1.Tên SKKN:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÍ PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC PHÙ HỢP VỚI TÍNH ĐẶC THÙ CỦA HỌC SINH LỚP 6
2. Đặt vấn đề:
2.1 Tầm quan trọng của vấn đề:
Nhìn lại cách tổ chức, quản lí dạy và học ở các lớp cuối cấp tiểu học với
các lớp đầu cấp THCS ta thấy có nhiều điểm quá khác nhau cả về nội dung
chương trình sách giáo khoa lẫn phương pháp dạy học, là một sự thay đổi quá
lớn và có thể xem là khá đột ngột, nhất là đối với các em từ lớp 5 lên lớp 6.
Cụ thể sự khác biệt đó là: Ở bậc THCS, mỗi môn học có một thầy cô riêng,
ngay cả thầy cô giáo chủ nhiệm lớp cũng chỉ dạy ở lớp một môn và thời
gian làm việc với lớp cũng không nhiều. Do đó việc quản lí, kèm cặp các em
không được chu đáo như ở tiểu học. Nhất là đối với khối lớp 6 là khối lớp
nhỏ nhất, còn rất xa lạ với mọi thứ đối với môi trường giáo dục của nhà
trường, từ cảnh quan, bạn bè, thầy cô, nội dung học, phương pháp dạy, ...
Thật đúng, lớp 6 là lớp “vỡ lòng” của bậc THCS, rất cần sự nâng niu, dìu dắt,
một bầu không khí thân thiện, cởi mở của tất cả các thầy cô, của các học sinh
đàn anh đàn chị để các em dần dần tiếp cận, làm quen, các thầy cô ở từng bộ
môn cần khai phá từng bước một thì các em mới có thể “bắt nhịp” được phương
pháp dạy và học ở bậc học THCS này. Do đó vấn đề dạy học ở lớp 6 đòi hỏi các
trường THCS, các nhà quản lí, các thầy cô giáo phải quan tâm đặc biệt hơn, phải
thấy rõ sự chuyển tiếp của hai cấp học còn nhiều sự khác biệt trong phương
pháp quản lí và dạy học. Để từ đó đề ra các phương pháp giáo dục thích hợp và
cần có sự quan tâm sâu sát hơn với đặc điểm của một lớp đầu cấp.
2.2 Thực trạng vấn đề:
Trong ngành giáo dục, việc quan tâm nâng cao chất lượng giáo dục là
nhiệm vụ chính trị hàng đầu của tất cả các trường học, mọi hoạt động trong nhà
trường cũng chỉ nhằm phục vụ các hoạt động dạy học. Hằng năm, tập trung nhất
là trong các kì nghỉ hè, từ Sở giáo dục đến các Phòng giáo dục thường xuyên tổ
chức các đợt tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên ở tất cả các bộ
môn, cán bộ quản lí, ... Tuy nhiên việc đầu tư quan tâm đối với khối lớp 6, khối
kém trong việc ổn định nâng cao chất lượng học tập của học ssinh lớp 6 từ nhiều
năm qua. Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 6 của trường THCS Nguyễn Huệ
thuộc PGD Đại Lộc. Năm học trước tôi đã đi sâu nghiên cứu về các giải pháp
quản lí nề nếp tự học đối với học sinh lớp 6, bước vào năm học này tôi cũng tiếp
tục nghiên cứu về các giải pháp trong dạy học để nâng cao chất lượng học tập ở
học sinh lớp 6 với đề tài là “Một số biện pháp tổ chức và quản lí phương pháp
dạy học phù hợp với tính đặc thù của học sinh lớp 6”
3. Cơ sở lí luận:
3.1 Một số khái niệm:
- Quản lý: Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có
một định nghĩa thống nhất. Có người cho quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự
hoàn thành công việc qua sự nổ lực của người khác. Cũng có người cho quản lý
là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nổ lực cá nhân nhằm
đạt được mục đích của nhóm. Tuy nhiên, theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động
có mục đích của con người, cho đến nay nhiều người cho rằng: Quản lý chính là
các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người
khác nhằm thu được kết quả mong muốn. Từ những ý chung của các định nghĩa
và xét quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa: Quản lý là sự
tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý
nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Trong định nghĩa trên cần lưu ý một số điểm sau:
+ Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.
+ Quản lý thể hiện mối liên hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và đối
tượng quản lý, đây là quan hệ ra lệnh – phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt
buộc.
+ Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người.
+ Quản lý là sự tác động, mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với
quy luật khách quan.
+ Quản lý xét về mặt công nghệ là sự hoạt động của thông tin.
2
giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành cho học
sinh nhằm đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học và chính như vậy mà đạt
được mục đích dạy học.
3.2 Thông tin liên quan đến đề tài:
- Phương pháp dạy học phù hợp với tính đặc thù của học sinh lớp 6 là gì?
Theo tôi, đó là “tổ hợp các cách thức tổ chức hoạt động của giáo viên một cách
tương thích, phù hợp với tính đặc thù của học sinh lớp 6 trong sự phối hợp,
thống nhất dưới vai trò chủ đạo của giáo viên, kích thích sự chủ động của học
sinh nhằm thực hiện được những nhiệm vụ dạy học”.
-Tính đặc thù của học sinh lớp 6 như thế nào(?). Theo tôi, vấn đề giáo dục
học sinh lớp 6 hiện nay được khá nhiều người quan tâm, chúng ta cũng khẳng
định lại rằng lớp 6 là lớp “vỡ lòng” của bậc học THCS, phải thấy rằng ở các em
còn quá non nớt trong một môi trường quá mới lạ so với lúc còn ở tiểu học, mới
lạ cả về nội dung chương trình lẫn phương pháp tổ chức và quản lí người học.
Do đó đối tượng học sinh mới bước vào học lớp 6 có một đặc thù rất riêng so
với những khối lớp đàn anh 7,8,9 trong nhà trường.
3
4. Cơ sở thực tiễn:
4.1 Thực trạng vấn đề:
Việc đầu tư quan tâm đến học sinh khối lớp 6 là vấn đề được nhiều trường
quan tâm. Đây cũng là vấn đề mà bản thân tôi đã tập trung nghiên cứu trong
năm học trước với đề tài là “Một vài kinh nghiệm trong việc quản lí, xây dựng
nề nếp học tập đối với học sinh khối 6”. Tuy nhiên, năm học này tôi chỉ đi sâu
vào việc nghiên cứu phương pháp dạy và học mang tính đặc thù đối với học sinh
lớp 6. Để có cơ sở nghiên cứu, trước hết chúng tôi đã theo dõi tình hình diễn
biến chất lượng học lực ở một số mặt khi học sinh từ lớp 5 bước vào lớp 6 qua
vài năm gần đây của nhà trường như sau:
Năm TS Đầu năm (Đầu vào)
37.1%
120 71.9% 30
202
202
100.0%
71
35.1%
158 78.2% 28
162
162
100.0%
53
32.7%
115 79.0% 32
SL
Phân tích nguyên nhân:
+Về phía PHHS: Với tâm lý chung là khi con em được vào lớp 6 tức là
đã ‘thoát khỏi trường làng” thì họ xem như xong, không cần phải quan tâm
nữa!
+Về phía quản lí:
-Khối lớp thường được quan tâm nhiều là khối 8 và khối 9. Bởi khối 8 là
lứa tuổi HS có nhiều thay đổi về tâm sinh lý nên hay nghịch phá, có nhiều vấn
đề về hạnh kiểm cần phải chú ý. Còn khối 9 là khối thi tuyển vào lớp 10, là “bộ
mặt” của nhà trường nên cần quan tâm nhiều hơn, nhất là về học tập. Còn khối 6
được cho là nhẹ gánh nhất vì các em còn ngây thơ, dễ dạy so với các khối khác.
Như vậy, vô tình cả gia đình lẫn nhà trường đều có xu hướng an tâm khi trẻ học
lớp 6. Điều đó thật thiệt thòi cho các em vì đây là năm đầu tiên lên trung học,
các em còn nhiều bỡ ngỡ trước mọi thứ mới lạ, không như ở tiểu học.
-Chưa có sự quan tâm đúng mức đến một khối lớp đầu cấp, chưa thấy
được sự khác biệt về nội dung chương trình cũng như phương pháp dạy học giữa
lớp 5 và lớp 6 để có sự đầu tư phù hợp đáp ứng được điều kiện, nhu cầu dạy học
mang tính dặc thù cho khối lớp 6.
+Về phía học sinh: Phần lớp các em lớp 6 không quen và đang gặp nhiều
khó khăn như là nội dung bài học viết quá nhiều nên có nhiều em không viết kịp
và phải viết ngoáy, nội dung công việc học tập về nhà quá nhiều, trong khi ở lớp
5 là rất ít, thậm chí là không có. Rõ ràng mới khi bước vào đầu năm học lớp 6
các em đã phải học tập với một cường độ quá lớn mới có thể tải được nội dung
chương trình hiện hành.
4
+Về phía giáo viên: Như ta thấy, nội dung chương trình sách giáo khoa
của lớp 6 so với lớp 5 là có phần nặng hơn nhiều: môn học nhiều hơn, nội dung
từng môn học, từng tiết học cũng nhiều hơn,... Do đó việc dạy học của các thầy
cô giáo lớp 6 cũng gặp khó khăn hơn nhiều. Trong khi đó một bộ phận giáo viên
giảng dạy.
-Phát huy, nhân rộng những giải pháp tổ chức dạy học phù hợp với đặc
thù của lớp 6 như: Đầu tư phương pháp lẫn nội dung kiểm tra bài cũ; Phương
pháp tổ chức, quán xuyến các hình thức kiểm tra việc ghi bài, soạn bài của học
sinh; Tăng cường đầu tư nội dung dặn dò giao việc phù hợp và vừa sức; ...
Với việc tiếp tục tổ chức thực hiện các nhóm giải pháp của năm học này,
tôi hy vọng chất lượng dạy học của học sinh lớp 6 nói riêng , chất lượng giáo
dục nói chung của nhà trường sẽ được cải thiện ngày càng rõ rệt hơn.
5
5. Nội dung các giải pháp:
1. Tổ chức tìm hiểu tính đặc thù của lớp 6:
Như Bác Hồ đã nói “Biết địch biết ta trăm trận trăm thắng”, hoặc như
trong phương châm của ngành y: “Chẩn đoán đúng bệnh mới chửa được bệnh”
Thật vậy, trong nghề dạy học cũng thế, người thầy giáo muốn có tiết dạy hay,
học sinh chăm chú lắng nghe chỉ khi họ hiểu được học sinh, họ biết học sinh của
mình thích nghe những gì, thích nghe như thế nào(?). Như vậy để dạy học ở lớp
6 đạt hiệu quả thì người thầy phải thấy được các đặc thù của lớp 6 và nó có gì
khác với các lớp 7,8,9(?)
Khi dạy học sinh lớp 6 thì phải biết rằng các em là từ lớp 5 lên và nội
dung học, cách học ở lớp 5 như thế nào, thói quen học tập ở trên lớp cũng như
học ở nhà ra sao (?). Thậm chí cần biết thêm khối lượng kiến thức lớp 5 khác
với lớp 6 ở mức độ nào, các em mới vào lớp 6 sẽ gặp khó khăn gì, … Từ đó
người thầy giáo sẽ biết để “tránh” gây khó khăn cho các em hơn trong việc học
tập bộ môn mình đang dạy. Nắm bắt được vấn đề này cũng nhằm hạn chế việc
thay đổi đột ngột về phong cách học tập ở học sinh khi các em từ lớp 5 bước vào
lớp 6.
a)Phương pháp tìm hiểu:
+Về phương pháp tổ chức và quản lí người học: Ở lớp 5, các em được sự
bảo bọc, chỉ bảo khá chu đáo của nhà trường, nhất là của giáo viên phụ trách lớp
(gọi là giáo viên chủ nhiệm). Nhưng khi bước vào lớp 6, cách quản lí các em đã
khác hẵn, mỗi thầy cô giáo dạy một bộ môn, nhất là giáo viên chủ nhiệm cũng
chỉ “gặp” các em mỗi tuần nhiều nhất khoảng vài ba lần ! Với cách quản lí có vẽ
rời rạc như thế thì dễ nảy sinh tư tưởng mình được “thả lỏng” từ đó dễ dẫn đến
hiện tượng lơ là, thiếu tập trung cho việc học là tất yếu, nhất là đối với đối tượng
chưa chăm, ít tự giác.
Có cảm nhận được những đặc thù của các em học sinh mới bước vào lớp
6 như vậy thì khi được phân công giảng dạy các bộ môn ở khối lớp này người
thầy mới am hiểu về người học nhiều hơn, từ đó vạch ra kế hoạch dạy học phù
hợp để kết hợp tổ chức quản lí việc thực hiện nhiệm vụ học tập của các em tốt
hơn và để dần dần điều chỉnh, uốn nắn cho các em thích hợp với phương pháp
dạy học ở bậc học THCS.
2. Việc cần thiết phải tăng cường đầu tư để làm tốt bước kiểm tra bài cũ một
cách phù hợp với đặc thù của học sinh lớp 6:
Đây là việc làm bình thường của mỗi GVBM, nhưng ảnh hưởng và tác
dụng của nó không hề bình thường nếu phần kiểm tra bài cũ của chúng ta không
suông sẻ. Bởi lẽ nó có tác động đến tâm lí của cả thầy lẫn trò nếu kết quả kiểm
tra không tốt, thầy thì chán nản, trò thì bi quan, … Đặc biệt với học sinh mới
bước vào lớp 6, nếu người thầy giáo chưa sâu sát với các em, việc chuẩn bị cho
nội dung kiểm tra không chu đáo thì kết quả kiểm tra sẽ không thể nào tốt được
và dễ gây cho các em, đối tượng rất mới mẻ của nhà trường nhiều sợ hãi và
choáng ngợp với việc quá tải về nội dung tự học ở nhà.
Trong thời gian qua, trong bước kiểm tra bài cũ của nhiều giáo viên, về
nội dung tôi thấy có một số bất cập và không hợp lí. Ví dụ như:
+GV gọi một học sinh trung bình yếu lên giao cho một câu hỏi quá dễ và
học sinh trả lời được ngay! GV lúng túng và phải cho 8 điểm. Điều này bất cập
về thang điểm và tính công bằng, vì tại sao em này được câu hỏi dễ(?), và tại sao
trả lời đúng lại cho điểm 8(?). Cũng chính điều này làm cho nhiều em không coi
thống câu hỏi kiểm tra bài cũ dành cho một học sinh (Trong bài soạn của GV)
là:
“1/Thế nào là tiết kiệm, lợi ích của tiết kiệm?
2/Em đã thực hành tiết kiệm như thế nào?”
Với hệ thống câu hỏi như thế thì chỉ mới đặt câu hỏi 1 thôi cũng đã có
không ít em sẽ lúng túng nếu chưa học kĩ phần lí thuyết và nếu GVBM vội vàng
đánh giá cho điểm ngay thì sẽ ảnh hưởng tai hại như thế nào đến kết quả học tập
bộ môn này (?)
Do đó nếu GVBM đảo ngược thứ tự hệ thống câu hỏi trên thì dường như
em nào cũng có thể hoàn thành được ít nhất 50-70% yêu cầu kiểm tra !
Hoặc thay cho yêu cầu phát biểu tính chất cơ bản của phân số như đã nêu
trên, có thể nêu lần lượt các yêu cầu như sau:
Câu 1: Hai phân số sau như thế nào với nhau:
Câu 2: Tìm thêm các phân số bằng phân số
2
4
và
3
6
2
?
3
Câu 3: Nêu tính chất cơ bản của phân số.
Một ví dụ khác: thay việc nêu quy tắc bỏ dấu ngoặc, ta có thể nêu:
Câu 1: Bỏ dấu ngặc rồi tính: 19-(9-13)
Câu 2: Giải thích bước bỏ dấu ngoặc trong bài toán ?
Câu 3: Phát biểu quy tắc bỏ dấu ngoặc.
Câu 2: Tìm thêm các phân số bằng phân số
2
4
và (Nhận biết)
3
6
2
? (Thông hiểu)
3
Câu 3: Nêu chất cơ bản của phân số. (Thông hiểu)
+Đối với đối tượng khá giỏi:
2
? (Thông hiểu)
3
42 3
= (Vận dụng)
Câu 2: Điền số thích hợp vào chỗ dấu ?:
70 ?
Câu 1: Tìm các phân số bằng phân số
Với nội dung kiểm tra như trên thì mỗi em thuộc nhóm đối tượng nào
cũng có thể dễ dàng đạt được yêu cầu 1 và việc đánh giá cho điểm của GVBM
khó rơi vào tình trạng điểm yếu ở học sinh. Có như vậy mới động viên khuyến
khích được tinh thần học tập cho các tiết học tiếp theo. Cách kiểm tra như thế
vừa tạo điều kiện cho đối tượng trung bình yếu không cảm thấy chán nản vì phải
thường xuyên bị điểm kém, bên cạnh đó đối tượng khá giỏi cũng được phát huy.
+GVBM kiểm tra: Hình thức này có thể tiến hành lúc kiểm tra miệng,
GVBM kết hợp kiểm tra việc ghi bài, làm bài tập của học sinh và ghi đánh giá
nhận xét vào vở ghi của các em để thông báo cho phụ huynh biết để cùng phối
hợp trong công tác giáo dục.
+Tổ chức lớp tự giám sát và kiểm tra chéo lẫn nhau: Đây là hình thức theo
tôi là hiệu quả nhất, bởi lẽ nó mang tính thường xuyên và thể hiện được trách
nhiệm cá nhân các em nhiều hơn. Để thực hiện được một cách hiệu quả hình
thức này, như tôi (cũng là GVBM toán lớp 8/1) đã làm là:
-Phân công giao nhiệm vụ: Ngay từ tiết dạy đầu tiên tôi đã phân công lớp
theo cặp đôi để theo dõi, trao đổi, nhắc nhở, kiểm tra lẫn nhau trong giờ học và
báo cáo kết quả khi GVBM yêu cầu.
-Theo dõi của GVBM: Trong suốt tiết dạy, GVBM phải quán xuyến được
lớp để phát hiện, nhắc nhở khi có hiện tượng chểnh mảng, thiếu tập trung trong
giờ học. Thỉnh thoảng, vào khoảng giữa và gần cuối tiết học, GVBM cho các em
từng cặp kiểm tra bài viết để thu thập kết quả, bên cạnh đó giáo viên vẫn đi kiểm
tra một vài em để có sự gần gủi và sâu sát học sinh hơn.
*Một giải pháp bổ trợ có tính kích cầu cao mà tôi cũng khuyến khích đội
ngũ thực hiện, đó là thống nhất trước với lớp cuối mỗi kì học có một cột điểm hệ
số 1 về chấm vở bộ môn. Để thực hiện cột điểm này, tôi đã làm như sau:
• Cuối mỗi tiết dạy, học sinh phải ghi đầy đủ các nội dung dặn dò cho từng
đối tượng của GVBM vào vở bài tập ngay sau phần đang học.
• Cuối mỗi kì học, tôi phân công cho các em tự kiểm tra chéo vở lẫn nhau
bằng cách phát mỗi em một phiếu để ghi các thông tin về kết quả kiểm tra vở
của bạn mình, sau đó GVBM nhận lại để xem xét, đánh giá cho điểm.
Mẫu phiếu như sau:
“PHIẾU KIỂM TRA VỞ”
HỌC KÌ: .... NH: 2012-2013
Môn: Toán. Lớp 8/1
10
như là quản lí các nhà trường chưa quan tâm. Bằng hình thức thống nhất cao
như thế đã giúp cho hiện tượng “quên vở, quên chép bài” của các em được hạn
chế rất nhiều, việc phải xử lí hiện tượng này đến nay không còn là phổ biến và
nặng nề như trước đây.
4. Dặn dò giao việc sau mỗi tiết học và các giải pháp tổ chức quản lí kiểm tra
việc thực hiện các việc đã giao.
4.1 Chuẩn bị nội dung dặn dò giao việc sau mỗi tiết học:
Đây là công việc khá bình thường của giáo viên cuối mỗi tiết học, đồng
thời cũng là việc khá quan trọng. Bởi vì nếu các em làm tốt các nội dung dặn dò
của GV thì tiết học tiếp theo ở buổi sau sẽ thuận lợi hơn nhiều, nhất là về mặt
tâm lí của cả thầy lẫn trò. Trong thời gian qua, đối với các khối lớp 7,8,9 thì việc
thực hiện các công việc được giao sau tiết học ở mỗi bộ môn đã trở nên bình
thường, nhưng với đặc thù của lớp 6 là mới từ lớp 5 chuyển lên, thói quen tự học
11
ở nhà chưa có, trong khi đó bài vở được giao về nhà quá nhiều nhưng khả năng
hoàn thành của các em đa số là không hiệu quả. Không ít giáo viên có tư tưởng
đánh đồng là cứ sau mỗi tiết học thì học sinh có nhiệm vụ phải hoàn thành một
lượng bài tập nhất định nào đó và họ không quá để ý chuyện các em có đảm
nhận được hay không, thậm chí họ vẫn biết có những em không thể làm được
nhưng vẫn cứ giao việc. Chính vì lẽ này mà nhiều em phải đối phó để khỏi bị
thầy phạt!
Do đó theo tôi để công việc tự học của các em đạt hiệu quả thực sự, hạn
chế tình trạng đối phó này thì trong bước giao việc này người giáo viên cần lưu
ý thực hiện một số nội dung sau đây:
+Nội dung công việc giao là vừa phải, phù hợp với từng đối tượng,
không đánh đồng. Nghĩa là, để cho tiện có thể phân chia lớp thành hai nhóm đối
tượng như ở phần kiểm tra bài cũ có năng lực học tập khác nhau, mỗi nhóm có
khối lượng công việc được giao phù hợp khác nhau. Cách chia nhóm đối tượng
khó có thể đạt được hiệu quả cao ở năm học lớp 6 cũng như các năm học tiếp
12
theo. Việc tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả tự học ở nhà của học sinh cũng có
nhiều hình thức như GVBM kiểm tra, lớp tổ chức tự kiểm tra, … Hình thức
GVBM kiểm tra là thường xuyên nhưng chỉ là xác suất một vài em trong mỗi
tiết học nên chưa đủ sức đôn đốc ý thức tự giác của các em, còn hình thức lớp tự
kiểm tra thì vẫn chưa hiệu quả. Mặc dù trong thời gian qua, nhà trường đã tăng
cường quản lí việc truy bài 15 phút đầu buổi học, nhưng một số GVCN, GVBM
chưa khai thác sử dụng một cách triệt để và hiệu quả khoảng thời gian này. Do
đó, nhìn chung khâu tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả việc chuẩn bị bài vở được
giao về nhà của học sinh chưa đồng bộ giữa các GVBM với nhau và giữa
GVBM với GVCN. Để khắc phục tình hình này, là người quản lí và cũng là
người trực tiếp đứng lớp tôi đã đôn đốc GVBM thực hiện một số động tác sau:
+Phân công cán sự bộ môn để kiểm tra việc chuẩn bị bài của các bạn
trong tổ. Mỗi tổ 2 cán sự.
+Hướng dẫn cách kiểm tra và nội dung kiểm tra cho cán sự bộ môn:
-Kiểm tra việc thực hiện các bài soạn, bài tập.
-Kiểm tra việc học bài cũ: Cán sự bộ môn chuẩn bị câu hỏi như GVBM
dặn dò sau mỗi tiết học để các bạn bốc thăm trả lời (chỉ kiểm tra xác suất).
+Đầu mỗi tiết học cán sự bộ môn lần lượt báo cáo với GVBM để theo
dõi và nhắc nhở.
Qua cách làm như trên tôi thấy trong từng tiết học ở bộ môn của tôi, các
em dường như được kiểm tra nhắc nhở việc phải chăm lo chuẩn bị bài ở nhà là
khá chặc chẽ và chu đáo. Bởi lẽ ngoài việc kiểm tra đánh giá cho điểm của
GVBM thì bên cạnh đó các em vẫn luôn có sự kiểm tra nhắc nhở của lớp. Với
cách tổ chức như thế này, mới làm cứ tưởng sẽ không đủ thời gian (ở 15 phút
đầu buổi học), nhưng do hình thức kiểm tra của các em là bốc thăm xác suất
từng đơn vị kiến thức nhỏ, nên mỗi em chỉ tốn thời gian không quá 1 phút/môn
Năm TS Đầu năm (Đầu vào)
Cuổi HKI
Cuổi năm
học
TB trở lên
Giỏi
TB trở lên
Giỏi
TB trở lên
Giỏi
SL
20102011
20112012
20122013
167
202
162
TL
SL TL
SL
TL
SL TL
SL
so với năm học chưa áp dụng các nhóm giải pháp của mình (Năm học 20102011). Đặc biệt trong năm học này, với nhóm giải pháp của tôi đã đưa ra và triễn
khai thực hiện, phần nào đã đánh động đến nhận thức của từng GVBM khi được
phân công giảng dạy ở khối lớp 6. Nhất là về phương pháp dạy học, thấy được
những khác biệt giữa lớp 5 với lớp 6 cả về nội dung chương trình lẫn cách thức
tổ chức dạy học, để từ đó mỗi thầy cô giáo có sự điều chỉnh phù hợp, hạn chế
bớt những khó khăn quá đột ngột khi các em mới bước vào học lớp 6. Tạo điều
kiện để các em dần dần làm quen và thích nghi với cách dạy, cách học ở bậc học
trung học cơ sở hơn.
7. Kết luận:
Như đã nói trên học sinh lớp 6 là lớp “Vỡ lòng” của bậc học THCS, các
em đang ở giai đoạn chuyển giao giữa hai bậc học có nhiều sự khác biệt cả về
cách quản lí, phương pháp dạy học và nội dung dạy học. Chính từ khác biệt đó
mà đa số các em khi bước vào lớp 6 dễ khập khiễng để rồi không giữ được
“phông độ” như khi còn ở lớp 5. Với kinh nghiệm đã làm công tác quản lí
chuyên môn của các trường THCS trong nhiều năm, bằng việc đưa vào thực
hiện các giải pháp của mình, trước hết đã đánh động nhận thức của các GVBM,
GVCN khi được phân công giảng dạy ở khối lớp 6. Những giải pháp được triển
khai thực hiện, theo tôi cũng chính là điểm mới trong kết quả nghiên cứu và nó
đã đem lại hiệu quả cao cho chất lượng giáo dục không chỉ riêng đối với lớp 6
mà còn là chung cho toàn trường. Những giải pháp đó là:
14
+Tìm hiểu, thâm nhập với cách dạy của thầy và cách học của trò ở lớp 5
về bộ môn mình đang trực tiếp giảng dạy ở lớp 6. Thông qua đó để có nhiều
hiểu biết về học sinh và từ đó có một kế hoạch dạy học phù hợp hơn.
+Quán triệt việc cần thiết phải đầu tư và chuẩn bị chu đáo trong bước
kiểm tra bài củ của GVBM.
+Chuẩn bị các nội dung dặn dò, giao việc về tự học ở nhà phù hợp, vừa
phải và tăng cường các hình thức kiểm tra việc chuẩn bị của học sinh.
ngũ GVBM bậc THCS.
-Hiện nay biên chế lớp học đối với lớp 6 nói riêng, toàn trường nói chung
số lượng quá đông (Như ở trường THCS Nguyễn Huệ của tôi, sĩ số ở các lớp 6
là 40-41 em/lớp). Trong khi ở lớp 5 biên chế chỉ là 25-30 em/lớp. Do đó đề nghị
các cấp quản lí ngành cần có kế hoạch giảm sĩ số của từng lớp, không chỉ riêng
đối với lớp 6 để phù hợp với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, đồng
15
thời để hạn chế sự thay đổi đột ngột về vấn đề sĩ số các lớp khi chuyển từ lớp 5
lên lớp 6.
Trên đây là nhóm giải pháp mà bản thân đã và đang triển khai thực hiện
nhằm khắc phục những tồn tại hạn chế trong việc đầu tư đổi mới phương pháp
dạy học mang tính đặc thù đối với học sinh khối lớp 6 thuộc trường THCS
Nguyễn Huệ - huyện Đại Lộc. Quá trình đầu tư quan sát rút kinh nghiệm của
bản thân có thể là lâu dài, nhưng thời gian thực nghiệm của nhóm giải pháp là
chỉ mới trong học kì một ở năm học này, nên chắc chắn chưa thực sự đầy đủ và
cần phải rút kinh nghiệm nhiều hơn. Mong các đồng nghiệp cùng chia sẻ.
Mọi thông tin chia sẻ xin liên lạc qua số ĐTDĐ: 0987.424.202 hoặc tại
địa chỉ
[email protected]
Xin cảm ơn.
Tháng 03 năm 2013
Người thực hiện: Trần Tấn Châu
9. Phần phụ lục:
(Đính kèm ở trang kế tiếp)
10. Tài liệu tham khảo:
1. Bài viết “Giáo dục kĩ năng sống” của Nguyễn Thanh Bình, NXB
ĐHSP, 2010
Nội dung
Tên SKKN
Đặt vấn đề
Tầm quan trọng của vấn đề
Thực trạng vấn đề
Lí do chọn đề tài
Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Cơ sở lí luận
Cơ sở thực tiễn
Nội dung nghiên cứu
Tổ chức tìm hiểu phương pháp dạy và học ở lớp 5
Việc cần thiết phải tăng cường đầu tư bước kiểm tra ...
Tăng cường quán xuyến các hình thức kiểm tra .....
Dặn dò giao việc sau mỗi tiết học và các giải pháp ...
Chuẩn bị nội dung dặn dò giao việc sau mỗi tiết học.
Tổ chức kiểm tra đánh giá việc thực hiện tự học ở nhà..
Kết quả nghiên cứu
Kết luận
Đề nghị
Phần phụ lục
Tài liệu tham khảo
17
Trang
1
1
1
1
1
(Có, không có) (Có, không có)
(Cẩn thận, cẩu thả)
2/Vở ghi lí thuyết: Tổng số bài không có: ...........
Cụ thể ở tiết: ...................................................................
3/Vở bài tập:
+Ghi nội dung dặn dò cuối tiết (đầy đủ, thiếu): ..............
+Tổng số bài tập không làm: ...............................
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA GVBM
NGƯỜI KIỂM TRA
NGƯỜI ĐƯỢC KIỂM TRA
PHIẾU KIỂM TRA VỞ
18
HỌC KÌ: .... NH: 2012-2013
Môn: Toán. Lớp 8/1
Người kiểm tra: .................................. Người được kiểm tra: ...............................
Kết quả kiểm tra:
1/Hình thức vở: +Bìa bao: ......
+Nhãn tên: ...... Chữ viết: ..................
(Có, không có) (Có, không có)
(Cẩn thận, cẩu thả)
2/Vở ghi lí thuyết: Tổng số bài không có: ...........
Cụ thể ở tiết: ...................................................................
3/Vở bài tập:
+Ghi nội dung dặn dò cuối tiết (đầy đủ, thiếu): ..............
+Tổng số bài tập không làm: ...............................
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA GVBM