B ộ GIÁO DỤC VÀ DÀO TẠO
TRƯÒNG ĐẠI HỌC TổNG HỌF h ả n ộ i
* * *
______________
PHẠM VĂN KHÁNH
TÍNH PHÓ BIẾN VÀ TÍNH ĐẶC THÙ
CỦA QUYÈN CON NGƯÒI
LUẬN ÁN PHÓ TIẾN Sĩ KHOA HỌC TRIÊT HỌC
HÀ NÔI - 1995
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐAO TẠO
TRƯÒNG ĐẠI HỌC TổNG Hộp HÀ NỘI
PHÀM VẮN KHÁNH
TÍNH PHỔ BIEN VÀ TÍNH ĐẶC THÙ
CỦA QUYỀN CON NGƯÒI
Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghía duy vật lịch SỪ
Mả số : 5 01. 02
LUẬN ÁN PHÓ TIẾN Sĩ KHOA HỌC TRIET h ọ c
Người hướn% dẫn khoa học : Đỗ NGUYÊN PHƯONG
p G s, p T s Triết học
N GUYỄN AN LỊCH
p G s, p T s Triết học
HÀ NỘI - 1995
MỎ ĐAU
1. Tínb cấp thiết của đê tài
Hiện nay, quyền con ngưrti đang ]à vấn đề nóng bỏng, không
chỉ có tính thòi sự chinh trị, đấu tranh tu tưởng mà còn là vấn
đề của triết học. Sau sự tan võ của Liên Xô và các nưỏc XIĨCN
ở Dông Ảu, quyền con ngưòi trỏ thành một vấn đề nhạy cảm
trong quan hệ chính trị quốc tế, vỏi sụ quan tâm của nhiêu quóc
mỏi ở Việt Nam " (Trung tâm thông tin tư liệu - Học viện Chinh
trị quốc gia Hồ Chí Minh) ; "Việt Nam vỏi công ưỏc quốc tế về'
quyền con nguòi" (Trường Đại học Tổng họp Hà Nội, Khoa Luật) ;
"Quyền con người trong thế giói hiện đại" do Phạm Khiêm ích
và Hoàng Văn Hào chủ biên (Viện thông tin khoa học xă hội và
Trung tâm nghiên cúu quyền con nguòi, Hà Nội, 1995). v.v.
Các tác giả, những công trinh đỏ đã đề cập nhiều khía cạnh
về quyền con nguòi. Đó là sự tìm tòi sáng tạo và gội mỏ nhũns
hưỏng nghiên cứu mỏi về quyền con ngưòi.' Nhung những nghiên
cưu trực tiếp về tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con
ngưòi từ cách tiếp cận triết học chua nhiều.
- 7 -
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Tù góc độ triết học, luận án nghiên cứu, làm rõ tính phổ
biến và tinh đặc thù của quyền con nguòi, trong đó chú ý đến
đặc thù của quyền con ngưòi Việt Nam và trong cách mạng Việt
Nam, kiến nghị một số giài pháp chủ yếu nhám bảo đảm và phát
triển quyền con ngưòi ở nuỏc ta trong giai đoạn hiện nay.
Với mục đích đó, luận án có nhiẹm vụ :
- Một là, nghiên cứu tính phổ biến của quyền con nạưòi
trong mối liên hệ với tiến bộ xã hội dân chù và chủ quyền quốc
gia.
- Hai là, nghiên cứu tính đặc thù cùa quyền con nguòi, cu
thể là đặc thù quyền con ngưòi ỏ Việt Nam .
- Ba là, lêu lên một sổ kiến nghị góp phàn bảo đảm và
phát triển quyền con ngưòi ỏ nước ta.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên co sỏ vận dụng các quan điểm
lý luận, phưang pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưỏng
Hồ Chí Minh- trong đó chủ nghĩa duy vật biện chúng và chủ
1. Bản chất quyên con ngưòi
a. Bản chât tự nhiên của quyên con người.
Con ngưòi là sản phẩm cao nhất của quá trình tiến hoá cùa
thế giới tụ nhiên, của sự tiến hoá giống loài. Khoa hoc đã chứng
minh bằng lao động, vối việc làm ra công cụ để chế tạo ra công
cụ lao động, tác động vào giỏi tụ nhiên, sản xuất ra những sản
pnẩm đáp ung những nhu câu đầu tiên về ăn, ỏ, mặc con nguòi
dã vượt hẳn lên trong thế giỏi động vật, trỏ thành ngưòi, thực
hiện bưóc nhảy vọt về chất trong quá trình tiến hoá tù vưọn
thdnh ngưrìi.
Sự xuất hiện con nguòi với diện mạo và đặc trưng có tu duy
của nó, thế giỏi loài nguòi hình thành và phát triển đã nâng vị
trí con nguúi từ chỗ tồn tại trong tự nhiên, sống với tự nhiên,
lên đến biết cài biến tụ nhiẽn, tái tạo tụ nhiên theo ý chí của
mình. Dây là khỏi điểm trong quá trình con nguòi đi tối tự do,
10 -
phát triển nhân cách cùa mình. Lao động đã sáng tạo ra con
ngưòi, theo quan điểm và cách nói ấy của Ãng-ghen, thì củng
chính là lao động, chi bàng lao động con ngưòi đã tự khẳng định
được vị tri là chủ thể của mình đối vối tự nhiên và vối muốn
loài trong thế giỏi tự nhiên ấy. Dồng thòi, từ đó, con người cũng
xác định vai trò, quyền năng của mình trong vũ trụ.
s
Lôgich khách quan của sự phát triển của lịch sử đã khẳng
định trong r.hực tiễn sản xuất và đòi sống, tror.g toàn bộ hoạt
động xã hội loài r.gưòi : quyền con người là một dặc trunc: co
bản của con ngưòi, một thuộc tính thuộc bản chất tự nhiên của
con ngưòi.
Nhìn tù góc độ lịch sứ. quyền con ngưòi có lịch sủ lâu dài
nhu chính bản thân lịch sử loài ngưòi. Điều đó nói lên quyền
hình thức lịch sử dầu tiên, bản chắt tự nhiên của quyền con ngưòi
biểu hiện thành quyền tồn tại, quyền đuợc sons bằnơ sức lao
đông của mình, quyền được tự do và quyền phát triển. Dến nay,
khi nhàn loại đã và đang sống trong thòi đại khoa học, công
nghệ và tin học hoá, nhũng quyền tự nhiên cơ bản của con ngưòi
vẫn là vắn đề nóng bỏng ỏ nhiều quổc gia, dân tộc khắp hành
tinh.
- 12 -
b. Bủn chất xã hội, giai cấp của quyền con người
Con ngưòi, ngay từ khi xuất hiện đă ]à một sản phẩm lịch
sừ, xã hội. Bản chất con ngưòi trong tính hiện thục của nó là
tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Bản chất xá hội đó thể hiện
trên tất cả các phương d’ện hoạt động cùa con nguòi, từ sản xuât
vât chất đến sản xuát tinh thần, đòi sống vât chất va đòi sống
vàn hoá, tinh thần. Thông qua hoạt động thục tiễn, con ngưòi tự
tổ chức thành xã hội ngưòi, Con ngưòi vưa tạo ra xã hội lại vùa
hoà nhập vào xã hội. Đây lá một biíổc tiến nhảy vọt, vì con
người hành động một cách có ý thúc, kể cả nhũng hành vi, hoạt
động có tính bản năng. Xã hội đối vổi cá nhân con ngưoi thì
tồn tại một cách khách quan, nhu một khách thể còn con ngưòi
trong hoạt đông của minh lại tác động vào xã hội nhu một chủ
thể. Sụ tuong tác giũa con nguòi và xã hội, xã hội và con ngưòi
- một mật làm biến đổi xã hội, biến đổi cả thế giõi tụ nhiên
nhưng mặt khác, con ngưòi lai bị chi phối, biến đổi theo nhùng
quy luật khách quan của sự vận động và phát triển cùa xã hội.
Ò đây, nổi lên một bản chất mối là tính xã hội, lịch sử trong
vấn đề quyền con ngưòi.
Từ động vật có ý thúc, biết chế tạo công cụ lao động đến
con nguòi xã hội, con nguòi chính trị là nhủng bước tiến nhảy
vọt trong tiến trình lịch sử loài ngưòi. Cùng vỏi tiến trình lịch
làm chủ bản thân , các nhà nghiên cứu khoa học thuộc các lĩnh
vực khoa học xã hội và nhân văn đều có nhận định chung, coi
quyền con người là giá trị phô biến của toàn nhân loại, là những
khả năng, nhu cầu xuất hiện cùng với sư ra đòi của con người,
xã hội loài người. Quyền con người được coi ỉà những giá trị kết
tụ ihành quả lao động và dấu tranh của con người đê khẳng định
sự tôn lại sự sông và phát trìên của mình.
Trong tiến trình phát triển của lịch sù nhàn loại, quvên con
ngưòi tồn tại và phát triển một cách khách quan. Nó gắn liền
vỏi nhủng quan hệ lịch sử, xă hội và vì thế quyền con nguòi
mang đặc điểm và bảncbất của cuộc đấu tranh giai cấp, đẩu tranh
cho tiến bộ vã phát triển cùa xã hội loài nguòi. Nội dung quyèn
con ngưòi luôn luôn đuọc bổ sung những giá trị mỏi và phát ưiển
ngày càng phong phú, đa dạng cùng voi sự phát triển của vãn
hoá, văn minh của loài ngưòi. Trong mổi thòi đại, trong tùng thòi
kỳ lịch sử, quyền con nguôi với những nội dung và khối lưọng
các quyn bị chi phối và do các điều kiện về kinh tế, chính trị,
xã hội quyết định. Quyền con ngưòi, quyền công dân bao giò cũng
gắri với hệ thống pháp luật nhất định, tuỳ theo đặc điểm về lịch
sử, văn hoá, kinh tế, xã hội, tôn tíiáo ỏ từng quốc gia, dân tộc
và trên phạm vi quốc tê. Quyền con nguòi không bao giò tách
ròi quyẽn dân tộc và từng thành viên trong mỗi cộng đồng, trong
xă hội cu thể.
- 15 -
Từ những nhận định trên có thể khẳng định quyền con người
là vấn đề của mọi thòi đại, xuyên suổt lịch sú loài nguòi, gắn
liền vỏi quá trình tồn tại và phát triển của con ngưòi, của cả
loài ngưòi. Đặc diêm cơ bân, Lổn nhất của quyên con người là
tính phổ biến, phổ quát toán nhân loại, đòng thòi bao hàm cả
cái đặc thù của mỗi quốc gia, trong từng dân tộc.
hội, cuộc đấu tranh giửa những ngưòi bị áp búc, bị bóc lột, bị
tnống trị và nô dịch về kinh tế, cũng như bị nô dịch về tinh
thần vối giai cấp những ngưòi thống trị, áp bức và bóc lột thực
chất là cuộc đâu tranh cho quyền con ngưòi, giành lấy những
quyền cho những giai cáp, tâng lóp bị tước đoạt mất quyên con
nguòi : từ quyền chính trị, kinh tế đến quyền dân sự, văn hoá,
xã hội. Và, trong nhiều thòi đại còn là quyên sống, quyên bình
đẳng và phát triển của các dân tộc. Trong chế độ chiếm hữu nỏ
lệ, những neưòi nô lệ chi đưọc coi là nhũng công cụ biết nói,
ho bị bóc lột, hành hạ, ngay cả quyền súng tối thiểu cho một
con ngưòi họ cũng không có, không đuộc bảo đảm. Do đó, họ
đấu tranh đòi quyền sổng và quyền được làm ngưòi tự do. Tư
tường và neọn cò, khẩu hiệu 'tự do, bình đảng, bác ái", nhũng
tư tưởng nhân ái, tiến bộ của giai-cáp tư sản là nhũng nội dung
co bản về quyền con ngưòi trong nhiều thế kỷ để giai cấp tu sàn
tập bợp lực lượng quàn chúng nhân dân làm cár.h mạng tu sàn
17
'ĐAI K>. . K
ĨR U ỈỈK T ;
lật đổ chế độ chuyên ché phong kiến. Cách mạng tư sản giành
tháng lọi, giai cấp tu sản nám quyền thống trị xã hội, dn bản
chất bóc lột và ăn bám, để duy trì và bảo vệ quyền tu hữu tu
liệu sản xuất thiêng liêng và bât khả xâm phạm, giai cáp tư sản
phản bội lý tuỏng nhàn quyền và tụ do, chính họ đã lại dùng
những thù thuật tinh vi, xáo quyệt, chà đạp lên quyền con nguòi
của tuyệt đại bộ phận dân cu trên thế giới. Ỏ trong nuớc thì
bóc lột và đàn áp nhân dân lao động, phân biệt chùng tộc, bên
ngoài thì đem quân- xâm luọc và áp đặt chế độ chính trị. Ngay
ở nưỏc Mỹ vốn được mệnh aanh là "xú sỏ của nhân quvẻn" nhung
những khái niệm về tụ do và quyền can người đuọc sủ dụng cốt
sóng vỏi những điều kiện sống tốt hơn cho con ngưòi.
Trong xã hội công xã thòi cổ ỏ La Mã, ngưòi ta đã biết
đến quyền kinh tế là một loại quyền xuất hiên cùng vỏi sự ra
đòi của chế độ tư hữu ruộng đất. C.Mác viết : "Quyền sỏ hủu
đối vối lao động của minh được quyền sỏ hũu đối vối nhủng điều
kiện lao động, túc ]à đối vối mảnh đất làm môi giỏi, và về phia
mình, quyền sỏ hừu này lại đưọc sự tồn tại của công xã bào
đảm
Sỏ hũu là sỏ hữu của ngưòi công dân cùa công xã La Mã,
là sỏ hữu La Mã ; kẻ tư hữu ruộng đất chi ]à kẻ tư hữu với tu
cách là ngưòi La Mã, nhưng vỏi tu cách là người La Mã thì anh
19 -
ta nhất thiết phải là kẻ tư hữu ruộr.g đất". [31»5] (tr. 80).
Thòi cổ đại, với quan niệm con ngưòi là thưỏc đo của muôn
loài, là châu báu của vũ trụ, các nhà triết học Hy-lạp cho ràng
các quyền tự nhiên là tài sàn của tất cả mọi nguòi. Ngay tù thòi
ấy, thi dân ỏ một số thanh phổ A Cập đã đưộc sư dụng các
quyên con nguòi nhu quyền tự do ngôn luận, quyền bình đẳng
cùa tất cả moi công dân trước pháp luật. Trong thòi đó, những
quven vừa nêu đuợc coi là những quyên tự nhiên, co bản của con
người, ngay tù thòi cổ đại, khái niệm quyền con ngưòi, quyền
công dân gắn liền vói khái niệm dân chù tức là quyền lực thuộc
về nhản dân, là sự phát triển các khả năng để nắm và sử dụng
các quyền của nhân dân.
Dến thòi Phục Hưng và thòi cận đại, những ván đề cùa quyền
con ngưòi đuợc nghiên cứu sâu sác. Các nhà triết học, các nhà
tư tưỏng trên cơ sỏ cùa một thế giói quan duy vật khoa học và
nhân sinh quan mỏi đã đi sâu kham phá bản chắt xã hội và con
người. Xu hướng tư tưỏng cơ bàn cùa thòi kỳ này là đề cao con
nguòi và các giá trị cùa nó, vì con ngưòi và giải phóng con ngưòi.
quyền con ngưòi được pháp luật bảo đảm.
Bên cạnh cãc quyền con ngưòi được ghi nhận trong Hiến
pháp và pháp luật của tùng quốc gia, dân tộc, các văn bản pháp
lý quốc tế từ năm 1948 đến nay đă thông qua nhiều tuyên neôn
- 21 -
và công ưỏc về quyền con r.siiòi. Ngày 10 tháng 12 năm 1948,
Dại hội đồng Liên hiệp quốc đã thông qua Tuyên ngôn quốc tế
về quyền con ngưòi. Tuyên ngôn này mang tính chãi khuyến nghị
và không đòi hỏi các nước phải phê chuẩn. Năm 1966, Liên hiệp
quốc đã thông qua hai cõng ưỏc về quyền con ngưòi : Công ước
quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và vãn hoá ; Công ưốc
quốc tế về các quyền dân sự và chính trị kèm theo đó là một
nghị đinh thư. Cho đen nay, nếu kể tù văn bàn pháp !ý quổc tế
đầu tiên về quyền con nguòi thì đã có hơn 70 công uốc, nghị
định quốc tế được thông qua về quyên con nguòi.
Ngày nay, nội dung các ván đề của quyền con ngưòi, xét tù
nhúng nhu câu, khát vọng vừa mang tính phổ biến lại rát đa
dạng, phong phú vì nó có quan hệ mật thiết đến cuộc sổng cùa
cả loài ngưòi, của mỗi con ngưòi. "Chẳng hạn, sự đe đoạ hạt
nhân không chi là một cuộc "chiến tranh thế giổi" đáng sọ, như
chúng ta đã biết trong quá khứ, mà là sự huỳ diệt thẳng thùng
cà loài ngưòi. Không còn là vắn đề biên giới nữa, mà là một vấn
đề đụng chạm đén nhân loại trong cái so đẳng nhắt của nó :
cuộc sống. Có yêu cầu nào phổ biến hơn yêu càu hoà bình, giải
trù vũ trang mà phong trào hoà bình thế giỏi tiêu biểu hay khổng.
Cũng vậy, nhũng tiến bộ về khoa học và công nshệ làm nảy sinh
nhũng vấn đề, ỏ đây nữa, cùng liên quan đến toàn thể loài ngưòi.
Dù là vấn đề về những triển vọng chác chán như chinh phục
khổng gian, thám hiểm các đại dương, nhũng hậu quả của sự tìm
tòi trong cong nghệ hay công nghiệp, những tác động của nhũng
biến ấy, nảy sinh một quan niệm đầy đù hơn về quyền con ncuòi,
đồng nhất vỏi quyền có một cuộc sdng thật sự con ngưòi : quyền
của những nguòi đàn ông và đàn bà tự do và bình đẳng ; quyền
của các dân tộc sống trnng độc lập, công bằng và lự do ; quyền
của toài người sống trong một thế giỏi đoàn kẽt và không có vũ
khí, làm chủ nhứng tiến bộ khoa học và công nghệ, tôn trọng
nhũng cân băng sinh thái. Những quyên ấy sẽ buộc ngưòi ta phải
thưa nhận. Nhưng đê’ đạt điều này phải đấu tranh gian khổ đến
múc nào ! Một cuộc đáu tranh trong đó nhận loại có một đòn
bẩy chù yếu : lực lượng cùa nhân dân". [33] (tr. 44-46).
Như vậy, trong lịch sừ tồn tại và phát triển của nhàn loại,
nhân quyền gắn liền vỏi sự tồn tại và phát triển của loài nguời.
Nhân quyên lồ lĩnh vực có nhiều ngành khoa học nghiên cửu.
Khái niệm quyền con người chỉ ra một bản chấi rất cơ bản cùa
con người. Dó là bàn chất xác lập tự do và binh đẳng cùa cá
nhân với cá nhân, xã hội và tự nhiên trong quá trình sinh tồn.
Bảri Iciuư này biêu hiện thành nhúng kha năng của con ngưưi được
pháp luật thừa nhận và bảo đảm đê sử dụng, chi phối các giá trị
vật chất, văn hoá, tinh thân, các phúc lợi xã hội mà loài người
đu tạo ra trong quá trình lao động và cải biến tự nhiên, phát triên
sản xuất và đời sống, cải tạo và phát triên xã hội. Khái niệm
quyền con ngươi phản ánh nhu cầu và hiện thực lao động và đấu
tranh của con ngưòì vì hạnh phúc, ấm no, tự do, bình đẳng, dân
chủ và phát triên Quyên con người là nhãng cái con người được
làm, được hường, được chỉ phối và sứ dụng, là tự do của con
- 24
ngưòỉ trung các lĩnh vực hoạt động của đòi sống cá nhân và xã
hội. Ọuyên con nguòi bao hàm tự do của con ngưòi : quyền tự
do. Tự do là một trong nhũng quyền co bản của con ngưòi. Trên
phương diện quyền, tự do vừa là nhu càu, vừa là khả năng, vừa
cả quyền sổng. Trong các xã hội đó, nói đến quyền con nguòi,
trưỏc hết là nhũng quyền của các tầng ]ỏp, giai cáp thống trị.
Chế độ chiếm hữu nô lệ bảo về quyền của giai cấp chủ nô. Chế
độ phong kiến là quyền của vua, chúa, của giỏi cầm quyên, quan
lại. Trong xã hội tư bản thì chủ yếu cũng là quyên của giai cấp
tu sàn và giai cáp những ngưòi có của.
Có áp bức, bóc lột, có đấu trar.h, Do mát quyền vì bị tước
mất quyền hoặc cũng là người mà trong xă hội lại khône có quyên
gì, sự bất bình đẳng giũa giai cáp những nguòi lao động, những
ngưòi nô lệ, cần lao, những ngưòi bị áp bức và giai cấp thống
trị đá tạo ra mâu thuẫn, làm nảy sinh cuộc đấu tranh đòi quyền
của các giai cắo bị mất quyên. Cuộc đẩu tranh đó, lúc công khai,
luc ngấm ngầm, khi là đấu tranh kinh tế, tư tưong và khi là đấu
tranh chính trị, đáu tranh vũ trang. Từ thòi đại chiếm hữu nô lệ
đến thòi đại ngày nay, cuộc đấu tranh ấy chưa bao giò chấm dứt.
Cuộc đấu tranh đôi quyền làm nauòi xảy ra ngay trong lòng
chế độ chiếm hữu nô lệ. Tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của
- 26 -
những ngưòi nô lệ ỏ La Mã cổ đại.
Lúc đầu những ngưòi nõ ]ệ chì đấu tranh đòi được có cái
ăn, có quần áo mậc, được đối xử tử tế nhưng về sau họ đã liên
kết nhau lại đấu tranh vũ trang giành chính quyền, lật đổ sự
thống trị của giai cấp chủ nô, quý tộc. Vào thế kỷ thứ hai truỏc
Công nguyên, cuộc khỏi nghĩa đầu tiên của nô lệ xảy ra ỏ đảo
Xi Xin của đế quôc La Mã. Hàng cbục vạn nô lệ và dân nghèo
dưổi sự lãnh đạo cùa Ô muýt và Colẽông đã tiến hành khỏi nghĩa,
đốt phá thành En na, giết chết bọn chủ nô quý tộc, cướp chính
quyền, thành lập nghị viện, tổ chức quân đội để chiến đắu chống
lại quân đội của triều đình La Mã. Mặc dù bị chím trong biển
máu, và bị đàn áp khốc liệt, những cuộc khỏi nghĩa của nỏ lệ
và nông nô. Những cuộc khỏi nghĩa của nông dân liên tiếp nổ
ra chổng ách thổng trị của giai cáp phong kiến. Nhủng mâu thuẫn
về kinh tế trong xâ hội phong kiến là những nguyên nhân đua
tỏi cuộc đấu tranh về tư tưởng của giai cấp tư sản chóng lại hệ
tư tuỏng phong kiến. Trong cuộc đấu tranh đó giai cáp tư sản
đã nêu cao các khẩu hiệu về nhân quyền để tập họp lục lưọng
lật đổ giai cấp phong kiến, quý tộc, lật đổ chế độ phong kiến.
Cách mạng tu sản đã mang lại bước tiến bộ lịch sủ trong
việc bảo vệ các quyền con ngưòi. Tự do, bình đẳng, bác ái, dân