9(F,,.5R
Đề công tác nghiên cứu khoa học của giáo viên ngày càng đi vào chiều sâu
và đạt hiệu quả ngày một cao hơn, cá nhân tôi xin mạnh dạn đề xuất một số giải
pháp sau:
Thứ nhất, phải đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức về hoạt động
nghiên cứu khoa học cho giáo viên trong toàn tỉnh. Để làm được việc này, từ Sở
khoa học công nghệ và Sở giáo dục - đào tạo phải có những văn bản hướng dẫn
cụ thể giúp cho giáo viên nhận thức rõ ràng và đầy đủ về bản chất của nghiên cứu
khoa học cũng như lắng nghe y kiến của những giáo viên tâm huyết đã từng tham
gia nghiên cứu về những khúc mắc trong trong qua trình làm khoa học ỏ cơ sở.
Từ đó hình thành nên những nhận thức đúng đắn, sâu sắc hơn về hoạt động
nghiên cứu khoa học, tạo nền tảng cho chất lượng của các đề tài sáng kiến kinh
nghiệm của giáo viên
Thứ hai, cần tạo một môi trường thuận lợi cho công tác nghiên cứu khoa
học của giáo viên. Các Sở ban ngành có liên quan cần chỉ đạo cơ sở quan tâm tạo
trong nhà trờng.
Trờng THPT Chuyên Bắc Giang ngoài việc thực hiện nhiệm vụ chung của
giáo viên đợc quy định tại điều lệ trờng THPT còn có nhiệm vụ Bồi dỡng và phát
triển năng khiếu cho học sinh về môn chuyên; hớng dẫn học sinh làm quen với
hoạt động nghiên cứu khoa học.
Xuất phát từ chc nng nhiệm vụ của nhà trờng, trờng THPT Chuyên Bắc
Giang trong nhng nm gn õy đã chú trọng i mi nhiệm vụ NCKH theo
hng thc cht - Hiu qu.
N/V3E,.0)335PBI:
Trớc hết, nhà trờng tổ chức quán triệt cho đội ngũ giáo viên nhận thức rõ
vai trò của hoạt động NCKH trong trờng THPT chuyên. Từ đó đặt ra yêu cầu
chung trong hoạt động NCKH đối với giỏo viờn v hc sinh. Các công trình
NCKH của cán bộ-giáo viên phải phục vụ cho việc đổi mới quản lí, nâng cao chất
lợng giáo dục và bồi dỡng học sinh giỏi. Đồng thời các công trình phải mang tính
ứng dụng, tính hiệu quả cao, có thể làm tài liệu tham khảo cho đồng nghiệp và
học sinh. Đối với học sinh, việc NCKH đợc xem nh bớc khởi đầu, làm quen. Giáo
viên hớng dẫn học sinh su tầm tài liệu phục vụ môn học, tự đọc và biết tóm tắt tài
liệu theo hớng nâng cao khả năng tổng hợp và vận dụng kiến thức vào giải bài
tập; biết cách khai thác thông tin hữu ích trên mạng; biết cách soạn thảo và trình
bày vấn đề trớc tập thể.
Nh trng ó thnh lp Hi ng khoa hc trng, trong ú Ch tch Hi
ng l Hiu trng, cú mt ng chớ Phú Hiu trng l Phú Ch tch thng
trc, trc tip ph trỏch cụng tỏc NCKH, cỏc t trng, nhúm trng chuyờn mụn
l y viờn Hi ng. Hi ng khoa hc trng cú nhim v lờn k hoch hot
ng, ban hnh quy nh thc hin nhim v khoa hc, t chc nghim thu v
ỏnh giỏ cỏc ti khoa hc cp trng trc khi kt thỳc nm hc.
J/a3E,.0)30C357305?35(>,
đ S Giỏo dc v o to Bc Giang gi ton quyn - Bc Giang, thỏng 12 nm 2010
â Ghi rừ ngun trớch dn khi phỏt hnh li - Trang 20
Hội đồng khoa học trng giao cho các Tổ trởng chuyên môn với t cách là
Trong năm học 2008-2009, Hội đồng khoa học trờng gửi 2 đề tài tham dự
Hội thi sáng tạo kĩ thuật tỉnh Bắc Giang lần thứ 3. Kết quả cả hai đề tài đều đạt
giải 3. Đó là đề tài ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Hoá học
ở trờng THPT của tổ Hoá do cô giáo Nguyễn Thị Trúc Vân - Tổ trởng tổ Hoá
làm chủ biên và đề tài Phần mềm trộn câu hỏi trắc nghiệm trực tuyến trên mạng
LAN của thầy giáo Nguyễn Văn Điện - giáo viên tổ Toán -Tin.
đ S Giỏo dc v o to Bc Giang gi ton quyn - Bc Giang, thỏng 12 nm 2010
â Ghi rừ ngun trớch dn khi phỏt hnh li - Trang 21
Nm hc 2009-2010 ti Hi ngh nghim thu t i NCKH c p trng, cú
19 t i x p loi Tt, 24 t i x p loi Khỏ. Hi ng khoa hc trng ã chn
gi 3 t i ng kớ cp ng nh, 1 t i ng kớ cp tnh trong năm học 2010-
2011.
Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác NCKH của giáo viên thì hoạt động
NCKH ở học sinh cũng bớc đầu đợc hình thành. Có một số chuyên đề của các em
đã đợc ghi nhận, trong đó nổi bật nhất là Tuyển tập các chuyên đề nghiên cứu
khoa học của học sinh chuyên Toán khoá 16 (2006-2009), t i "Các chuyên
đề giải tích" + "Các chuyên đề đại số" + "Các chuyên đề hình học" + "Các
chuyên đề tổ hợp xác suất " + "Beautiful Solutions" (các lời giải đẹp) của học sinh
chuyên Toán K19 do thy giỏo Nguyn Vn Tin hng dn; chuyên đề Tìm
hiểu về quy trình sản xuất và xử lí chất thải của nhà máy hoá chất và phân đạm
Hà Bắc do tập thể học sinh chuyên Hoá khoá 18 thực hiện dới sự hớng dẫn của
cô giáo Nguyễn Thị Trúc Vân; đ ti "B thi trc nghim mụn sinh hc" của
lp chuyờn Sinh K17, ti "Sinh hc t bo" + ti "Nc v dinh dng
khoỏng" ca lp chuyờn Sinh K18 do thy giỏo Ngụ Vn Bỡnh hng dn.
Cú th núi, hoạt động NCKH ở trờng THPT Chuyên Bắc Giang đã trở thành
công tác thờng xuyên và đang có những chuyển biến tích cực theo hớng thực chất,
hiệu quả. Định hớng của nhà trờng là tiến tới lập th viện điện tử dùng chung để lu
giữ t liệu trong đó có th viện chuyên đề NCKH của giáo viên và học sinh. Hội
đồng khoa học trờng cũng sẽ có những giải pháp mới để khuyến khích khả năng
sáng tạo ở đội ngũ giáo viên, học sinh và giới thiệu rộng rãi các thành quả NCKH
chuyờn mụn, nghip v cho giáo viên và cán bộ quản lý, gúp phn nõng cao cht
lng giỏo dc ton din v thc hin cỏc mc tiờu i mi ca ngnh. Tuy nhiờn
cht lng giỏo dc v o to ph thuc vo nhiu yu t nh c s vt cht
thit b, chng trỡnh sỏch giỏo khoa, phng phỏp dy v hc, cụng tỏc qun lý,
ng c hc tp, thỏi hc tp nhng sáng kiến kinh nghiệm và nghiên cứu
khoa học cng là mt trong nhng yếu tố tỏc ng mạnh mẽ vo cỏc quỏ trỡnh ú
lm cho hiu sut cao hn.
JM5?301I,. x,.8[6,,5\,
Yờn Dng, trong nhng nm qua, cựng vi vic ging dy, cụng tỏc v
hc tp, i ng nh giỏo v cỏn b qun lý giỏo dc trong cỏc n v trng hc
ó tớch cc hng ng phong tro thi ua nghiên cứu khoa học và vit ti, sỏng
kin kinh nghim, gúp phn vo vic nõng cao cht lng trong cụng tỏc qun lý,
chỉ đạo, cụng tỏc dy v hc trong cỏc nhà trờng. Nhiu tp th, cỏ nhõn ó ý thc
c cụng tỏc nghiờn cu khoa hc, ý thc c tỏc dng ca vic vit ti,
sỏng kin kinh nghim nờn ó ch o, t chc thc hin cú hiu qu tt. Hng
nm, ton ngnh ó cú hng trm ti, sỏng kin kinh nghim thuc cỏc cp
hc, ngành học từ phòng GD&ĐT đến cỏc n v nh trng ó gi v hi ng
khoa hc cp huyn c ỏnh giỏ, xp loi. Ni dung cỏc ti SKKN c
bn tp trung vo nghiờn cu vit v cỏc lnh vc cú liờn quan n GD&T,
trng tõm l i mi cụng tỏc qun lý, ch o; i mi cụng tỏc dy v hc; i
mi sinh hot cõu lc b vn hoỏ, vn ngh, TDTT, hot ng ngoi khoỏ; i
mi cụng tỏc bi dng giỏo viờn; i mi sinh hot t chuyờn mụn Mt s
ti, SKKN, ci tin k thut ó cú nhng nột mi, phỏt hin c nhng vn
mi hoc ci tin trờn c s cỏi c, t ú gii quyt tt nhng vn ó v ang
đ S Giỏo dc v o to Bc Giang gi ton quyn - Bc Giang, thỏng 12 nm 2010
â Ghi rừ ngun trớch dn khi phỏt hnh li - Trang 23
đặt ra trong những tình huống cụ thể từng dạng bài, từng kiểu bài cụ thể theo đặc
trưng bộ môn hoặc khối lớp và đã được áp dụng có kết quả tốt trên địa bàn toàn
huyện, tiêu biểu như đề tài “Sinh hoạt chuyên môn cụm (huyện) - một giải pháp
bồi dưỡng giáo viên có hiệu quả” của phòng Giáo dục và Đào tạo; “Đẩy mạnh
tính thực tiễn cụ thể cần phải nghiên cứu, giải quyết mà chỉ là viết để đủ tiêu
chuẩn xét các danh hiệu thi đua hàng năm. Chính vì vậy mà tuy hàng năm có
hàng trăm đề tài, SKKN nhưng chất lượng không tương xứng, không có hiệu quả
cao. Các đề tài, SKKN xếp loại A rất ít, có một số xếp loại B còn chủ yếu là xếp
® Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Giang giữ toàn quyền - Bắc Giang, tháng 12 năm 2010
© Ghi rõ nguồn trích dẫn khi phát hành lại - Trang 24
loại C (loại trung bình), thậm chí vẫn còn một số đề tài không được xếp loại.
Việc nghiên cứu khoa học, viết đề tài SKKN chưa trở thành yêu cầu bức thiết cần
giải quyết. Có những đề tài, SKKN viết cả về những vấn đề rất ít liên quan đến
nhiệm vụ chuyên môn được giao của bản thân người nghiên cứu vì vậy, hiệu quả
cũng không cao. Một vấn đề nữa là, một số cá nhân không chịu nghiên cứu, sáng
tạo tìm tòi còn đi nhờ làm đề tài, thậm chí cá biệt còn có giáo viên đi chép đề tài,
SKKN của người khác, của huyÖn khác. Hoặc một đề tài lại dùng trong nhiều
năm, trong nhiều lần… Một số ít CBQL, giáo viên của chúng ta không biết cách
thức nghiên cứu một vấn đề, không biết viết một đề tài, SKKN. Bố cục, kết cấu
một đề tài, SKKN lộn xộn, đề tài chỉ có lý thuyết chung chung không có số liệu
cụ thể, nhiều khi số liệu không sát với thực tế. Qua nghiên cứu đề tài, SKKN
không rút ra được vấn đề gì, hiệu quả kinh tế, hiệu quả chuyên môn ra sao…
Cũng có trường hợp đề tài, SKKN đã nghiên cứu nhưng chưa được nhân rộng và
áp dụng rộng rãi trong ngành. Đó là những hạn chế của chúng ta trong nghiên
cứu khoa học và viết đề tài, sáng kiến kinh nghiệm.
y.8[6,,5\,34-,5Y,.0l,0I(O5I,35F016,e
-Nguyên nhân chủ quan
Bản thân người viết còn thiếu các điều kiện như thời gian nghiên cứu, thời
gian thu thập thông tin, minh chứng trong thực tế, chưa nắm vững vấn đề, thiếu
thực tiễn giáo dục, giảng dạy. Những vấn đề cần đúc rút, cần có nhiều ý tưởng
chưa được thấm và hiểu kỹ càng nên khi viết thiếu căn cứ khoa học. Một số bộ
phận giáo viên và cán bộ quản lý chưa nhận thức đúng mức về tầm quan trọng
của việc viết đề tài, SKKN và nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng
dạy và học mà chỉ coi đó chỉ là một điều kiện xét thi đua.