Biện pháp quản lý việc làm đêm ở các trường THCS quận 6 TP HCM - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------
Đinh Phú Cường MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VIỆC LÀM ĐIỂM Ở
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
CBQL : Cán bộ quản lý
CNTT : Công nghệ thông tin
ĐC : Đối chứng
GV : Giáo viên
HL : Học lực
HK : Hạnh kiểm
ND : Nội dung
QL : Quản lý
SL : Số lượng
TL : Tỉ lệ
TB : Trung bình
TN : Thực nghiệm
TPHCM : Thành phố Hồ Chí Minh MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục Việt Nam trong thế kỉ XXI đang ngày càng phát triển. Chương trình, sách
giáo khoa của giáo dục Việt Nam đang được đổi mới và tiến hành thực hiện đại trà, giáo
dục đã và đang mang lại nhiều thành tựu nổi bật cho sự phát triển của đất nước, vì thế Đảng
và nhà nước ta vẫn luôn xác đònh Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Song song đó, kể từ
năm 1991, ngành giáo dục đã trải qua 3 lần thay đổi cách đánh giá xếp loại học lực của học
sinh theo các quyết đònh 1778 / năm 1991, quyết đònh 04/ năm 2001 và quyết đònh 40/ năm
2006 cùng hàng loạt các văn bản hướng dẫn bổ sung, chỉnh lý quyết đònh 40 /2006 đang áp
dụng hiện nay. Chính vì có quá nhiều thay đổi cách xếp loại như vậy nên nhìn chung giáo
viên cũng phải vất vả tiếp cận để làm theo, điều này cũng làm cho tâm lí giáo viên không
thật sự thoải mái.

Xuất phát từ những lí do trên, đề tài “MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VIỆC LÀM
ĐIỂM Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 6 – TPHCM”
được xác lập.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu để làm rõ thực trạng việc làm điểm của giáo viên và biện pháp quản lý
việc làm điểm của cán bộ quản lý các trường trung học cơ sở trên đòa bàn quận 6 –
TPHCM, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm quản lý tốt công việc này.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu:
Việc làm điểm và biện pháp quản lý việc làm điểm ở các trường trung học cơ sở trên
đòa bàn quận 6 – TPHCM.
- Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp quản lý việc làm điểm ở các trường trung học cơ sở tại Quận 6 – TPHCM.
4. Giả thuyết khoa học
Quản lý việc làm điểm của cán bộ quản lý các trường trung học cơ sở trên đòa bàn
quận 6 – TPHCM cũng còn nhiều hạn chế. Nếu áp dụng một số biện pháp như ứng dụng
công nghệ thông tin vào toàn bộ quá trình làm điểm của giáo viên; tăng cường kiểm tra đột
xuất qua hệ thống sổ điểm chính, bài kiểm tra học sinh và tiến hành kiểm tra tập trung toàn
trường và chấm chéo một số bài kiểm tra một tiết sẽ nâng cao hiệu quả công tác quản lý
việc làm điểm trên.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận có liên quan nhằm hình thành hệ thống khái niệm, hệ thống lí
luận để nghiên cứu đề tài.
- Nghiên cứu thực trạng việc làm điểm của giáo viên và công tác quản lý việc làm điểm
của cán bộ quản lý ở các trường trung học cơ sở trên đòa bàn Quận 6 – TPHCM và bước
đầu tìm ra một số nguyên nhân.
- Tiến hành thực nghiệm các biện pháp đã đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản
lý việc làm điểm của giáo viên.
6. Phạm vi nghiên cứu
Do giới hạn về thời gian, kinh phí thực hiện nên đề tài chỉ nghiên cứu:

câu 4, 6 và 8). Phiếu điều tra thực nghiệm gồm 60 phiếu được phát ra cho các giáo viên tiến
hành thực nghiệm tại trường trung học cơ sở Hậu Giang, Quận 6 – TPHCM. Phiếu điều tra
thực nghiệm gồm 6 câu hỏi, được chia làm 3 nhóm, nhóm câu hỏi về kết quả thực nghiệm
(các câu 1, 2, 3 và 5), nhóm câu hỏi về nhận đònh sau khi tiến hành thực nghiệm (câu hỏi 4)
và câu hỏi nêu lên nhận đònh của bản thân sau khi tiến hành thực nghiệm (câu số 6). Các
phiếu điều tra thực nghiệm sẽ giúp tác giả thu nhận kết quả phản hồi sau khi tiến hành thực
nghiệm để qua đó rút ra kết luận chung về thành công và hạn chế của quá trình thực
nghiệm, đồng thời qua đó khẳng đònh giả thuyết khoa học đã được đề cập trong luận văn
nghiên cứu.
7.2.2. Phương pháp quan sát
Quan sát có kết hợp ghi biên bản nhằm tìm hiểu thực tế biện pháp ứng dụng công
nghệ thông tin trong việc làm điểm của giáo viên và công tác quản lý việc làm điểm của
cán bộ quản lý các trường trung học cơ sở trên đòa bàn quận 6 – TPHCM. [Phụ lục 4]
7.2.3. Phương pháp đàm thoại
Tiến hành trao đổi với một số cán bộ quản lý phòng giáo dục đào tạo, cán bộ quản lý
là hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn các trường trung học cơ sở thuộc đòa
bàn quận 6 – TPHCM. Bộ câu hỏi đàm thoại gồm các câu hỏi như sau: Thầy cô nhận đònh
như thế nào về việc làm điểm của giáo viên hiện nay; Thầy cô nhận đònh như thế nào về
việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc làm điểm của giáo viên; Sau khi ứng dụng
công nghệ thông tin trong việc làm điểm, thầy cô nhận thấy nó có giúp ích gì cho công tác
quản lý của thầy cô trong nhà trường; Khó khăn của việc quản lý điểm hiện nay là gì; Việc
kiểm tra chéo trong nhà trường đã đem lại hiệu quả gì; Việc kiểm tra ngẫu nhiên hồ sơ ghi
điểm của giáo viên đem lại lợi ích gì cho công tác quản lý chuyên môn trong nhà trường.
7.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Là phương pháp chủ yếu nhằm kiểm chứng tính hiệu quả, tính khả thi của các biện
pháp. Việc thực nghiệm được tiến hành bằng cách tác động các biện pháp đề xuất lên nhóm
thực nghiệm và nhóm đối chứng không thực hiện các biện pháp tác động. Trước khi thực
nghiệm, kiểm tra tính tương đồng giữa hai nhóm và kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm
nghiên cứu sau khi tác động thực nghiệm.
7.3. Phương pháp thống kê toán học Sơ đồ 1.1. Vai trò của công tác đánh giá trong nhà trường
Hiệu trưởng
Giáo viên
Học sinh
Nhà trường
ĐÁNH GIÁ
Ta thấy rằng công tác đánh giá có vò trí rất quan trọng trong nhà trường, nó giúp đánh
giá công tác quản lý của lãnh đạo nhà trường, đánh giá giáo viên, đánh giá học sinh và
đánh giá tổng thể về nhà trường. Qua đó, những thông tin đánh giá được phản hồi ngược về
cho các đối tượng cụ thể để qua đó nhằm kiểm chứng thông tin đã thu thập được với mong
muốn tìm ra cách thức quản lý, cách thức giảng dạy hoặc cách thức học tập sao cho hiệu
quả hơn.
Trong bài nghiên cứu của mình với tựa đề công tác đánh giá và tự đánh giá trong nhà
trường, giáo sư Peter Rudd và giáo sư Deborah trường đại học Cardiff đã khẳng đònh về vai
trò của công tác đánh giá như sau: “công tác đánh giá trong trường học là cần thiết để giúp
phát triển cơ chế giám sát và cải thiện chất lượng giảng dạy và học tập; công tác đánh giá
đòi hỏi phải có một số chuẩn bò thật chu đáo và cẩn thận; mục đích của công tác đánh giá là
tự nâng cao tiêu chuẩn để hỗ trợ giáo viên và học sinh phát triển”.[37
]
Do đề tài có liên quan đến việc thực nghiệm ứng dụng công nghệ thông tin, vì vậy
xin được lược khảo thêm một số đề tài nghiên cứu có liên quan đến việc ứng dụng công
nghệ thông tin trong quản lý giáo dục hiện nay trên thế giới
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý các ngành nói chung và đặc biệt là
trong quản lý giáo dục đã được quan tâm và ứng dụng từ rất lâu, tác dụng và tầm ảnh hưởng
của công nghệ thông tin đến hiệu quả quản lý nhà trường cũng được nhiều tác giả ở nhiều
nước đề cập đến. Trong bài viết nghiên cứu của mình, Peter Van Gils, chuyên gia của Bỉ

tựa đề “Đánh giá chất lượng để đạt được sự hoàn hảo” (Tên tiếng Anh là Assessment for
excellence), Alexander W. Astin đã nghiên cứu về công tác đánh giá, ông đã chỉ ra tầm
quan trọng và lợi ích mà công tác đánh giá đem lại, ông nhận đònh như sau “các giảng viên,
các nhà quản lý và những người thực hiện hoạt động đánh giá cần phải hiểu tại sao họ đánh
giá và kết quả sẽ được sử dụng như thế nào để thúc đẩy chính sách và hoạt động giáo dục.”
hay khi viết về ích lợi của việc đánh giá đối với sinh viên, Astin viết “việc đánh giá thúc
đẩy sự phát triển năng lực gián tiếp hơn khi nó làm rõ hoặc thông báo cho người dạy biết về
tính hiệu quả của những chính sách và hoạt động giáo dục.” [1, tr.29 - 30]
Đánh giá chất lượng giáo dục nói chung từ trước tới nay luôn là vấn đề mang tính thời
sự không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả các quốc gia trên thế giới. Việc Astin nhận đònh tầm
quan trọng của công tác đánh giá cho thấy rằng tất cả các quốc gia, các trường học dù lớn
hay nhỏ, phát triển, đang phát triển hay chưa phát triển đều có ý thức về tầm quan trọng
của nó.
Tóm lại, nhận đònh của hai tác giả trên cho ta thấy công tác đánh giá có ý nghóa rất to
lớn trong trường học và lợi ích của việc ứng dụng công nghệ thông tin là không thể đo đếm
được khi được áp dụng triệt để trong nhà trường nhằm phục vụ cho công tác quản lý, giảng
dạy và học tập.
1.1.2. Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Trong công tác kiểm tra và đánh giá trong giáo dục, Giáo sư Trần Bá Hoành đã
khẳng đònh kiểm tra đánh giá là khâu có ý nghóa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng
và hiệu quả giáo dục. Ông cũng nhận đònh rằng đánh giá không đơn thuần chỉ là ghi nhận
thực trạng mà còn là đề xuất những quyết đònh làm thay đổi thực trạng.[32]. Nếu nhận đònh
của GS Trần Bá Hoành đề cập đến vai trò của công tác đánh giá thì PGS.TS. Trần Khánh
Đức, Đại học quốc gia Hà Nội lại đề cập đến khía cạnh thực trạng công tác đánh giá trong
hệ thống giáo dục tại Việt Nam hiện nay, ông cho rằng các hình thức kiểm tra đánh giá
thiên về ghi nhớ, nhắc lại những nội dung giảng dạy hiện nay tại Việt Nam đã bộc lộ nhiều
hạn chế như không phát huy khả năng sáng tạo của người học, không tận dụng được khả
năng linh hoạt, sáng tạo của người học [29]. Hay như TS. Nguyễn Kim Dung, Viện nghiên
cứu giáo dục trường Đại học sư phạm TPHCM lại có cách nhìn khác về công tác đánh giá
hiện nay ở Việt Nam. Trong nghiên cứu của mình, bà cho rằng đánh giá giáo dục hiện nay

dữ kiện, dữ liệu thành sản phẩm nuôi dưỡng cơ thể mà ở đây chính là hoạt động của các cơ
sở giáo dục.
Thực tại vốn đang yếu và thiếu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin ở các trường
học hiện nay đã được Bộ giáo dục và đào tạo nhận ra và đã quyết đònh chọn năm học 2008
– 2009 là năm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và giảng dạy và đây
cũng được xem như là năm bản lề cho nhiều sự thay đổi của ngành trong tương lai.
Trong hội thảo về việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục do Bộ
giáo dục và đào tạo chủ trì được đăng trên Tuổi trẻ online ngày 30 tháng 8 năm 2008, ông
Quách Tuấn Ngọc, Cục trưởng cục Công nghệ thông tin – Bộ giáo dục và đào tạo nhận
đònh: “không chỉ được áp dụng rộng rãi ở những nơi có điều kiện như TPHCM hoặc Hà Nội…
công nghệ thông tin đang ngày càng được ngành giáo dục các đòa phương, kể cả các tỉnh
miền núi, vùng khó khăn chú trọng vào công tác quản lý và giảng dạy.” [26]. Cũng trong
buổi hội thảo trên, ông Đỗ Văn Xê – Phó hiệu trưởng trường Đại học Cần Thơ cũng nhận
đònh: “để ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả, lãnh đạo các đơn vò phải là người đi tiên
phong. Các trường phải mạnh dạn đưa công nghệ mới vào ứng dụng và kết hợp nhiều nguồn
lực, trong đó có nguồn lực hợp tác quốc tế.” [26]
Tiếp sau hội nghò của Bộ giáo dục và đào tạo về việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin trong quản lý và giảng dạy, nhiều Sở giáo dục và đào tạo các Tỉnh, Thành cũng
đã tổ chức những hội thảo chuyên đề, những hội nghò quán triệt nhằm cụ thể hóa nội dung
chỉ đạo của Bộ giáo dục và đào tạo về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tại hội
nghò chuyên đề Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy: cần có sự đầu tư đồng bộ
được Sở giáo dục đào tạo Đồng Nai tổ chức vào trung tuần tháng 11 năm 2008, hội nghò đã
nêu một số nhận đònh như sau: “Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc đổi
mới phương pháp giảng dạy cũng như quản lý học sinh. Nhiều trường đã triển khai ứng dụng
thành công các chương trình phần mềm phục vụ giáo viên, học sinh, sinh viên như đăng kí
môn học, quản lý điểm, quản lý kế hoạch học tập, đồ dùng dạy học, thư viện và còn thiết lập
website để giao tiếp với phụ huynh học sinh…”[27]
Nhận xét về tầm quan trọng của công nghệ thông tin đối với giáo dục, ông Nguyễn
Minh Hùng, phó hiệu trưởng trường cao đẳng sư phạm Đồng Nai nhận đònh tại hội nghò:
“việc ứng dụng công nghệ thông tin là rất cần thiết. Nhận thức được tầm quan trọng của

phần mềm School Manager của công ty thiết bò trường học chuyên dùng để quản lý nhân
sự, quản lý học sinh… 1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm Quản lý
Khái niệm quản lý là một khái niệm tổng quát, nó được dùng trên rất nhiều lónh vực
xã hội, khoa học, sản xuất. Tùy theo cách tiếp cận mà có những khái niệm phù hợp với từng
lónh vực cụ thể. Khái niệm quản lý được một số tác giả nước ngoài đònh nghóa như sau:
Mary Parker Follet, chuyên gia nghiên cứu quản lý và xã hội của Mó, bà nhận đònh về
quản lý như sau: “quản lý là hoạt động của một nhóm người cùng hướng về một mục
đích”[16, tr. 35]. Follet cũng chỉ ra nhiều dạng quản lý khác nhau như quản lý trong kinh
doanh (in business), quản lý trong y học (in medicine), quản lý trong thể thao (in sports),
quản lý trong nghệ thuật (in art), quản lý trong máy tính (in computing )….[16, tr.35]
Tác giả Marina Pinto, một nhà nghiên cứu xã hội học thì cho rằng: “Quản lý là một
hoạt động thiết yếu nảy sinh khi có một nỗ lực tập thể nhằm thực hiện các mục tiêu chung.”
[16,tr.35]
Gần giống với quan điểm của tác giả Marina Pinto, Harold Koontz, một chuyên gia
thương mại Mó lại nhận đònh: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp
những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.”[11, tr.36]
Trong khi đó, một số tác giả Việt Nam lại có những nhận đònh như sau:
Trong quyển “Lý thuyết quản lý”, Đỗ Hoàng Toàn đònh nghóa: “Quản lý là sự tác
động có tổ chức, có đònh hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm sử dụng có
hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều
kiện biến động của môi trường.”[9, tr.50]
Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam thì “Quản lý là một quá trình tác động có
đònh hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình


nhau, chủ thể quản lý làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể quản lý thì làm nảy
sinh các giá trò vật chất và tinh thần có giá trò sử dụng trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con
người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý. Trong quản lý, chủ thể quản lý phải có tác
động phù hợp và sắp xếp hợp lí các tác động đó nhằm đạt mục tiêu quản lý. Do đó, quản lý
phải kết hợp chặt chẽ giữa tri thức và lao động. Xét dưới góc độ điều khiển học hành động
thì quản lý chính là quá trình điều khiển sắp xếp tác động làm cho đối tượng quản lý thay
đổi trạng thái.
Muốn phát huy tiềm năng của đối tượng quản lý thì phải có cơ chế quản lý đúng. Cơ
chế quản lý là phương thức mà nhờ nó hoạt động quản lý được diễn ra, quan hệ tương tác
giữa chủ thể và khách thể quản lý được vận hành và phát triển. Để thực hiện các quá trình
quản lý phải có các điều kiện, phương tiện quản lý. Điều kiện, phương tiện quản lý không
chỉ là máy móc kó thuật mà còn là nhân cách của nhà quản lý. Hiệu quả quản lý là sản
phẩm kép, nghóa là trong quá trình quản lý, đối tượng quản lý phát triển và phẩm chất năng
lực của nhà quản lý cũng phát triển.
Xét dưới góc độ hoạt động, quản lý có 4 chức năng cơ bản như sau:
- Chức năng lập kế hoạch: việc dự kiến các bước đi hợp lý và các điều kiện cụ thể cùng
việc giải quyết các tình huống, các vấn đề xảy ra.
- Chức năng tổ chức: sự liên kết các bộ phận để tạo ra sức mạnh tổng hợp của bộ máy,
trong đó đặc biệt là liên kết con người.
- Chức năng điều hành, thúc đẩy: sự chỉ huy, dẫn dắt, tác động làm cho bộ máy hoạt
động, trong quá trình hoạt động có điều chỉnh và thúc đẩy.
- Chức năng kiểm tra: nắm tình hình hoạt động của bộ máy để từ đó điều chỉnh hoạt
động của bộ máy để đạt đến mục tiêu.
Nhìn chung, quản lý là hoạt động có chủ đích của con người, quản lý không nằm
ngoài mục tiêu là giúp vận hành hệ thống được tốt hơn. Để phục vụ cho công tác quản lý thì
có các chức năng quản lý, các chức năng này giúp cho nhà quản lý thực hiện đầy đủ chức
năng quản lý của mình. Theo bản thân người viết, quản lý là hoạt động mà trong đó nhà
quản lý vận dụng các chức năng quản lý nhằm giúp đối tượng quản lý thực hiện đầy đủ và
đúng đắn mục tiêu quản lý đã đề ra.

đích bảo đảm giáo dục cộng sản chủ nghóa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển hài hòa và
toàn diện của họ, trên cơ sở nhận thức đúng và sử dụng các qui luật chung vốn có của chủ
nghóa xã hội, cũng như các qui luật khách quan của quá trình dạy học – giáo dục, của sự
phát triển thể chất và tâm lý trẻ em, thiếu niên cũng như thanh niên.” [24, tr.9]
Như vậy, quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý, nó cũng có các chức năng
riêng của mình, có thể kể ra một số chức năng của quản lý giáo dục như sau:
- Chức năng kế hoạch hóa: soạn thảo, thông qua và xây dựng được hệ thống những chủ
trương, những quyết đònh quản lý giáo dục.
- Chức năng tổ chức, chỉ đạo giáo dục: thực hiện các quyết đònh quản lý bằng cách xây
dựng cấu trúc tổ chức của đối tượng quản lý, tạo nên mạng lưới quan hệ tổ chức, tuyển
lựa, sắp xếp, bồi dưỡng cán bộ làm cho mục tiêu trở nên có ý nghóa, tăng tính hiệu
quả về mặt tổ chức. Chỉ dẫn, động viên, điều hành và phối hợp các lực lượng giáo dục
(cán bộ, giáo viên, công nhân viên, học sinh…) theo sự phân công và kế hoạch đã đònh
nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục mong muốn.
- Chức năng kiểm tra, đánh giá: chức năng này có liên quan đến mọi cấp quản lý để
đánh giá các hoạt động của hệ thống giáo dục. Chức năng kiểm tra, đánh giá, thực
hiện việc xem xét tình hình thực hiện công việc, đối chiếu với yêu cầu đã đề ra để có
sự đánh giá đúng đắn những nhiệm vụ giáo dục đã đề ra.
Nếu như quản lý theo nghóa chung nhất được hiểu rộng cho các chuyên ngành khác
nhau thì quản lý giáo dục, với chức năng của mình lại mang bản chất sư phạm. Nhà quản lý
giáo dục không thực hiện các chức năng quản lý vào mục tiêu tạo ra sản phẩm vật chất hay
tinh thần mà quản lý giáo dục vận dụng các chức năng quản lý đặc thù của chuyên ngành
để thực hiện các đường lối, chính sách của chế độ, cao hơn nữa là thực hiện thành công mục
tiêu giáo dục con người hướng tới các điều chân – thiện – mó.
1.2.3. Khái niệm quản lý nhà trường
1.2.3.1. Khái niệm trường học
Trường học là hệ thống con của hệ thống giáo dục, đồng thời cũng là hệ thống con
của hệ thống xã hội. Trường học là một thể chế chuyên biệt của xã hội, của nhà nước, có
chức năng giáo dục và đào tạo, có mục tiêu rõ ràng, có tổ chức chặt chẽ, được cung cấp các
điều kiện cần thiết cho việc thực hiện chức năng của mình.

Nhà trường là một hệ thống xã hội có 3 thành tố chính là con người, vật chất và tinh
thần. Sự liên kết giữa 3 thành tố này diễn ra trong không gian và thời gian tạo thành các
quá trình xã hội. Trong nhà trường, quá trình đó là quá trình giáo dục.
Phương tiện
giáo dục
Nội dung
giáo dục
Giáo viên
Phương pháp
giáo dục
Học sinh
Sơ đồ 1.3. Mối quan hệ của các thành tố trong quá trình giáo dục

Đại học
Giáo dục
Sơ đồ 1.4. Vò trí trường trung học cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân

Từ sơ đồ 1.4 ta thấy giáo dục trung học cơ sở là bộ phận của giáo dục phổ thông tiếp
nối ngay sau giáo dục tiểu học và là bước chuyển tiếp đi lên giáo dục trung học hoặc giáo
dục nghề nghiệp. Như vậy, giáo dục trung học cơ sở được xem như là “nấc thang” chuyển
tiếp người học tiến lên những bậc học cao hơn hoặc hướng nghiệp cho học sinh và là bước
chuyển tiếp không thể thiếu nếu người học muốn tiếp tục theo học cao hơn để lónh hội tri
thức cũng như kó năng nghề nghiệp.
Luật giáo dục 1998 qui đònh:

Mục tiêu của giáo dục trung học cơ sở
Giúp học sinh củng cố và phát triển kết quả của giáo dục tiểu học, có trình độ học
vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kó thuật và hướng nghiệp để tiếp tục
học trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao
động sinh hoạt sau này.

Nội dung của giáo dục trung học cơ sở
Củng cố phát triển những nội dung đã học ở tiểu học, đảm bảo cho học sinh có
được những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lòch sử dân tộc, kiến thức khác
về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ, có những hiểu biết tối
thiểu về kó thuật và hướng nghiệp.

Nhiệm vụ của giáo dục trung học cơ sở
Thực hiện các hoạt động giáo dục do bộ giáo dục và đào tạo ban hành. Tổ chức
hướng nghiệp và lao động hướng nghiệp chuẩn bò nghề cho học sinh. Tổ chức cho thầy cô
giáo và học sinh tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, phổ biến khoa học, bảo vệ môi
trường, vận động nhân dân, các tổ chức cộng đồng xây dựng môi trường giáo dục lành
mạnh, tham gia thực hiện mục tiêu giáo dục. Quan tâm giáo dục toàn diện nhằm hình thành


1.2.4. Khái niệm đánh giá trong giáo dục
1.2.4.1. Khái niệm đánh giá
Đánh giá được áp dụng trong rất nhiều lónh vực, tùy thuộc vào ngành, nghề đặc trưng
mà có khái niệm đánh giá khác nhau. Theo thuật ngữ tiếng Anh, đánh giá (evaluation) được
hiểu là hệ thống xác đònh những ưu điểm, giá trò và tầm quan trọng của một ai đó bằng cách
sử dụng các tiêu chí với một bộ các tiêu chuẩn [1]. Theo từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản Đà
Nẵng 1997, đánh giá được hiểu là nhận đònh một giá trò.
Theo Trần Bá Hoành thì đánh giá là quá trình hình thành những nhận đònh, phán
đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được. Đối chiếu với
những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết đònh thích hợp để cải thiện
thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc.[32]
Các nhận đònh trên đã cho ta hình dung được khái niệm về đánh giá và tầm quan
trọng của công tác đánh giá. Đánh giá không đơn giản chỉ là xác đònh những thông tin của
đối tượng mà dựa trên những thông tin thu thập đó, thông qua đối chiếu với các bộ tiêu
chuẩn, tiêu chí đã được xác lập nhằm đề xuất những quyết đònh, những quyết sách nhằm cải
thiện thực trạng của đối tượng.
1.2.4.2. Đánh giá trong giáo dục

Khái niệm đánh giá trong giáo dục
Cũng như các ngành nghề khác, đánh giá trong giáo dục cũng có vò trí và vai trò riêng
của nó. Theo Ths. Vũ Trọng Nghò: “trong quá trình dạy học nói riêng hay giáo dục và đào
tạo nói chung, kiểm tra đánh giá là một trong những bộ phận chủ yếu và hợp thành một
chỉnh thể thống nhất trong qui trình đào tạo. Việc kiểm tra đánh giá không đơn thuần chỉ chú
trọng vào kết quả học tập của học sinh, mà còn có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy động cơ,
thái độ tích cực của người học, hoàn thiện quá trình dạy học, kiểm đònh chất lượng, hiệu quả
dạy học và trình độ nghề nghiệp của người ấy.”[34]
Theo hướng dẫn trong tài liệu hướng dẫn đánh giá kết quả học tập học sinh trung học
cơ sở thì: “đánh giá là tập hợp các chiến lược đánh giá nhằm thu thập và phân tích thông tin
để nhận xét, phán đoán kết quả học tập của học sinh dựa theo mục tiêu chương trình môn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status