Bài giảng môn Giáo dục chính trị - Pdf 26


Chương mở đầu: NHẬP MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

I. KHÁI NIỆM VÀ ĐỐI TƯỢNG HỌC TẬP
1. Khái niệm
1.1. Chính trị và môn học Giáo dục chính trị
Chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp,
các dân tộc, các quốc gia, các lực lượng xã hội mà cốt lõi của nó là vấn đề giành, giữ và thực
thi quyền lực nhà nước.
Giáo dục chính trị là bộ phận của công tác tư tưởng của Đảng giáo dục, thực hiện việc
truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối, quan điểm
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Giáo dục chính trị gồm những nội dung cơ bản của các khoa học Triết học Mác - Lênin,
Chủ nghĩa xã hội khoa học, Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đường
lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của môn học
Mục tiêu chung:
Môn giáo dục chính trị nhằm giáo dục con người giác ngộ về chính trị, có tri thức khoa
học về chính trị, hình thành thế giới quan và nhân sinh quan khoa học, hiểu biết về chủ nghĩa
Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương đường lối của Đảng, có ý thức trách nhiệm
xây dụng chủ nghĩa xã hội và mục tiêu của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội.
Mục tiêu cụ thể:
Giáo dục chính trị là môn học nghiên cứu lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội nhằm
làm sáng tỏ các quy luật chung nhất của cách mạng Việt Nam, việc áp dụng các quy luật đó
vào thực tế hoạt động chính trị và tổ chức chính trị xã hội. Hiểu rõ về chính trị, giác ngộ về
chính trị để chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước, trở thành người công dân tốt, người lao động có ích cho xã hội và người yêu
nước chân chính.
Yêu cầu của môn học:
Xây dựng cho học sinh niềm tin vào đường lối của Đảng, vào sự nghiệp công nghiệp hoá,

mỹ để hình thành một thế giới quan khoa học, cách mạng, có niềm tin vào sự nghiệp cách
mạng của nhân dân do Đảng lãnh đạo.
Thế giới quan khoa học góp phần điều chỉnh hành vi của con người với môi trường xung
quanh, định hướng cho nhận thức và hành động đúng đắn, không chỉ trong nhận thức thế giới
mà còn cải tạo thế giới.
1.2. Có phương pháp luận đúng đắn
Thế giới phong phú và đa dạng, muốn nhận thức được thế giới, con người cần có một
phương pháp luận đúng đắn, khoa học. Phải xem xét các sự vật trong mối liên hệ ràng buộc
lẫn nhau và trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng với một tư duy linh hoạt; phản
ánh hiện thực đúng như nó tồn tại. Đó chỉ có thể là phương pháp luận biện chứng.
2. Bồi dưỡng nhận thức, năng lực hành động và rèn luyện đạo đức
2.1. Bồi dưỡng nhận thức chính trị
Thứ nhất, góp phần cung cấp cho người học hiểu được hệ thống chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thứ hai, có tri thức lý luận khoa học, cách mạng góp phần thẩm định tính đúng đắn các
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nâng cao ý thức tự giác
tu dưỡng đạo đức cách mạng, khắc phục chủ nghĩa cá nhân và xây dựng con người mới. Đồng
thời, góp phần đấu tranh chống lại những luận điểm sai trái xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường cách mạng Việt Nam.
2.1. Nâng cao năng lực hành động
Việc nắm vững tri thức chính trị giúp cho người học có khả năng tham gia vào các hoạt
động tư tưởng của Đảng và các nhiệm vụ chính trị - xã hội của Đảng, của các đoàn thể nhân
dân và của Nhà nước.
2.3. Rèn luyện phẩm chất đạo đức và tình cảm tốt đẹp
Có bản lĩnh chính trị vững vàng, yêu nước, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tích cực tham gia xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước;
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Trung thực và thẳng thắn, khiêm tốn, giản dị, nói
đi đôi với việc làm, có quan điểm quần chúng đúng đắn. Có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh

2.1. Điều kiện kinh tế - xã hội.
Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Đây là thời kỳ phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu đã phát triển mạnh mẽ trên nền tảng của cuộc
cách mạng công nghiệp được thực hiện trước tiên ở nước Anh vào cuối thế kỷ XVIII. Cuộc
cách mạng công nghiệp không những đánh dấu bước chuyển hóa từ nền sản xuất thủ công tư
bản chủ nghĩa sang nền sản xuất đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa mà còn làm thay đổi sâu
sắc cục diện xã hội, trước hết là sự hình thành và phát triển của giai cấp vô sản.
Mâu thuẫn sâu sắc giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa với quan hệ sản xuất
mang tính tư nhân tư bản chủ nghĩa đã bộc lộ qua cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1825 và
hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân chống lại chủ tư bản; tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa
của công nhân ngành dệt thành phố Liôn (Pháp) năm 1831, 1834; Phong trào Hiến chương
Anh (1838-1848), khởi nghĩa của công nhân dệt ở Silêdi (Đức) năm 1844 Đó là những
bằng chứng lịch sử thể hiện giai cấp vô sản đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập, tiên
phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội.
3
Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản nảy sinh yêu cầu khách quan là nó phải được soi
sáng bằng lý luận khoa học. Chủ nghĩa Mác ra đời là sự đáp ứng yêu cầu khách quan đó; đồng
thời chính thực tiễn cách mạng đó cũng trở thành tiền đề thực tiễn cho sự khái quát và phát
triển lý luận của chủ nghĩa Mác.
2.2. Tiền đề lý luận
Chủ nghĩa Mác ra đời không chỉ xuất phát từ nhu cầu khách quan của lịch sử mà còn là
kết quả của sự kế thừa tinh hoa di sản lý luận của nhân loại, trong đó trực tiếp nhất là triết học
cổ điển Đức, kinh tế chính trị cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp.
Triết học cổ điển Đức, Mác và Ăngghen đã kế thừa và phê phán phép biện chứng duy
tâm của Hêghen để xây dựng phép biện chứng duy vật. Phê phán tính chất siêu hình, máy móc
và kế thừa thế giới quan duy vật trong triết học của Phơbach, hai ông đã xây dựng thành công
thế giới quan của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Kinh tế chính trị cổ điển Anh với các đại biểu là A.Xmith và Đ.Ricacđô, những người có
công lao to lớn trong việc xây dựng lý luận về giá trị của lao động, về nguồn gốc của lợi
nhuận, về tính chất quan trọng hàng đầu của quá trình sản xuất vật chất…khắc phục các

4
mình trong sự gắn bó mật thiết với thực tiễn cách mạng. Bằng hoạt động lý luận của mình,
Mác và Ăngghen đã đưa phong trào công nhân từ tự phát thành tự giác và chính phong trào
đó, học thuyết của các ông không ngừng phát triển.
3.2. Giai đoạn Lê nin bảo vệ và phát triển Chủ nghĩa Mác (1895-1924)
V. I. Lênin (1870 - 1924) đã đấu tranh, phê phán không khoan nhượng đối với mọi kẻ
thù, bảo vệ và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác trong giai đoạn chủ nghĩa đế quốc.
Người phân tích sâu sắc những mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa đế quốc và khẳng định
cách mạng vô sản có thể nổ ra và thắng lợi ở một vài nước, thậm chí ở một nước tư bản
kém phát triển. Cách mạng vô sản và phong trào giải phóng dân tộc có mối quan hệ khăng
khít với nhau. Muốn cho cách mạng vô sản thắng lợi tất yếu phải xây dựng một đảng kiểu
mới của giai cấp công nhân. Đảng đó phải được tổ chức chặt chẽ và theo chủ nghĩa Mác.
Qua lãnh đạo thắng lợi cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 và
thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga và Liên Xô (1917 - 1924), V.I. Lênin đã phát
triển những vấn đề lý luận mới. Đó là lý luận nhà nước và cách mạng, xây dựng chính quyền
Xô viết; phát triển kinh tế, khoa học - kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng quan
hệ sản xuất mới; công nghiệp hoá, điện khí hoá toàn quốc; thực hiện dân chủ xã hội chủ
nghĩa
3.3. Giai đoạn sau Lê nin (1924 cho đến nay)
Với sức mạnh của liên minh, công cuộc chống Phát xít trong chiến tranh thế giới thứ hai
không chỉ bảo vệ được thành quả cách mạng của giai cấp vô sản, mà còn đưa chủ nghĩa xã hội
phát triển ra ngoài biên giới Liên Xô, hình thành nên cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa do
Liên Xô dẫn đầu, với các thành viên như: Mông Cổ, Ba Lan, Rumani, Hunggari, Việt Nam,
Tiệp khắc, Nam Tư, Anbani, Bungari, Cộng hòa DCND Triều Tiên, CHDC Đức, Trung Quốc,
CuBa. Sự kiện này đã làm cho chủ nghĩa Tư bản không còn là hệ thống duy nhất mà song
song tồn tại là hệ thống chính trị xã hội đối lập với nó cả về bản chất và mục đích hành động
Song, do nhiều nguyên nhân mà một trong những nguyên nhân ấy là có những người
cộng sản chủ quan, vận dụng lý luận theo chủ nghĩa chiết trung nên từ những năm 90 của thế
kỷ thứ XX, hệ thống xã hội chủ nghĩa bị khủng hoảng và rơi vào giai đoạn thoái trào. Nhưng
ngay cả khi hệ thống xã hội chủ nghĩa bị khủng hoảng và rơi vào thoái trào thì tư tưởng xã hội

có hạn chế đó là các ông đã quy vật chất về một dạng vật thể cụ thể nào đó.
Trong bối cảnh lịch sử đó, Lênin đã tiến hành tổng kết những thành tựu khoa học tự
nhiên cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và từ nhu cầu của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy
tâm, ông đã vạch rõ ý đồ xuyên tạc những thành tựu khoa học tự nhiên của những nhà triết
học duy tâm, khẳng định bản chất vật chất của thế giới và đưa ra định nghĩa kinh điển về vật
chất:
“Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con
người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác”
Định nghĩa này có thể hiểu theo nghĩa cơ bản sau:
Thứ nhất, với tư cách là phạm trù triết học (phân biệt với các khái niệm hay phạm trù của
các khoa học cụ thể khác) dùng để chỉ mọi thực tại khách quan. Thực tại đó biểu hiện sự tồn
tại của nó dưới các hình thức cụ thể là các sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan, độc lập với ý
thức của con người, không phụ thuộc vào ý thức của con người.
Hai là, thuộc tính cơ bản nhất, chung nhất của các dạng vật chất là tồn tại khách quan,
không phụ thuộc vào cảm giác, ý thức của con người. Có thể hiểu mọi thứ tồn tại khách quan
đều là vật chất.
Ba là, vật chất tồn tại khách quan thông qua các sự vật cụ thể. Khi vật chất tác động vào
giác quan, gây nên cảm giác. Được cảm giác của chúng ta ghi lại. Vì vậy con người có khả
năng nhận thức được thế giới. Với ý nghĩa đó, vật chất phải là cái có trước; còn cảm giác, ý
thức của con người là cái có sau, là cái phụ thuộc vào vật chất, chỉ là sự phản ánh đối với vật
chất, có nguồn gốc từ vật chất.
1.2. Vận động của vật chất
- Định nghĩa: là phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất
bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí
đơn giản cho đến tư duy.
- Các hình thức vận động cơ bản:
+ Vận động cơ học như: Sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian.
+ Vận động vật lý như: Là sự vận động của các phân tử, nguyên tử, các hạt cơ bản
+ Vận động hoá học như: Là các quá trình hóa hợp và phân giải các chất.

Mọi tồn tại của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với nhau, biểu hiện ở chỗ
chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, có nguồn gốc vật
chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những qui luật khách quan, phổ biến của
thế giới vật chất.
1.5. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về ý thức
Với nghĩa bao quát nhất, khái niệm ý thức dùng để chỉ toàn bộ đời sống tinh thần, là sự
phản ánh năng động sáng tạo hiện thực khách quan của con người, trong đó gồm ba yếu tố cơ
bản nhất là tri thức, tình cảm và ý chí của con người.
Ý thức ra đời từ hai nguồn gốc: nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
- Nguồn gốc tự nhiên của ý thức là bộ óc người và thế giới khách quan.
+ Bộ óc người: Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người,
là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc. Bộ óc càng hoàn
thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng có hiệu quả, ý thức của con người càng
phong phú và sâu sắc. Điều này lý giải tại sao quá trình tiến hóa của loài người cũng là quá
trình phát triển năng lực của nhận thức, của tư duy và tại sao đời sống tinh thần của con người
bị rối loạn khi sinh lý thần kinh của con người không bình thường do bị tổn thương bộ óc.
+ Thế giới khách quan: tồn tại bên ngoài con người, chính đó là đối tượng, nội dung của
ý thức. Không có thế giới khách quan thì không có gì để ý thức phản ánh.
- Nguồn gốc xã hội : là lao động và ngôn ngữ.
+ Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiên nhằm thay
đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người; là quá trình trong đó bản thân con
7
người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi vật chất giữa mình với giới tự nhiên. Đây
cũng là qúa trình làm thay đổi cấu trúc cơ thể, đem lại dáng đi thẳng bằng hai chân, giải
phóng hai tay, phát triển khí quan, phát triển bộ não,… của con người. Trong quá trình lao
động, con người tác động vào thế giới khách quan làm cho thế giới khách quan bộc lộ những
thuộc tính, những kết cấu, những qui luật vận động của nó, biểu hiện thành những hiện tượng
nhất định mà con người có thể quan sát được. Những hiện tượng ấy, thông qua hoạt động của
các giác quan, tác động vào bộ óc người, thông qua hoạt động của bộ não con người, tạo ra
khả năng hình thành nên những tri thức nói riêng và ý thức nói chung.

Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức đều hoặc là chính
bản thân thế giới vật chất, hoặc là những dạng tồn tại của vật chất nên vật chất là nguồn gốc
của ý thức.
* Ý thức có thể tác động trở lại vật chất
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu
cực. Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách mạng, có nghị lực,
có ý chí thì hành động của con người phù hợp với các qui luật khách quan, con người có năng
lực vượt qua những thách thức trong quá trình thực hiện những mục đích của mình, thế giới
8
được cải tạo – đó là sự tác động tích cực của ý thức; còn nếu ý thức của con người phản ánh
không đúng hiện thực khách quan, bản chất qui luật khách quan thì ngay từ đầu, hướng hành
động của con người đã đi ngược lại các qui luật khách quan. Hành động ấy sẽ có tác dụng tiêu
cực đối với hoạt động thực tiễn, đối với hiện thực khách quan.
Ý nghĩa của vấn đề: Để đảm bảo sự thành công của hoạt động nhận thức hay thực tiễn,
con người phải luôn xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan. Không nên lấy ý
kiến chủ quan của mình làm căn cứ cho lý luận, hành động, dễ dẫn đến sai lầm và thất bại.
Mặt khác, cần phải phát huy tính năng động chủ quan, tính sáng tạo của con người, phát huy
tác động tích cực của ý thức, không trông chờ, ỷ lại trong nhận thức và hành động cải tạo thế
giới.
1.7. Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
1.7.1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự qui định, sự tác động và
chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật,
hiện tượng trong thế giới.
Mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của
thế giới, trong đó, những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật,
hiện tượng của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng, đó là các mối
liên hệ giữa: các mặt đối lập, lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng.
* Tính chất của các mối liên hệ:
- Tính khách quan: Vì mối liên hệ là cái vốn có của sự vật hiện tượng

* Tính chất của sự phát triển:
- Tính khách quan biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động và phát triển. Đó là quá
trình bắt nguồn từ bản thân sự vật, hiện tượng; là quá trình giải quyết mâu thuẫn trong sự vật,
hiện tượng đó. Vì vậy, phát triển là thuộc tính tất yếu, khách quan, không phụ thuộc vào ý
thức con người.
- Tính phổ biến được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực tự
nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng và trong mọi quá trình, mọi giai
đoạn của sự vật, hiện tượng đó.
- Tính đa dạng, phong phú được thể hiện ở chỗ: phát triển là khuynh hướng chung của
mọi sự vật, hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi lĩnh vực hiện thực lại có quá
trình phát triển không hoàn toàn giống nhau. Tồn tại ở những không gian và thời gian khác
nhau sự vật sẽ phát triển khác nhau.
* Ý nghĩa phương pháp luận:
Nguyên lý phát triển, có ý nghia quan trọng trong đời sống, trong nhận thức. Nó là cơ sở
lý luận trực tiếp của nguyên tắc phương pháp luận phát triển.
Quan điểm phát triển luôn đặt sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên. Phát triển là
một quá trình biện chứng, bao hàm tính thuận nghịch, đầy mâu thuẫn, vì vậy đòi hỏi chúng ta
phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển.
Quan điểm phát triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập
với sự phát triển. Xem xét sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển cần phải đặt quá trình
đó trong nhiều giai đoạn khác nhau, trong mối quan hệ biện chứng giữa quá khứ, hiện tại và
tương lai trên cơ sở khuynh hướng phát triển đi lên. Đồng thời, phải phát huy vai trò nhân tố
chủ quan của con nguời để thúc đẩy quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng theo đúng qui
luật.
1.8. Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
Quy luật là những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các mặt, các
yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi một sự vật, hay giữa các sự vật, hiện tượng cùng loại.
1.8.1. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Mâu thuẫn biện chứng: là mâu thuẫn giữa các mặt đối lập tồn tại trong cùng một SVHT,
các mặt đối lập liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau nhưng chúng cũng bài trừ và phủ

+ Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người có lợi
ích cơ bản đối lập nhau.
+ Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng xã hội có lợi ích cơ
bản thống nhất với nhau chỉ đối lập về lợi ích không cơ bản, tạm thời.
Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn đặc thù của xã hội, chỉ
tôn tại trong xã hội có giai cấp.
* Vị trí, ý nghĩa phương pháp luận:
- Vị trí: Là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, nó vạch ra nguồn
gốc, động lực của sự phát triển và là “ hạt nhân” của phép biện chứng duy vật.
- Ý nghĩa phương pháp luận:
+ Mâu thuẫn là cái khách quan vốn có của sự vật, là nguồn gốc động lực của sự phát
triển. Do vậy, khi nghiên cứu sự vật phải nghiên cứu những mâu thuẫn của nó.
+ Mỗi mâu thuẫn có vị trí, vai trò khác nhau. Nên khi nghiên cứu và giải quyết các mâu
thuẫn phải có quan điểm lịch sử - cụ thể.
+ Giải quyết mâu thuẫn theo phương thức “đấu tranh” các mặt đối lập, chứ không theo
hướng dung hòa các mặt đối lập.
1.8.2. Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và
ngược lại.
* Khái niệm chất, lượng:
- Khái niệm chất của sự vật là tổng hợp những thuộc tính khách quan, vốn có của sự vật,
hiện tượng, nói lên nó là cái gì, để phân biệt nó với cái khác.
- Khái niệm lượng: Lượng của sự vật không nói lên sự vật đó là cái gì mà chỉ nói lên con
số của những thuộc tính cấu thành nó, như về: độ lớn (to- nhỏ), quy mô (lớn- bé), trình
độ(cao- thấp), tốc độ (nhanh- chậm), màu sắc (đậm- nhạt).
* Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng:
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng. Hai
mặt đó không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng. Sự thay đổi về lượng
tất yếu sẽ dẫn tới sự chuyển hóa về chất của sự vật, hiện tượng. Tuy nhiên, không phải sự thay
đổi về lượng bất kỳ nào cũng dẫn đến sự thay đổi về chất. Ở một giới hạn nhất định, sự thay
11

- Phủ định biện chứng có các đặc điểm cơ bản sau:
+ Phủ định biện chứng là sự tự phủ định, do mâu thuẫn bên trong tạo ra. Đó là sự phủ
định khách quan vốn có của sự vật hiện tượng, không phải do lực lượng xã hội từ bên ngoài
gán ghép.
+ Phủ định biện chứng là sự phủ định có kế thừa. Kế thừa những yếu tố tích cực của sự
vật cũ. Nhưng không phải kế thừa tất cả mà là kế thừa có chọn lọc.
+ Phủ định biện chứng còn là sự phủ định vô tận. Cái mới phủ định cái cũ, nhưng rồi cái
mới không phải mới mãi mãi, nó sẽ cũ đi và bị cái mới khác phủ định. Vậy, không có lần phủ
định nào là phủ định cuối cùng.
* Nội dung cơ bản của quy luật:
Trong sự vận động vĩnh viễn của thế giới vật chất, phủ định biện chứng là một quá trình
vô tận, tạo nên khuynh hướng phát triển của sự vật từ trình độ thấp đến trình độ cao hơn, diễn
ra có tính chất chu kỳ theo hình thức “xoáy ốc”.
Phủ định lần thứ nhất: làm cho sự vật cũ trở thành cái đối lập với chính nó. Twucs là
chuyển cái khẳng định, sang cái phủ định(A→B).
Phủ định lần thứ hai (phủ định của phủ định): sự vật ra đời, đối lập với cái đối lập, nên
12
sự vật dường như quay trở lại cái cũ, nhưng trên cơ sở cao hơn. Đây là đặc điểm cơ bản của
quy luật phủ định của phủ định.
Trong chuỗi phủ định tạo nên quá trình phát triển của sự vật, mỗi lần phủ định biện
chứng đều tạo ra những điều kiện, tiền đề cho sự phát triển tiếp theo của nó. Trải qua nhiều
lần phủ định, tức “phủ định của phủ định” sẽ tất yếu dẫn tới kết quả là sự vận động theo chiều
hướng đi lên của sự vật.
Tính chất chu kỳ của các quá trình phát triển thường diễn ra theo hình thức “xoáy ốc”, đó
cũng là tính chất “phủ định của phủ định”. Theo tính chất này, mỗi chu kỳ phát triển của sự
vật thường trải qua nhiều lần phủ định, nhưng không ít hơn hai lần.
Qui luật phủ định của phủ định khái quát tính chất chung, phổ biến của sự phát triển: đó
không phải là sự phát triển theo hình thức một con đường thẳng, mà phát triển theo hình thức
con đường “xoáy ốc”.
Khuynh hướng phát triển theo đường “xoáy ốc” thể hiện tính chất biện chứng của sự phát

Nhận thức là quá trình biện chứng từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và đến
thực tiễn…
- Trực quan sinh động (hay nhận thức cảm tính) là giai đoạn đầu của quá trình nhận thức,
13
phản ánh trực tiếp hiện thực khách quan bằng các giác quan, qua các hình thức cơ bản là cảm
giác, tri giác và biểu tượng.
Cảm giác là hình thức đầu tiên của phản ánh hiện thực, là kết quả tác động của sự vật vào
giác quan con người. Nó chỉ phản ánh được những mặt, những thuộc tính riêng lẻ của sự vật
như nóng, lạnh, màu sắc, mùi vị… Cảm giác có vai trò to lớn trong quá trình nhận thức và
thay đổi khi được rèn luyện.
Tri giác là sự phản ánh đối tượng trong tính toàn vẹn, trực tiếp tổng hợp nhiều thuộc tính
khác nhau của sự vật do cảm giác đem lại. Từ tri giác, nhận thức cảm tính chuyển lên hình
thức cao hơn là biểu tượng.
Biểu tượng là hình ảnh về sự vật được tái hiện trong đầu một cách khái quát, khi không
còn tri giác trực tiếp với sự vật. Nó chỉ giữ lại những nét chung về bề ngoài của sự vật. Biểu
tượng cũng như cảm giác, tri giác, đều là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, nhưng
biểu tượng phản ánh sự vật một cách gián tiếp và có thể sáng tạo ra một biểu tượng khác
tương tự.
Đặc điểm chung của giai đoạn nhận thức cảm tính là phản ánh có tính chất hiện thực,
trực tiếp, không thông qua khâu trung gian. Sự phản ánh đó tuy phong phú, sinh động, nhưng
chỉ là phản ánh bề ngoài, hiện tượng của sự vật.
- Tư duy trừu tượng (hay nhận thức lý tính) là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, dựa
trên cơ sở tài liệu do trực quan sinh động đưa lại. Chỉ qua giai đoạn này, nhận thức mới nắm
được bản chất, quy luật của hiện thực. Tư duy trừu tượng được biểu hiện dưới các hình thức
cơ bản: khái niệm, phán đoán, suy lý.
Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng phản ánh cái chung, bản chất, tất
yếu của sự vật. Khái niệm được hình thành là từ hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức
của con người. Khái niệm được diễn đạt bằng ngôn ngữ là từ ngữ, đó là vật liệu đầu tiên để
xây dựng nên những tri thức khoa học. Khi vận dụng, phải linh hoạt, mềm dẻo cho phù hợp.
Phán đoán là một hình thức của tư duy trừu tượng, dựa trên sự liên kết, vận dụng những

nhau trong xã hội nhằm cải biến những quan hệ chính trị xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển.
- Hoạt động thực nghiệm khoa học là một hình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn.
Đây là hoạt động được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra, gần giống, giống
hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định những qui luật biến đổi,
phát triển của đối tượng nghiên cứu.
1.9.4. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:
* Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức:
Mọi nhận thức của con người, xét đến cùng đều có nguồn gốc từ thực tiễn.Mọi khoa học
đều được xây dựng, khái quát, tổng kết từ thực tiễn. Thông qua hoạt động thực tiễn, con
người đã sáng tạo ra những công cụ ngày càng tinh xảo hơn: kính hiển vi, kính thiên văn, tàu
vũ trụ, máy vi tính…để nhận thức thế giới. Thông qua hoạt động thực tiễn, con người ngày
càng hoàn thiện mình: các giác quan của con người ngày càng phát triển, ngôn ngữ ngày càng
phong phú.
* Thực tiễn là động lực và mục đích của nhận thức:
Thực tiễn thường xuyên vận động, phat triển nên nó luôn đặt ra những nhu cầu, nhiệm
vụ, phương hường mới cho nhận thức.Chính thực tiễn thúc đẩy sự ra đời và phát triển mạnh
mẽ của các ngành khoa học tự nhiên, xã hội như: tin học, dân số học, môi trường học, Hà Nội
học, Việt Nam học… đều từ thực tiễn của đời sỗng xã hội đòi hỏi. Mục đích nhận thức của
con người không chỉ để nhận thức, mà suy cho cùng nhận thức là để cải tạo hiện thực, cải tạo
thế giố theo nhu cầu, lợi ích của con người.
* Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý:
Chân lý là những tri thức của con người phù hợp với hiện thực khách quan và đã đượct
hực tiễn kiểm nghiệm.
Người ta không thể lấy nhận thức để kiểm tra nhận thức được, không thể lấy nhận thức
này làm chuẩn để kiểm tra nhận thức kia, vì chính bản thân nhận thức được dùng làm tiêu
chuẩn để kiểm tra nhận thức khác, chắc gì đã là nhận thức đúng. Cũng không thể lấy đa số
làm tiêu chuẩn của chân lý và chưa chắc ràng số đông là đúng. Và cũng không lấy lợi ích là
tiêu chuẩn chân lý vì trong xã hội nhất là trong xã hội có giai cấp đối kháng thì lợi ích của các
giai cấp là khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Cái lợi của giai cấp này có thể là cái hại của
giai cấp khác.

Ý nghĩa của vấn đề: Khi nghiên cứu mọi hiện tượng xã hội phải đi tìm nguồn gốc phát
sinh từ phương thức sản xuất, từ tất yếu kinh tế. Nhận thức đúng vai trò của phương thức sản
xuất trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta chủ trương phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với kinh tế tri thức.
2.2. Những quy luật cơ bản của sự vận động và phát triển xã hội
2.2.1. Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của mỗi quá trình sản xuất, bao gồm các yếu tố
tư liệu sản xuất và người lao động, trong đó người lao động là yếu tố cơ bản nhất, giữ vai trò
quyết định trong lực lượng sản xuất; còn quan hệ sản xuất là mối quan hệ xã hội giữa con
người với nhau trong quá trình sản xuất, đóng vai trò là hình thức kinh tế của quá trình ấy,
bao gồm các quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức - quản lý quá trình sản xuất
và quan hệ phân phối kết quả của quá trình sản xuất đó.
Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất
Trong mỗi phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất gắn bó hữu cơ
với nhau. Lực lượng sản xuất là nội dung vật chất, quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của
phương thức sản xuất. Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan
hệ nội dung và hình thức của quá trình sản xuất. Lực lượng sản xuất như thế nào về trình độ
thì quan hệ sản xuất phù hợp như thế ấy. Trình độ lực lượng sản xuất thủ công, với công cụ
thô sơ có tính chất cá nhân thì phù hợp với nó là quan hệ sản xuất cá thể. Khi trình độ lực
lượng sản xuất thay đổi thì quan hệ sản xuất cũng thay đổi theo. Do con người luôn tích luỹ
sáng kiến và kinh nghiệm, luôn cải tiến công cụ và phương pháp sản xuất nên lực lượng sản
xuất luôn phát triển.
Ngày nay, khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức kinh tế tri thức phát triển đã trở thành
16
lực lượng sản xuất trực tiếp. Lực lượng sản xuất phát triển đến mức độ nào đó mà quan hệ sản
xuất cũ không còn phù hợp nữa nó sẽ cản trở hoặc mâu thuẫn gay gắt với lực lượng sản xuất.
Để tiếp tục phát triển, lực lượng sản xuất phải phá vỡ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ
sản xuất mới, phù hợp với trình độ mới của lực lượng sản xuất.
Vai trò tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất

Khi cơ sở hạ tầng cũ mất đi, cơ sở hạ tầng mới ra đời thì “ sớm” hay “ muộn” kiến trúc
thượng tầng cũ cũng mất đi và kiến trúc thượng tầng mới cũng ra đời theo để đảm bảo sự
tương ứng.
* Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng:
Trong bất kì tình huống nào thì kiến trúc thượng tầng cũng ra sức bảo vệ cơ sở hạ tầng
đã sinh ra nó ngay cả khi cơ sở hạ tầng đã lạc hậu và phản tiến bộ.
Nếu kiến trúc thượng tầng tiên tiến thì nó sẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội, ngược lại
nếu nóa không phù hợp thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Mỗi bộ phận của kiến trúc thượng tầng đều tác động trở lại cơ sở hạ tầng theo những
hình thức khác nhau trong đó nhà nước là bộ phận có vai trò quan trọng nhất và có hiệu lực
17
mạnh mẽ nhất. Do đó các giai cấp thống trị đều có ý tưởng xây dựng nhà nước mạnh, thật sự
trở thành một công cụ bạo lực để tập trung quyền lực kinh tế và chính trị nhằm thống trị giai
cấp khác và toàn xã hội.
Ý nghĩa của vấn đề: Kinh tế quyết định chính trị, muốn hiểu các hiện tượng, quá trình xã
hội phải xem xét cơ sở kinh tế nảy sinh các hiện tượng xã hội đó. Nhưng chính trị là biểu hiện
tập trung của kinh tế, có khả năng thúc đẩy, phát triển kinh tế.
2.3. Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội:
2.3.1. Khái niệm tồn tại xã hội và ý thức xã hội:
Tồn tại xã hội là toàn bộ những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, bao gồm điều
kiện địa lý tự nhiên, dân số và phương thức sản xuất trong đó phương thức sản xuất có vai trò
quyết định nhất đới với sự phát triển của tồn tại xã hội
Ý thức xã hội là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, là kết quả của sự phản ánh của ý
thức con người đới với một tồn tại xã hội nhất định.
Ý thức xã hội bao gồm hai cấp độ khác nhau là tâm lý xã hội và hệ tư tưởng. Tâm lý xã
hội là các hiện tượng ý thức như tình cảm, tâm trạng, thói quen, động cơ, thái độ…Hệ tư
tưởng là những quan điểm tư tưởng, những học thuyết về đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, pháp
quyền, chính trị… phản ánh và bảo vệ lợij ích của một giai cấp nhất định trong xã hội.
2.3.2.Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội:
Ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội nhưng không phản ánh giản đơn, máy móc,

của con người thông qua trao đổi mua bán.
Hàng hoá có hai thuộc tính cơ bản là giá trị và giá trị sử dụng.
Giá trị sử dụng của hàng hoá là công dụng của hàng hoá để thoả mãn nhu cầu nào đó
của con người. Giá trị sử dụng đó do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hoá quyết định.
Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là cái mang giá trị trao đổi.
Giá trị trao đổi trước hết biểu hiện như là một quan hệ số lượng, là một tỷ lệ theo đó
những giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác. Giá trị của
hàng hoá là lượng lao động xã hội cần thiết của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng
hoá, còn giá trị trao đổi chỉ là hình thái biểu hiện của giá trị hàng hoá. Sở dĩ giá trị của hàng
hoá được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết, vì một loại hàng hoá đưa ra thị trường là
do nhiều người sản xuất ra nhưng mỗi người sản xuất do điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề
là không giống nhau, nên thời gian lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hoá của họ khác nhau,
do đó lượng giá trị cá biệt của hàng hoá mà từng người sản xuất ra là khác nhau. Để trao đổi
hàng hoá đó với nhau, không thể căn cứ vào giá trị cá biệt của hàng hoá mà phải căn cứ vào
giá trị xã hội của nó, vào lượng lao động xã hội cần thiết hay thời gian lao động xã hội cần
thiết để sản xuất ra hàng hoá đó.
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá
trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với một trình độ kỹ thuật trung bình và cường
độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định. Thời gian lao động xã hội cần thiết
không phải cố định, nó phụ thuộc vào năng suất lao động xã hội và chất lượng của lao động.
Năng suất lao động xã hội là năng lực sản xuất của lao động được tính bằng số lượng sản
phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian cần thiết để sản xuất
ra một đơn vị sản phẩm.
Năng suất lao động tỷ lệ nghịch với thời gian lao động xã hội để sản xuất ra hàng hoá
hay tỷ lệ nghịch với giá trị của hàng hoá. Chất lượng của lao động hay mức độ phức tạp của
lao động tỷ lệ thuận với giá trị của hàng hoá. Theo mức độ phức tạp của lao động có thể chia
lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp. Lao động giản đơn là lao động của
bất kỳ một người bình thường nào có khả năng lao động cũng có thể thực hiện được. Lao
động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được huấn luyện đào tạo thành lao động lành nghề.
Việc sản xuất và trao đổi hàng hoá thể hiện sự liên hệ giữa những người sản xuất riêng

giá trị sử dụng.
Giá trị hàng hoá sức lao động là toàn bộ những tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và
tái sản xuất ra sức lao động. Giá trị hàng hoá sức lao động bao gồm: giá trị tư liệu sinh hoạt
cần thiết đủ để duy trì sức lao động của người công nhân ở trạng thái sinh hoạt bình thường;
chi phí đào tạo tuỳ theo tính chất phức tạp của lao động; giá trị những tư liệu sinh hoạt cho
những người thay thế, tức con cái của công nhân để hàng hoá sức lao động trở thành bất tử.
Tiền công hay tiền lương là sự biểu thị bằng tiền giá trị sức lao động, hoặc là giá cả của sức
lao động.
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao
động để sản xuất ra một loại hàng hoá nào đó. Trong quá trình lao động, sức lao động tạo ra
một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó, phần giá trị dôi ra so với giá trị sức lao
động là giá trị thặng dư.
Trên thực tế, giá trị của hàng hoá sức lao động biểu hiện bằng: công nhân làm thuê bán
sức lao động của mình cho người chủ nhà máy, chủ công cụ lao động, chủ ruộng đất. Giá trị
sử dụng của hàng hoá sức lao động biểu hiện: người công nhân dùng một phần ngày lao động
để bù vào chi phí nuôi bản thân và nuôi gia đình mình (tiền công), phần còn lại thì làm không
công, tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản, đó là nguồn gốc lợi nhuận, nguồn gốc giàu có của
giai cấp tư bản. Đó cũng là nội dung căn bản nhất của học thuyết giá trị thăng dư – hòn đá
tảng của học thuyết kinh tế của Mác.
Ví dụ: Một nhà tư bản sản xuất sợi, để sản xuất 10kg sợi cần 10kg bông và giá của 10kg
bông là 10$. Để biến số bông đó thành sợi, một công nhân phải lao động trong 6giờ và hao
mòn máy móc là 2$, giá trị sức lao động trong một ngày theo đúng giá trị trên thị trường là
3$; trong 1giờ lao động, người công nhân tạo ra một lượng giá trị là 0,5$, giả sử quá trình sản
xuất sợi đã hao phí theo thời gian lao động xã hội cần thiết.
Nếu nhà tư bản chỉ bắt người công nhân lao động trong 6giờ, thì nhà tư bản ứng ra 15$
20
và thu về 10kg sợi có giá trị cũng là 15$. Như vậy, nếu quá trình lao động chỉ kéo dài đủ để
bù đắp lại giá trị sức lao động ( 6giờ), thì chưa có sản xuất ra giá trị thặng dư, và đó không
phải là mục đích của nhà tư bản.
Nhưng nhà tư bản mua sức lao động trong 1 ngày. Sau khi mua quyền sử dụng hàng hoá

hội, đồng thời là quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư, là cái riêng (đặc thù) trong đó người
công nhân bị nhà tư bản thống trị, sản phẩm làm ra không thuộc về anh ta mà thuộc nhà tư
bản. Hay nói cách khác, ngày lao động của công nhân bao giờ cũng được chia thành hai phần:
phần ngày lao động mà người công nhân tạo ra một lượng giá trị ngang với giá trị sức lao
động của mình gọi là thời gian lao động cần thiết và lao động trong khoảng thời gian đó là lao
động cần thiết. Phần còn lại của ngày lao động gọi là thời gian lao động thặng dư, và lao động
trong khoảng thời gian đó gọi là lao động thặng dư.
- Sau khi nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư, chúng ta nhận thấy mâu thuẫn
của công thức chung của tư bản đã được giải quyết: việc chuyển hoá của tiền thành tư bản
diễn ra trong lưu thông, mà đồng thời không diễn ra trong lĩnh vực đó. Chỉ có trong lưu thông
nhà tư bản mới mua được một thứ hàng hoá đặc biệt, đó là hàng hoá sức lao động. Sau đó nhà
tư bản sử dụng hàng hoá đặc biệt đó trong sản xuất, tức là ngoài lĩnh vực lưu thông để sản
21
xuất ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Do đó tiền của nhà tư bản mới chuyển thành tư bản.
* Khái niệm tư bản bất biến, tư bản khả biến; giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng
dư tương đối:
Tư bản bất biến là bộ phận tư bản biến thành tư liệu sản xuất, giá trị của nó được bản
toàn và chuyển vào sản phẩm, tức là không thay đổi về lượng giá trị trong quá trình sản xuất.
Tư bản khả biến là bộ phận tư bản biến thành sức lao động không tái hiện ra, nhưng
thông qua lao động trừu tượng của công nhân làm thuê mà tăng về lượng giá trị trong quá
trình sản xuất.
SX giá trị thặng dư tương đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư được thực hiện
bằng cách kéo dài tuyệt đối ngày lao động của công nhân trong điều kiện thời gian lao động
tất yếu (cần thiết) không thay đổi.
SX giá trị thặng dư tương đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư được thực hiện
bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu (cần thiết) để kéo dài một cách tương ứng thời gian
lao động thặng dư trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi trên cơ sở tăng năng suất lao
động xã hội.
* Giá trị khoa học và thực tiễn của học thuyết giá trị thặng dư
Học thuyết giá trị thặng dư là sự biểu hiện mẫu mực của việc vận dụng quan điểm duy

Quá trình thay thế các xí nghiệp nhỏ, phân tán bằng cách xí nghiệp lớn có vốn tư bản lớn,
đông công nhân và làm ra một khối lượng sản phẩm lớn. Sự tích tụ và tập trung tư bản đã dẫn
tới sự tích tụ và tập trung sản xuất, đến một mức độ nhất định sẽ hình thành các tổ chức độc
quyền. Liên minh giữa các nhà tư bản để nắm phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một số loại
hàng hoá nào đó nhằm thu lợi nhuận cao.
Hai là, hình thành tư bản tài chính và đầu sỏ tài chính. Đồng thời với sự tích tụ và tập
trung sản xuất công nghiệp, trong ngân hàng cũng có tích tụ và tập trung tư bản, hình thành
nên các ngân hàng lớn cạnh tranh với nhau, ra đời các tổ chức độc quyền ngân hàng. Do nắm
được lượng tư bản tiền tệ lớn, các ngân hàng có khả năng chi phối nhiều hoạt động kinh tế- xã
hội.
Tư bản tài chính là loại tư bản được hình thành trên cơ sở xâm nhập lẫn nhau giữa tư
bản công nghiệp và tư bản ngân hàng. Tư bản ngân hàng tham gia vào các tổ chức độc quyền
sản xuất công nghiệp để theo dõi việc sử dụng vốn vay. Để hạn chế sự chi phối của ngân
hàng, các nhà tư bản công nghiệp cũng can thiệp vào hoạt động của tư bản ngân hàng bằng
cách mua cổ phiếu hoặc thành lập ngân hàng cho riêng mình. Hai quá trình thâm nhập ấy gắn
kết với nhau, làm cho tư bản công nghiệp và tư bản ngân hàng dần trở nên thống nhất, hình
thành nên nhóm tư bản tài chính. Các nhóm tư bản tài chính có tiềm lực đủ mạnh trở thành
các đầu sỏ tài chính, thao túng đời sống kinh tế - chính trị ở các nước.
Ba là, xuất khẩu tư bản là thủ đoạn để các nhà tư bản ở các nước phát triển tiến hành
bóc lột các nước chậm phát triển thông qua trao đổi không ngang giá. Xuất khẩu tư bản là
xuất khẩu giá trị ra nước ngoài nhưng tiến hành dưới hình thức đầu tư tiền ra nước ngoài để tổ
chức sản xuất hoặc cho vay nặng, bóc lột giá trị thặng dư và một số nguồn lợi khác ở các
nước nhập khẩu tư bản.
Bốn là, sự phân chia thế giới về kinh tế giữa các tổ chức độc quyền. Khi lượng hàng hoá
sản xuất tăng, nảy sinh nhu cầu thị trường và nguyên liệu ngoài nước. Mặt khác, hàng hoá bán
ở nước ngoài cũng như đầu tư tư bản ở ngoài thu được lợi nhuận lớn hơn so với bán hàng hoá
và đầu tư trong nước nên giữa các nước tư bản diễn ra cuộc cạnh tranh gay gắt giành thị
trường thế giới. Những thoả thuận có tính chất lũng đoạn giữa các tổ chức độc quyền trong
việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hoá, tạo nên những tổ chức độc quyền quốc tế. Liên
minh giữa các tổ chức độc quyền lớn của các nước để phân chia thị trường thế giới, độc chiếm

C.Mác và Ph.Ăngghen đã dùng một số thuật ngữ khác nhau về giai cấp công nhân như
giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp công nhân đại công nghiệp thế kỷ
XIX… Các ông coi giai cấp công nhân là giai cấp của những người lao động không phải chủ
sở hữu của phương tiện sản xuất mà phải bán sức lao động, tạo ra giá trị thặng dư để có tiền
lương cho mình và làm giàu cho xã hội. Họ là con đẻ của nền sản xuất đại công nghiệp tư bản
chủ nghĩa, đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, hiện đại.
Ph. Ăngghen định nghĩa: “Giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm
sống bằng việc bán lao động của mình, chứ không phải kiếm sống bằng lợi nhuận của bất cứ
tư bản nào Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay giai cấp những người vô sản là giai cấp lao
động trong thế kỷ XIX”
1
.
V.I.Lênin bổ sung, giai cấp công nhân sau cách mạng vô sản, giành được chính quyền
đã trở thành người chủ, lãnh đạo nhân dân lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Ngày nay, cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức phát triển, công nhân có
trình độ ngày càng cao, làm việc ở những ngành ứng dụng công nghệ cao, khái niệm công
nhân đã có những thay đổi. Đảng ta định nghĩa: “Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực
lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm
công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản
xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp”
2
.
4.1.2. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:
- Về địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa
V.I.Lênin khẳng định: “Điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng rõ
vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa”
3
.
Giai cấp công nhân là sản phẩm của sản xuất công nghiệp hiện đại, đại biểu cho sự phát
1

thói quen của lối sống đô thị tập trung, tuân thủ pháp luật nhà nước
Thứ tư, giai cấp công nhân có tinh thần quốc tế vô sản vì sản xuất công nghiệp tư bản
chủ nghĩa có tính chất quốc tế; lao động của họ có tính chất quốc tế. Chủ nghĩa tư bản là một
lực lượng quốc tế. Muốn chiến thắng nó, cần phải có sự đoàn kết quốc tế.
4.1.3. Tất yếu và quy luật hình thành chính đảng của giai cấp công nhân
Đấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản diễn ra ngay từ đầu khi nó mới
ra đời. Sản xuất tư bản càng phát triển, đấu tranh của công nhân từ tự phát sẽ lớn dần, từ phá
máy móc, lãn công đến bãi công, đấu tranh kinh tế đến đấu tranh chính trị. Trong quá trình đó
họ tất yếu tổ chức ra công đoàn, hội nghề nghiệp của mình.
Sự thất bại của các cuộc đấu tranh tự phát quy mô lớn của giai cấp công nhân thế giới
những năm 30 - 40 thế kỷ XIX đòi hỏi phải có lý luận dẫn đường. Chủ nghĩa Mác đã tìm thấy
ở giai cấp công nhân và phong trào công nhân như một lực lượng vật chất to lớn. Giai cấp
công nhân nhìn thấy ở chủ nghĩa Mác như một vũ khí tinh thần dẫn đường cho đấu tranh của
mình. Sự kết hợp chủ nghĩa Mác và phong trào công nhân tất yếu ra đời tổ chức chính đảng
của giai cấp công nhân. Đó là quy luật chung ra đời chính đảng của giai cấp công nhân ở các
nước tư bản phát triển trong thế kỷ XIX.
Tư tưởng của V.I. Lênin khẳng định Đảng cộng sản là đảng kiểu mới của giai cấp công
nhân được xây dựng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đảng là đội tiên phong của giai cấp
25

Trích đoạn ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG TRƯỚC ĐỔI MỚI (1930-1986) 1 Đường lối đấu tranh giành chính quyền (1930 1945) nghĩa lịch sử Nguyên nhân thắng lợ 1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội 1995, tr 431. HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒCHÍ MINH, TU DƯỠNG VÀ RÈN LUYỆN TRỞ THÀNH NGƯỜI CÔNG DÂN TỐT, NGƯỜ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status