i
LỜI CẢM ƠN
“Không thầy đố mày làm nên”. Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này:
Đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban Giám Hiệu trường
Đại Học Nha Trang, các quý thầy cô trong khoa Nuôi Trồng Thủy Sản và tập thể
cán bộ công nhân viên của trung tâm Nghiên Cứu Phát Triển Nuôi Biển Sông Lô
– Nha Trang đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành tới thầy giáo, thạc sĩ Lục Minh
Diệp đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thự hiện đề tài này,
Xin chân thành cảm ơn thạc sĩ Đào Văn Trí, thạc sĩ Nguyễn Văn Hùng đã
hết lòng hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình thực tập.
Cám ơn các bạn lớp 45 NT2 đã giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài.
Cuối cùng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố mẹ và những người thân
trong gia đình đã ủng hộ, giúp đỡ, động viên, khuyến khích tôi cả về vật chất lẫn
tinh thần để hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Một lần nữa xin gửi lời cảm ơn chân thành và lời chúc hạnh phúc tới tất cả
mọi người.
Nha Trang tháng 11 năm 2007
Sinh viên:
Phạm Minh Phương
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
CHÚ THÍCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT vi
iii
2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 20
2.2. Điều kiện thí nghiệm 21
2.3. Cách làm giàu Artemia 22
2.4. Phương pháp xác định các yếu tố môi trường 22
2.5. Phương pháp xác định các thông số và công thức tính toán. 22
2.6. Phương pháp xử lý số liệu 23
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
1. Xác định tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá chẽm 12 ngày tuổi đến 30 ngày
tuổi cho ăn bằng Artemia được làm giàu với nồng độ DHA-protein Selco
khác nhau. 24
1.1. Một số yếu tố môi trường trong bể ương nuôi cá chẽm 24
1.2. Ảnh hưởng của các nồng độ DHA-protein Selco khác nhau tới tốc độ
tăng trưởng của cá chẽm. 25
1.3. Ảnh hưởng của các nồng độ DHA-protein Selco khác nhau tới tỷ lệ
sống của cá chẽm. 31
2. Xác định tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá chẽm 12 ngày tuổi đến 30 ngày
tuổi cho ăn Artemia làm giàu bằng các chất làm giàu: DHA-protein Selco,
LSA và tảo. 33
2.1. Một số yếu tố môi trường trong bể ương nuôi cá chẽm 33
2.2. Ảnh hưởng của các chất làm giàu khác nhau đến sự sinh trưởng của cá
chẽm 12 ngày tuổi đến 30 ngày tuổi 34
2.3. Ảnh hưởng của các chất làm giàu khác nhau đến tỷ lệ sống của cá
chẽm giai đoạn từ 12 ngày tuổi đến 30 ngày tuổi. 40
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN. 42
1. Kết luận 42
1.1. Xác định tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá chẽm 12 ngày tuổi đến 30
ngày tuổi cho ăn bằng Artemia được làm giàu với các nồng độ DHA-
protein Selco khác nhau. 42
Hình 2: Phân bố theo địa lý của cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790) 6
Hình 3: Sơ đồ di cư của cá 7
Hình 4: Cá chẽm đực và cái trưởng thành 9
Hình 5: Các giai đoạn phát triển trứng. 11
Hình 6: Chiều dài trung bình cá ở các nghiệm thức làm giàu với các nồng độ
khác nhau. 26
Hình 7: Khối lượng trung bình của cá ở các nghi thức làm giàu với nồng độ
khác nhau tại ngày thứ 30 26
Hình 8: Biểu đồ thể hiện sự sinh trưởng tương đối ở cá chẽm qua các ngày
tuổi (%/ ngày) 29
Hình 9: Biểu đồ thể hiện sự sinh trưởng tuyệt đối ở cá chẽm qua các ngày
tuổi (mm/ ngày) 30
Hình 10: Tỷ lệ sống của cá ở các nghiệm thức làm giàu khác nhau 31
Hình 11: Sự tăng trưởng chiều dài ở các nghiệm thức làm giàu khác nhau. 34
Hình 12: Biểu đồ thể hiện khối lượng trung bình cuả cá ở các nghiệm thức
làm giàu khác nhau ngày thứ 30. 35
Hình 13: Biểu đồ thể hiên sự sinh trưởng tương đối (%/ ngày) ở các nghiệm
thức sử dụng các chất làm giàu khác nhau. 38
Hình 14: Biểu đồ thể hiện sự sinh trưỏng tuyệt đối theo chiều dài cá (mm/
ngày) ở các nghiệm thức sử dụng các chất làm giàu khác nhau 38
Hình 15: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ sống của cá ở các lô làm giàu khác nhau 40
vi
CHÚ THÍCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT L : lít.
h : Giờ.
g : Gam.
dinh dưỡng, ít cholesterol, có giá trị thương phẩm cao cho xuất khẩu. Đây là đối
tượng nuôi hấp dẫn ở các vùng nước lợ của nhiều quốc gia đặc biệt là Thái Lan.
Từ khi việc sản xuất giống nhân tạo cá chẽm thành công, nghề nuôi cá chẽm ở
nước này trở lên phổ biến dưới nhiều hình thức khác nhau và đã đạt được những
thành quả rất lớn.
HUFA là chất béo rất cần thiết có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh
trưởng và phát triển của cá biển. Tuy nhiên khả năng tổng hợp HUFA của cá biển
nói chung và cá chẽm nói riêng là không có. Vì vậy phải đưa các chất này vào cơ
thể cá chẽm thông qua các loại thức ăn làm giàu nhằm nâng cao tốc độ tăng
trưởng và tỷ lệ sống của cá.
Xuất phát từ thực tế trên, nhằm mục đích tạo cho sinh viên làm quen với
nghiên cứu khoa học tôi đã được trường Đại học Nha Trang và khoa Nuôi trồng
Thủy sản phân công thực hiện đề tài:
“Xác định sự ảnh hưởng của các chất làm giàu đến sự tăng trưởng và
tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790) giai đoạn 12
ngày tuổi đến 30 ngày tuổi” với nội dung sau:
- Xác định tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá chẽm 12 ngày tuổi đến 30 ngày
tuổi cho ăn bằng Artemia được làm giàu với các nồng độ DHA-protein Selco
khác nhau.
2
- Xác định tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá chẽm 12 ngày tuổi đến 30 ngày
tuổi cho ăn Artemia làm giàu bằng 2 loại chất làm giàu: DHA-protein Selco và
LSA.
Mục đích và ý nghĩa của đề tài:
- Tìm ra được nồng độ DHA-protein Selco làm giàu phù hợp để nâng cao tỷ
lệ sống và tốc độ tăng trưởng.
- Tìm ra chất làm giàu mang lại tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng cao cho cá
chẽm giai đoạn 12 ngày tuổi đến 30 ngày tuổi.
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xác định các thông số kỹ thuật
1. Đặc điểm sinh học của cá chẽm
1.1. Hệ thống phân loại.
Cá chẽm đã được Bloch mô tả đầu tiên và đặt tên Holocentrus calcarrifer
vào năm 1790. Đến năm 1828, Cuvire và Vanlenciennes xếp loài này vào giống
Lates và lấy tên là Lates calcarifer. Đến 1976 Gereewood xếp giống Lates vào
họ Centropomidate. Về phân loại và đặt tên cho loài cá này có nhiều tác giả
nghiên cứu như Reynonds (1978), Moore (1980), Dunstan (1959, 1962),
Katayama et al (1977), Bahana và Soesanta (1982)…. Tuy nhiên cách phân loại
Lartes calcarifer (Bloch) được ghi trong Appendix I (FAO 1974) và được nhiều
nhà phân loại chấp nhận [5]. Hình 1: Cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790)
Vị trí phân loại cá Chẽm ở Việt Nam đã được Mai Đình Yên (1979),
Nguyễn Nhật Thi (1991) xác định, ở Việt Nam chỉ có một loài duy nhất và được
vị trí phân loại của nó giống như hệ thống phân loại cá Chẽm của Bloch (1790)
4
Hệ thống phân loại của cá chẽm: Lates calcarifer (Bloch, 1790) (FAO,
1974)
Ngành : Choraeta
Ngành phụ : Vertebrata
Lớp : Pisces
Lớp phụ : Teleostomi
Bộ : Perciformes
Họ : Centropomidae
Giống : Lates
Loài : Lates calcarifer ( Bloch, 1790).
:
Ikan, salung-sung
Vietnam :
Ca-chem, cavuoc
Kampuchea
:
Tvey spong
Philippines :
Kakap, apahap, bulgan, salongsong, katuyot,
matang pusa
Indonesia :
Kakap, pelak, petcham, telap
Australia
and Papua
New Guinea
:
Barramundi
5
1.2. Hình thái và đặc điểm nhận dạng.
Cá chẽm có thân dài, dẹp, cuống đuôi khuyết sâu. Đầu nhọn, nhìn bên cho
o
30
/
S)
thuộc tây Australia (Morrissy, 1985) [4].
6Hình 2: Phân bố theo địa lý của cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790)
(FAO, 1974).
Nguyên nhân dẫn đến hình thành các giới hạn phân bố được xác định có thể
do điều kiện sống không phù hợp hoặc do sự cạnh tranh của các loài cá có cùng
giới hạn về nhiệt độ, độ muối tương tự [2].
Theo Mai Đình Yên (1979) ở Việt Nam cá Chẽm phân bố rộng từ Móng
Cái đến Mũi Cà Mau trong tất cả các thuỷ vực nước lợ, măn, ngọt [3].
- Phân bố theo vùng sinh thái
Cá chẽm là loài rộng muối, có thể sống được ở vùng nước ngọt, lợ, mặn và
có tính di cư xuôi dòng. Cá thành thục sinh dục thường tìm thấy ở các vùng cửa
sông, hồ hay các đầm nước lợ, nơi có độ mặn cao và ổn định từ 30-32‰, độ sâu
từ 10-15m để đẻ trứng. Trứng và ấu trùng trôi vào vùng cửa sông. Nơi đó, ấu
trùng sẽ phát triển và di cư ngược dòng để lớn lên.
7
Bãi sinh trưởng
(nước ngọt và nước lợ)
Bãi sinh trưởng cá con
(nồng độ muối 25-30ppt)
Theo Kungvankij (1981), tốc độ sinh trưởng của cá chẽm có hình cong
Sigma. Cá tăng trưởng chậm ở giai đoạn đầu, khi đạt trọng lượng khoảng 20 – 30
g tốc độ tăng trưởng nhanh hơn và chậm khi trọng lượng khoảng 4000 g.[1]
di cư xuôi dòng
di cư ngược dòng
8
Ở ngoài tự nhiên cá 1
+
đạt chiều dài 30 cm, tuổi 3
+
đạt khoảng 58 cm, tuổi
4
+
đạt 69 cm, tuổi 6 – 9
+
có chiều dài từ 85 – 100 cm.
Trong điều kiện môi trường nuôi, sau 1 năm cá nuôi có thể đạt từ 600 –
1000 g/con. Sau 2 -3 năm cá có thể đạt 3 – 5 kg/ con.
1.5.2. Dinh dưỡng.
Theo FAO (1982), Cosultarak (1984), Chon (1984), IDRC (1985) và một
số viên nghiên cứu của châu Á và Châu Úc đã nghiên cứu cá Chẽm nuôi nhân tạo
và kết luận rằng: cá chẽm là loài cá ăn mồi sống, phổ thức ăn rộng từ bọn giáp
xác phù du đến bọn giáp xác có kích cỡ lớn và một số loài cá có kích cỡ nhỏ [4].
Davis (1986) cho rằng: cá có kích cỡ 14 – 20 mm đã bắt đầu ăn loài cá nhỏ
với tỷ lệ 0,8% trong khẩu phần thức ăn và tăng dần lên 87% khi cá đạt kích cỡ
1cm. Barlow & ctv (1993) ở cá có kích cỡ từ 10 – 49 mm khẩu phần ăn vào
khoảng 96,0 – 97,7% là giáp xác cỡ nhỏ, phần còn lại động vật, côn trùng và
0,9% là động vật không xương sống khác. Khi cá đạt kích thước 50 – 56 mmm
trong khẩu phần có khoảng 98,2% là Moina, 0,9% côn trùng và 0,9% là động vật
+
với chiều dài
toàn thân 420mm dã phát dục thành thục sinh dục lần đầu, đây là những con cá
cái không phải từ cá đực chuyển giới tính sang, còn có những con cá cái từ con
đực biến thành thì phát dục thành thục lần đầu với tư cách là cá cái ở tuổi 5
+
và
chiều dài toàn thân khoảng 730mm [2]. Như vậy tuổi thành thục lần đầu của cá
chẽm ở độ tuổi 3
+
-5
+
và trọng lượng 3-6 kg và kích thước cơ thể nhỏ nhất là
510mm [5,6], Tuy nhiên trong điều kiện nuôi nhốt cá có thể thành thục sớm hơn.
Hình 4: Cá chẽm đực và cái trưởng thành.
10
1.6.3. Mùa vụ sinh sản và sức sinh sản.
Mùa vụ sinh sản: cá chẽm sinh sản quanh năm, nhưng thời điểm chính vụ là
từ tháng 4- tháng 8 [6].
Cá chẽm có sức sinh sản tương đối lớn, theo Dunstan (1962) thì sức sinh
sản của cá chẽm khoảng 60-100 vạn trứng/kg cá [5].
Theo Patnaik và Jena (1976), Kungvankij et al (1984), sức sinh sản của cá
chẽm cái có liên quan đến chiều dài và trọng lượng cá [5]. Cá có trọng lượng từ
5,5 – 11 kg cho khoảng 2,1 – 7,1 triệu trứng (Wongsomnuk & Maneewongsa,
1794). Theo Anon, 1975 cho thấy cá 12kg cho 7,5 triệu trứng, cá 14,5 kg cho 8,5
bình 1,49mm, noãn hoàn dài trung bình 0,86 mm, có một giọt dầu nằm ở phần
trước noãn hoàng và chính giọt dầu này làm cho cá mới nở nổi được (nổi theo
chiều thẳng đứng hay khoảng 45
o
so với mặt phẳng ngang).
Lúc đầu sự hình thành sắc tố không đồng loạt: mắt, ống tiêu hóa, lỗ huyệt
và vây đuôi trong suốt. Ba ngày sau khi nở, cá sử dụng hết noãn hoàng, hoạt
GĐ phôi nang
GĐ phôi vị
GĐ phôi thần kinh
Phôi đang phát triển
Phôi hoàn chỉnh Nở
Ấu trùng mới nở
12
động còn không đáng kể, miệng mở ra, hàm bắt đầu cử động và ấu trùng bắt đầu
sử dụng thức ăn bên ngoài. Khi cá đạt 25 – 30 ngày tuổi thì cá chuyển sang màu
sáng bạc [4]. Lúc này, nếu cá khỏe mạnh thì bơi lội chủ động và cơ thể có màu
nhạt hơn, còn cá yếu thì cơ thể có màu đen hay sậm.
1.7. Khả năng thích ứng với môi trường.
Cá chẽm sống trong môi trường nước, do đó phải chịu sự chi phối của
nhiều yếu tố thủy lý, thủy hóa. Dưới đây là một số yếu tố chính ảnh hưởng đến
đời sống của cá chẽm:
- Độ mặn: cá chẽm là loài rộng muối nên chúng có thể sống và sinh trưởng
tốt trong môi trường có độ mặn dao động từ 0 – 32 ppt, thậm chí là 35ppt. Song
độ mặn thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của trứng và ấu trùng cá chẽm
là 28 – 32 ppt (Davis 1985, Maneewongsa và Tattanon 1982,…) [5].
- Nhiệt độ: thích hợp cho cá chẽm sinh trưởng và phát triển là từ 26 – 38
o
C,
Hannafi (1986), mật độ nuôi có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá.
Theo Maneewongsa & ctv (1987), mật độ nuôi ban đầu với ấu trùng 1-12 ngày
tuổi nên là 50 con/lít. Nếu mật độ cao hơn thì tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng
giảm Kungvankij & ctv (1986) cho rằng, mật độ nuôi tối da cho cá chẽm sinh
trưởng bình thường là khoảng 10 – 20 con/lít trong giai đoạn 13 – 29 ngày tuổi.
Sateemechaikul & petchrifd (1986) đã đưa ra mật độ tối đa cho ương cá chẽm
giai đoạn 25 - 50 ngày tuổi là 20 con/lít (trích luận văn Đặng Thị Ái Quỳnh,
2006).
Trong quá trình ương nuôi cá chẽm nhân tố quyết định sự thành công của
quá trình sản xuất giống cá chẽm là chuẩn bị đầy đủ và kịp thời các sinh vật làm
thức ăn cho cá bột. theo Maneeewong và ctv (1981) thí nghiệm với 3 loại thức ăn
luân trùng, luân trùng + Artemia, luân trùng + Moina, để ương ấu trùng từ 3 – 15
ngày tuổi cho biết tỷ lệ tương ứng là: 40%; 47,5%; 19,1%. Kết quả thí nghiệm
chỉ ra rằng việc sử dụng luân trùng kết hợp với Atermia là thức ăn phù hợp hơn
cả trong giai đoạn này, nhiều khi sử dụng Moina làm thức ăn cho cá 15 ngày tuổi
trở đi cho tỷ lệ sống cao khoảng 91%. Theo tác giả, để giảm chi phí của giai đoạn
ương sử dụng Artemia, cá bột có thể cho ăn luân trùng (15 – 20) ngày tuổi và
Moina sau 15 ngày tuổi. Hiện nay các nhà nghiên cứu đã thành công trong sản
xuất thức ăn công nghiệp làm bổ sung thêm thức ăn tươi sống. Trong nghề nuôi
cá chẽm thương phẩm thức ăn còn là vấn đề cần giải quyết, hiện cá tạp là nguồn
thức ăn chủ yếu cho cá chẽm. Một bước phát triển gần đây trong việc cải tiến
khẩu phần thức ăn của cá chẽm là việc sử dụng thức ăn ẩm được chế biến theo
quy trình nhất định tuy nhiên vấn đề này trong giai đoạn thử nghiệm. Theo
WongvafChu (1989), khẩu phần thức ăn tốt nhất cho giai đoạn nuôi cá thịt là 40
– 45% protein thô và 12% lipit.
14
2.2. Nghiên cứu cá chẽm ở Việt Nam.
Trước đây ở nước ta cá chẽm chỉ là đối tượng khai thác tự nhiên và nuôi
quảng canh nước lợ rộng rãi ở một số nơi. Nhưng nay cá chẽm đã được sản xuất
hơn so với luân trùng không được làm giàu HUFA. Cá sống ở độ mặn 10-
20‰thích hợp cho sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chẽm giai đoạn 25-60 ngày
tuổi.
Hiện nay, việc sinh sản giống nhân tạo cá chẽm đã thành công và đã xác
định được một số kỹ thuật trong quá trình ương nuôi cá chẽm. Để có thể hoàn
thiện hơn qui trình ương nuôi cá chẽm cần có những nghiên cứu về yếu tố sinh
thái ảnh hưởng đến hoạt động của cá.
3. Những nghiên cứu về axit béo.
3.1. Giới thiệu chung về axit béo.
Theo C.D.Webster & C.Lim (2002), các axit béo là thành phần chính của
mọi lipit. Các axit béo có trong mỡ (một dạng tồn tại phổ biến của lipid) thường
có mạch carbon không phân nhánh, có số carbon chẵn và được chia làm hai
nhóm : axit béo no và axit béo không no. Căn cứ vào số lượng nối đôi, người ta
chia axit béo không no thành các dạng PUFA (polyunsaturated fatty acids – có ít
nhất hai nối đôi trong mạch carbon) và HUFA (highly unsaturated fatty acids –
có từ 4-6 nối đôi trong mạch carbon). Giá trị dinh dưỡng của của các axit béo
không no phụ thuộc vào số lượng carbon, số lượng nối đôi và vị trí nối đôi đầu
tiên trong mạch carbon.
Một số axit béo thường gặp và có giá trị dinh dưỡng cao trong thành phần
thức ăn của động vật thủy sản:
Axit oleic: 18:1n-9, công thức cấu trúc:
CH
3
(CH
2
)
7
CH=CH(CH
2
)
3
(CH
2
)COOH
Axit arachidonic (ArA): 20:4n-6
CH
3
(CH
2
)
4
(CH=CHCH
2
)
4
(CH
2
)COOH
16
Axit eicosapentaenoic (EPA):20:5n-3
CH
3
CH
2
(CH=CHCH
2
)
5
Dhert & ctv (1990) chứng minh rằng việc thiếu HUFA n-3 sẽ làm chậm
quá trình biến thái hay làm cho quá trình biến thái không xảy ra cũng như làm
giảm khả năng chịu sốc độ mặn cao ở 65‰ của ấu trùng cá chẽm.
Giống như các loài động vật có xương sống khác, cá có nhu cầu các loại
HUFA để sinh trưởng bình thường và phát triển, thực hiện quá trình sinh sản. Vai
trò sinh lý, tế bào, sinh hóa của các loại HUFA này đối với cá cũng như các loài
động vật có xương sống đã được biết đến một cách rộng rãi và thường là hai loại
sau:
- Vai trò trong việc duy trì toàn bộ cấu trúc và chức năng của màng tế bào.
- Vai trò đặc biệt hơn là tiền chất của nhóm hormone có vai trò quan trọng
trong cơ thể được gọi chung là eicosanoid.
Đối với cá, DHA và EPA đóng vai trò là những HUFA chính của màng tế
bào. Trong phospholipids màng tế bào của cá biển có chứa một lượng lớn DHA
17
và EPA cá biển không thể thực hiện sinh tổng hợp DHA từ những axit béo
chuỗi ngắn hơn như axit linoleic. Vì vậy, DHA và EPA là những thành phần cần
thiết cho cá biển [16,17].
Theo Sargent & ctv (1997,1999), ở cá biển cũng như thú, DHA tồn tại với
hàm lượng rất cao trong màng tế bào thần kinh và tế bào thị giác. Giai đoạn ấu
niên nếu cá thiếu DHA sẽ mất khả năng bắt mồi ở cường độ ánh sáng thấp mặc
dù các tế bào hình que nhận cảm ánh sáng vẫn có tác dụng kèm theo đó là khả
năng nhìn bị hạn chế [18,19]. Như vậy, khẩu phần thức ăn thiếu DHA sẽ có thể
làm cho cá xuất hiện những khiếm khuyết lớn trong phát triển thần kinh và thị
giác, nghiêm trọng hơn sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình sinh lý và hoạt động
của các cơ quan chịu sự điều khiển của tuyến nội tiết.
Sự hình thành sắc tố không bình thường là hiện tượng phổ biến với ấu
trùng cá biển nuôi, chẳng hạn như cá flounder (Paralichthys olivaceus), cá
turbot (Psetta maxima) và cá halibut (Hippoglossus hippoglossus), tuy nhiên
hiện tượng này có thể giảm một các đáng kể bằng cách tăng hàm lượng DHA
HIGASIMARU LSR được củng cố cho Artemia giúp hấp thu nhanh trọn
vẹn trong khoảng 4 giờ nuôi, trước khi cho cá biển ăn.
Được kết hợp giữa Lexithin và carotenoid, với lipid bền vững, tuyệt đối tốt
với những đặc trưng chống bệnh một cách hiệu quả như mong muốn [26].
3.3.2. DHA-protein Selco.
Là chất làm giàu dạng bột, dùng để làm giàu cho luân trùng và Artemia,
cung cấp các hàm lượng chất béo cho cá biển.
Thành phần:
Độ ẩm 5%
Protein 27%
Lipid 29%
Khoáng 12%
Chất xơ 1%
Phosphorus 0,5%
Vit.A 1.500.000 IU/ kg
19
Vit.D
3
150.000 IU/ kg
Vit.E 7.200 IU/ kg
Vit.C 20.000 IU/ kg
DHA/EPA 2.5
3
HUFA min.75mg/g dwt
3.3.3. Tảo Nanochloropsis oculata.
Tảo là loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, giàu vitamin, phân tán tốt