ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN DUY HOÀNG
MỘT SỐ VÂN ĐỂ PHÁP LÝ VỂ SựĐlỂư HÀNH
CÚA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI CHÍNH QUYỂN đ ịa ph ương
LUẬN VĂN THẠC s ì KHOA HỌC LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2000
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XẴ HỘI VÀ NHẢN VÁN
NGUYỄN DUY HOÀNG
MỘT SỐ VÂN ĐỂ PHÁP LÝ VỀ SựĐIEU HÀNH
CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI CHÍNH QUYỂN đ ịa ph ư ơ ng
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nưóc và pháp luậl
Mã số : 6.01.01
LUẬN VĂN THẠC s ĩ KHOA HỌC LUẬT HỤC
• ■ * ■
Người huứng dẫn khoa học:
TS ỉuật hục Phạm Tuân Khài
. r . Ị - . . \ Ị Ị
1 M-iữ/U
Hà Nội - 2000
2
M UC L U C
PHẦ N M Ở ĐẮU
CH U ƠN G 1. TÍNH TÂT y ê u k h á c h q u a n VỂ S ự Đ lỀ U HÀNH
CUA CH ÍNH PHÚ ĐỐI VỚI CHÍNH Q UY Ề N ĐỊA PHƯƠNG
1.1.2. M ục đích và nhiệm vụ của quản lý Iihà nước
1.2. Vị trí, vai írò của Chính phủ trong việc bảo đảm sự thốn« nhắt
của (ỊUíin íỷ nhà nướe
1.2.1. Chính phù- cơ quan hành chính nhà nước cao nhất
1.2.2. Sự thốp.ơ nhất quyền hanh pháp từ phía Chính phủ trong bộ máy
5
2.2.2. Phíìn, giao một số CỊLiỵền hạn cụ thể cho chính quyền địa phương
CHUƠNG 3. HOÀN TH IỆN PHÁ P LU ẬT VỀ S ự Đ lỀ ư HÀNH CUA 74
CH ÍNH PHU ĐỐI VỚI CH ÍNH QUYỀN đ ị a p h ư ờ n g
3.1. Q ua n cliểiìi ho àn thiện 74
3.1.1. Quan điểm đổi mới của Đ áng cộng sản V iệt N am 74
3.1.2. Ọuan điểm khoa học, hệ thốnsu đồng bộ 74
3.1.3. Quan điểm kê thừa, phát triển 7í»
3.2. N guyên tắc ho àn thiện 77
3.2.1. Nau vén tắc tập trung dân chủ 77
3.2.2. Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ 78
3.2.3. Nguyên tắc m ở rộng quvển dân chủ ở cơ sở. 7‘)
3.2.4. Nguyên tắc pháp chế xã hội chù nghĩa 80
3.2.5. Nguyên tác tập quyền xã hội chủ nghĩa tiên cơ sở phân còtm. phân 80
eàp một cách hợp lý
3.3. M ột số phư ơng hướng ho àn thiện về sự điểu h àn h cu a C h ính phú 85
(lối với chính quyển (lịa phư ơng
3.3.1. Hoàn thiện pháp luật vé tổ chức, tham quyền của Chính phu 86
3.3.1.1. Vé tổ chức 86
3.3.1.2. Vé thẩm quyền 89
3.3.2. Hoàn thiện pháp luật về chính quyền địa phương 91
3.3.2.1. Về ĩổ chức 92
3.3.2.2. Về thẩm quyền ‘)5
3.3.3. Hoàn thiện pháp luật về CO' chế tự quàn 100
KẾT LUẬN 109
DANH MỤC TÀI LIỆU TH A M KHẢO I 12
6
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND Hội đồng nhân dân
UBND Uỷ ban nhân dân
giữ vị trí, vai ì!Ò hết sức to lớn đối với các ngành, lĩnh vục nói clunm và dổi
7
với chính quyền địa phương nói riêng. Sự tác động trong việc chỉ đạo, điều
hành của Chính phủ đối với chính quyền địa phương ỉà nhân tố không thể
thiếu được đối với việc định hướng đúng đắn để chính quyền địa phương hoàn
thành được các mục tiêu chiến lược của m ình, đồng thời qua đó cũng xác định
rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc thực hiện nhiệm vụ
quyền hạn theo CỊUÌ định của pháp íuật. Vân đề trên cho đến nay v;ìn được dể
cập rất ít trong các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý và nếu có. các túc
già cũng chỉ để cập đến các khía cạnh quản lý mang tính tác nghiệp, tổ chức
chứ chưa nghiên cứu m ột cách toàn diện những vấn đề m ang tính pháp lý về
sự điều hành của Chính phủ đối với chính quyền địa phương.
Từ những lý đo trên, tôi đã chọn đề tài: “M ộ t s ố vấn đé pháp lx về sự
đìéu hành của C hính phủ đối với chính quyến địữ phương” làm dề tài cho
bản luận văn thạc sĩ khoa học luột học của mình,
2. Phạm vỉ, mục đích nghiên cứu và nhỉệni vụ của luận vãn.
Đâv là vân đề có phạm vi rộng và hết sức khó cả về lý luận vò thực liễn,
với sự Mồ lực cùa ban thân và trong điểu kiện cho phép, tuân vãn chí íộp
nghiên cứu những qui định cụ thể của pháp luật về sự điều hành cùa Chính
phù đối với chính quyềĩi địa phương trên phương điện pháp luật thực định, qua
đó đưa ra các hạn chế, bất cập, tồn tại cần khắc phục và những kiên nghị nhằm
hoàn thiện các quí định pháp luật về vấn đề này. M ặt khác, chính quyền địa
phương ở đây theo cách hiểu của luật hành chính, chúng tôi cũng chỉ nghiên
cứu định chế Hội đồng nhân dăn và u ỷ ban nhân dân các cấp, còn dối, với Toà
án nha» dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp không phải là phạm vi cún
luận văn, và do đó, Toà án và Viện kiểm sát nhân dân chỉ được xem xét trong
quá trình so sánh với một số chức năng của HĐ N D và ƯBND.
3. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
X uất phát từ đối tượng và mục đích nghiên cím của luận văn . Tác già sử
dụng các phưoìig pháp !uộn và phương phẩp nghiên cứu chù yếu sau:
Chương 1.
TÍNH TẤT YẾU KHÁDH QUAN VÊ sự ĐIỂU HÀNH CỬA CHỈNH PHỦ
OỐK với OHỈNH QUYỂN ĐỊA PHUtMG
1.1. Tính thống nhất của quản lý nhà nước.
1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước.
Khái niệm quản lý nhà nước gắn liền với khái niệm quản lý xã hội bời
vì quản lý nhà nước là một dạng của quản ỉý xẵ hội.
Thuật ngữ “Quản lý” có nhiều nghĩa khác nhau nhưng quan niệm chung
về quản lý !ằ do điều khiển học đưa ra, đó là sự tác động đinh hướng bất kỳ
lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướnu Ỉ
1
Ó phát triển phù hợp
với nhữns quĩ định nhất định. Hệ thống được hiểu là tổng thể những yếu tố
cấu thành có những đạc trưng riêng mà những đặc trung đó không phải là
thuộc tính của mỗi yếu tố rièng rẽ nằm trong hệ thống .
Ọ uàn lý xâ hội (lói chung với tư cách là một chúc nâng xã hội độc biệt
tổn tai rrước khi có nhà nước, xuất hiện song SOIÌÌÍ với quá trình xã hội hóa lao
động. Các - M ác khẳng định rằng, quản lý xã hội là m ột chức năng đặc biệt
nảy sinh trước hết từ chính bản chất của quá trình ỉao động. Ô ng đã viết: “ bất
kỳ ỉao động x ã hội trự c tiếp hay lao động chung náo đó mà được tiến hành
trẽn một qui mô tươnq dố i lớn đểu cán có sự quản / v ớ mức ăộ nhiều hay ít
nhằm ph ố i họp nhữỉĩíỊ hoại dộng cá nhản và thực hiện những chức năng chung
phát sinh từ sự vận dộng của toàn bộ cơ thế sân xuất "[4,342]
Mọi xã hội đều có qui tắc cùa nó, những qui tắc này được xây dựng và
áp dụng dựa trên cơ sờ mối quan hệ quyền lực- phục tùrì
2
giữa chủ thể quản lý
với đối tượng quản lý. Mối quan hệ nàv chính là bàn chất của phương thức
quàn lý xã hội, ỉà nội dung của quyền iực quán lý và là đặc trưng của phưcmg
pháp quản iý xã hội. Khi xà hội chưa có nhà nước thì quyền lực đó mang tính
tỉiềuhành)"[ 53,15].
1 1
Trong lình vực hành chính và luật hành chính, quản lý nhà nước chính
là hoạt động chấp hành và điều hành được thực hiện chù yếu bằng hệ thống
các cơ quan hành chính nhà nước đứng đầu là Chính phủ và hệ thống các cơ
quan của Chính phủ, thường được gọi là cơ quan quản ỉý nhằ nước (hoạt động
quản lý theo nghĩa hẹp).
Như vậy, quản lý nhà nước là sự tác động cổ đinh hướng và có tổ chức
của chủ thể quản lý (N hà nước) vào đối tượng quản ]ý- là các mối qunn hệ xã
hội nhằm đạt dược những m ục đích nhất định, thực hiện các chức nũng cùa
nhà nước.
N ghiên cứii vể quản lý nhà nước Việt N am dưới góc độ hẹp (qua bốn
bán hiến pháp và những văn bản pháp luật có ỉiên quan), giáo trình "Luật hành
chính Việt Nam" của khoa Luật trường Đại học Khoa học X ã hội và Nhũn văn
Đại học Quốc gia Hà Nội đã đưa ra định nghĩa: "Quản ỉý nhà nước Việt Nom
là hoạt dộng chấp hànlî và điều hành của các cơ quan nhà nước Việt Nơm
(hoặc các tổ chức xã hội nếu tỉnực nhổ nước ủy quyền) được tiến hòỉìh trên cơ
sỏ' và lìể thi hành luật nhằm thực hiện trotiíỊ cuộc sổng hàng ngùx các chức
nỡììỌ của nhờ nước trên mọi lĩnh vực hành chính - chính trị, kinh tẽ. vân hóa -
x à hội 177,103].
1.1.2. Mục đích và nhỉệm vụ của quản lý nhà nước*
Q uản lý ỉà hành động - m ột ỉoạì hoạt đông xã hội, nhằm đạt được mục
đích đề ra bằng việc thực hiện các nhiệm vụ, chức năng theo m ột phương pháp
quản lý phù hợp,
Q uản !ý là tác động có hướng, có m ục đíchy Vì vậy, quản lý xã hội I1ÓÍ
chung cũng như quản lý nhà nước Iiói riêng đều có m ục đích và nhiệm vụ của
mình. M ục đích của quản iý nhà nước là hoạt động m ang tính định hướng cua
các cơ quan nhà nước. Mục đích chune của hoạt động quản lý nhà nước, của
tất cả các co' quan quản lý nhà nước ỉà thống nhất. Tuy nhiên, mỏi cơ quan
nhà nước có mục đích hoạt động riêng được qui định trong pháp [uột, so với
Theo Hiên pháp 1992, hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước lỉổm:
13
- Cơ quan hành chính nhà nước cao nhất (Chính phủ)- Điều 109.
- Cơ quan hành chính nhà nước của Chính phủ, Gơ quan quàn K ớ
Trung ương (Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chíiửi pluu- Đicu [ 16.
- Cơ quan hành chính nhà nước ớ địa phương- Đ iều 123.
Tính thống nhất cũa quàn lý nhà nước còn được thể hiện ớ hệ (hong
thẩỊVỊ3 Íp cùa bộ máy quán lý. Quán lý lĩnh vực nào, cơ quan nào có thum
quyên quán lý, ớ trung ương hay địa phương, cấp tinh, cấp h m ệ n h;iy ciìp
xã Mỗi một cấp quản lý đều được trao m ột thẩm quyền nhất định theo qui
định cùa pháp luật. Hệ thống thẩm cấp này là môt tiêu chí đặc biệt, chỉ lổn tại
trong hệ thống các cơ quan quản ỉý, “ t ạo thành một cơ c h ế độc lập và tn>ỉĩỉ>
nhiều trườỉĩg hop nó (hệ thống cơ quan quản lý) chi phối các hoại ííộtiỊĩ inaniỉ
tính hành chính của các bộ máy nhở /W'ór” [81,278].
Xuát phát từ đặc tính pháp lý- quyền lực của quản lý nhà nước, mục
dich của quản lý nhà mrớc, bước đầu có thể khẳng định hoạt độim Cịuán lý nh.ì
nước là thống nhất, tập trung vào một đrtu mối cao nhất đó ]à Chính phú- cơ
quan hành chính nhà nước cao nhát.
Như vậy, quàn ỉý nhà nước ỉà một hoạt động đòi hỏi tính thống nhât
cao. Tính thống nhất này được qui định và cũng là điểu kiện đảm báo cho việc
{hực hiện chính các chức năng và nhiệm vụ của quản lý nhà nước.
1.2. Vị trí, vai trò của Chính ph ủ tro n g việc bảo đ ảm sự {hống nlưit
của q u ản !Ý nh à nước
1.2.1. Chính pliti- CƯ quan hành chính nhà nước cao nhat
Chính phủ. tiếng Anh là “G overnment”, có nghĩa là “cai trị". Trong nì
điển tiens, Việt !à '"'cơ quan hành pháp cao nhất quản lí các còtìi> việc hành
pháp''[5\). Tươiig tự, trong các từ điển tiếng Pháp» tiếng Đức. khái niệm
Chính phủ cũng có một nghía chung là cơ quan thực hiện quyền hành pháp
cao nhất ở một đất nước, là “ cơ quan hiện thực hoá hiến pháp rà các dạo luật
cùa cơ quan lập pháp và báo đâm. các quyền, tự do của các chủ thê ịtỉìâ nhân,
khoá IX, ngày 10-9-1992 là nhằm phát huy hơn nữa vai trò cua Chính phũ
trong hê thống các cơ quan nhà nước, tăng cường chức năng quản lý toài) diện,
tâp trung, thống nhất của Chính phủ trong phạm vi cả nước đối với nển kinh tê
quốc dãn và các mặt của đời sống xẵ hội. Đổng thời, nêu cao vai trò người
lãnh đạo, điều hành của người đứng đầu Chính phủ, các Bộ trưởng, những
người đứng đầu cơ quan thuộc Chính phủ.
Để hiểu m ột cách có hệ thống về chế định Chính phủ, cần xem xét khái
quát sự hình thành, phát triển của chế định này qua các bản hiến pháp nước ta.
Theo Điều 43 Hiến pháp 1946: "Chính phủ là cơ quan hành chính cao
nhất của Ịoàn quốc". Như vậy, Chính phủ được xác đinh là cơ quan cao nh.1t
cùa quyền hành phấp. Quy định này có tính tới nguyên lý cơ bần của thuyết
"Phân lập các quyền”. Nhưng vì "Nghị viện nhân dân ỉả cư quan có quyền cao
nhứĩ của nước Việĩ Nam Dân chủ Cộng hoà" (Điều 22- Hiến pháp 1946), do
đó quyền hành pháp chịu sự kiểm tra và giám sát của quyền lập pháp. Đó là
đặc điểm của việc áp đụng tư tưởng phân quyền vào điều kiện Việt Natn.
Theo Hiến pháp 1946, các cơ quan hành chính nhà nước tạo thành một
hệ thống thông nhất từ trung ương xuống địa phương, đứng đầu là Chính phu.
thực hiện toàn bộ chức năng quản lý nhà nước. Chính phu là cơ quan (hi hành
các dạo luật và nghị quyết của Nghị viện, để nghị nhũng dự án luật ra trước
Nghị viên bổ nhiệm hoặc cách chức các nhân viên trong các cơ quan hành
chính hoặc chuyên m ôn (Điểu 52). Người đứng đầu Chính phu !à Chu tịch
nước (Điểu 44).
Hiến pháp 1959 có nhiều thay đổi vể chế định Chính phủ, quy định:
"Hội lĩồnq Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực Nhà nước
cao nhất, Ví} ỉà cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Việt Nam
Dân chủ CỘIÌÍỊ hoa'' (Điều 71). Người đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng.
Quyền hạn, nhiệm vụ của Chính phủ chủ yếu được quy định tại Điều 74. Chế
định Chủ tịch nước tách thành một chế định độc lập. Chủ tịch nước khôns
đứng đầu Chính phủ, nhưng nhiều quyền hạn của Chủ (ịch nước mang tính
16
‘
M-lo/íi
17 ':M
đổi tên gọi Iihư váy thể hiện sự tăng cường chế độ thủ trường, chế độ trách
nhiệm cua cá nhân cùa Thủ tướng, của các Bộ trưởng cũng như những người
đứng đầu cơ quan ngang Bộ. Mặt khác, xác định vị trí chính trị - phấp lý cùa
Chính phù, Thủ tướng trong cơ cấu quyền iực như Hiến pháp ỉ 992 cũng thể
hiện quan điểm “hành pháp đó là nơi cần hành động hơn ỉà bàn luận".
Căn cứ vào vị trí pháp ]ý như vậy, chức năng cơ bản của Chính phù là:
“Chính phủ thống nhất việc quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị,
kinh ỉ ế, vàn hoá, xã hội, quốc phòng an ninh và dổi nqoại rủa Nhà
nước" (Điều 109- Hiến pháp Ỉ992)
Theo nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất không phân chia,
nhưng có phân công rạch ròi giữa ba quyền và theo vị trí pháp ỉý và chức năng
nói trên, Chính phủ là một thiết chế chính trị - hành chính nắm quyển hành
pháp, với chức năng cụ thể là có quyền “lập quy” để thực hiện các luật do cơ
quan Quốc hội ban hành; quyền quản lý công việc hàng ngày của Nhà nước để
thực hiện những nhiệm vụ chính trị của Nhà nước: quyền tổ chức bộ máy hành
chính nhà nước và quản lv nhân sự cùa bộ máy đó, ngoài ra nó còn có chúc
năng tham gia quá trình lập pháp,
Theo quy định cùa Điều 112, Hiến pháp 1992 và Chương II. Luât Tổ
chức Chính phú 1992, Chính phủ có toàn quyền giải quyết các víín đề liên
quan đến quản lý nhà nước trên phạm vi cả nước, trừ các công việc thuộc thắm
quyền của Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Với vị trí trên, Chính
phủ là cơ quan điều hành cao nhất của quyền lực nhà nước trong hệ thống các
cơ quan quản lý nhà nước (theo ý nghĩa quản lý trực tiếp của Nhà nước, không
bao gồm các cơ quan lạp pháp và tư pháp”; nó chỉ đạo tập trung, thống nhíu
các Bộ và các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, các ciíp chính
quyền địa phương.
- Chính phu do Quốc hội bầu ra trong kỳ họp thứ nhất cùa mỏi khoá
phạm pháp luật, quyết định các chủ trương, biện pháp nhằm thực hiện chính
19
sách, pháp luật, bảo vệ lợi ích Nhà nước, bảo đảm trật tự xã hôi, bào vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp của công đân.
Các văn bản quy phạm pháp luật cùa Chính phủ có giá trị pháp lý trong
phạm vi cá nước. Nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chí thị cún
Thù tướng ban hành dưới ctonh nghĩa của tạp thể Chính phù hoặc cua Thù
lirớns Chính phủ: kiểm tra việc chấp hành các văn bản đó ớ mọi cơ quan cua
trung ương và chính quyền địa phương.
- Quyền quản /v rà diều hành toàn bộ cồng cuộc xây dựng kinh tế, vãn
hon - xã hội theo đúng đường lối chính sách của Đảng, luật pháp củn Nhn
nước và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.
- Quyền xây diơìịị và lãnh dạo toàn bộ hệ thống các tổ chức, các CƯ
quan quan !ý nhà nước, thành lập các cơ quan quan trực thuộc Chính phu và
cơ quan giúp việc Thủ tướng, lãnh đạo các ƯBND tỉnh, thành phố trục thuộc
Trung ương do Hội đổng nhân dân báu ra; chl đạo việc tổ chức các cơ quan
chuyên mòn ở địa phưoìig.
- Quyền tổ chức các đơn vị sản xuất, kinh doanh, theo những hình thức
thích hợp, lãnh đạo các đơn vị ấy kinh doanh theo định hướng kế hoạch, đúng
cơ chế, đúng pháp luật (Hiện nay Thủ tướng Chính phù trực tiệp quán lý !7
Tổng công tỵ 91),
- Chính phù lãnh đạo hoạt động của các Bộ, của chính quyền địa
phương. Sự lãnh đạo đó thể hiện trên hai mật:
ị^ T ỉìứ n ỉìấ í, Chính phù với tư cách là cơ qtian chấp hành CÍIO nhât cún cơ
quan quyển lực nhà nước cao nhất thực hiện quyền ban hành cấc văn bàn quy
phạm pháp luật (nghị quyết, nghị định) có tính bắt buộc trên phạm vi cà nước,
dể thực hiện các đạo luật, các pháp lệnh và các nghị quyết của Quốc hội vn
UBTV Quốc hội. Các Bộ và chính quyền địa phương có nghĩa vụ thực hiện
các văn bản quy phạm pháp luật đó. Căn cứ vào tình hình của địa phương, Hội
đổng nhân dân địiìh ra các biện pháp thực hiện các luật, pháp lệnh, nghị quyết
thành viên khác cùa Chính phủ không nhất thiết phải là đại biêu Quốc hội"
21
(Điểu 1 ỈO); các “thànlì viển của uỷ ban thường vụ Quốc hội khỏtìịi ỉhè (ỈỐHỊÌ
ỉhời là íhàiììì viên của Chính pỉìír (Điều 90).
Theo Luật Tổ chức Chính phủ (1992) thì không có cơ quan thường trực
của Chính phủ (trước đây ỉà Thường vụ Hội đồng Bộ trường gồm: Chủ tịch
Hội đồng Bộ trưởng, các Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Bộ trưởng Tổng
thư ký Hội đồng Bộ trưởng). Hiến pháp 1980 quy đinh việc thành lập Thường
vụ Hội đồng Bộ trưởng nhằm mục đích đảm bảo tính tập thể khỉ giải quyết
những vấn đề quan trọng trong thời gian Chính phủ không họp. Tuy nhiều,
thực tiễn hoạt động nàv không có hiệu quả và nhiều khi biến tập thể thành một
tổ chức mang tính chất hình thức. Bên cạnh đó, nhằm tăns cườim va! trò ỉĩính
dạo cùa Thủ tướng Chính phú và phát huy Víù trò cùa các thành viên Chính
phủ, trong Hiến pháp 1992 các chức đanh “Phó Thủ tướỉĩg thường trực" và
"Bộ ỉncỏìiạ- Tổng thư kỷ Hội lì ổng Bộ trưởng” cũng không còn.
Chính phủ hoạt động bằng các hình thức căn bản như sau:
+ Hình thức hoạt động của tập thể Chính phủ là phiên họp Chính phủ.
+ Sự chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng và các Phó Thủ tướng là những người
giúp Thủ tướng theo sự phân công của Thủ tướng; khi Thủ tướng vắng mật thì
một phó Thủ tướng được Thủ tướng uỷ nhiệm thay m ặt lãnh đạo công tác của
Chính phủ.
4- Hoạt động của cấc Bộ trưởng với tư cách là thành viên tham gia vào công
việc chung của Chính phú và với tư cách là người đứng đáu một Bộ hay cơ
quan ngang Bộ,
Hiệu lực của Chính phủ là kết quả tổng hợp của cả ba hình thức hoạt
động trên.
Việc thực hiện chế độ làm việc phải bảo đảm nguyên tắc Chứih phú
hoạt động với hai đanh nghía: tập thể Chính phủ và Thù tướng Chính phủ.
Chính phủ là cơ quan làm việc theo chế độ tập thể, những vấn tỉề quan
írọns thuộc thẩm quyền của Chính phủ được thảo luận tập thể và quyết định
nhân dân thông qua chế độ bầu cử phổ thông đầu phiếu vói việc tổ chức thục
23
hiện qưyền lực đó bởi các cơ qua khác nhau trong bộ m áy nhà nước, sự plìAn
công đó chỉ nhằm mục đích nâng cao hiêu quả của viêc thưc hiện quyền lưc
thống nhất, tránh sự độc quyền, lạm dụng quyền như ồ các nhà nước tư sản.
- Quyền ỉập pháp là thẩm quyền ban hành các quy phạm pháp luật được
thực hiện bằng hoạt đông quyết định về ]uật của Quốc hội và uỷ quvền của
Quốc hội cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ra pháp lệnh. Trong quá trình lộp
pháp có nhiều cơ quan nhà nước tham gia, phối hợp bằng việc thực hiện các
thẩm quyền: kiến nghị về luật, soạn thảo và trinh dự án luật, thẩm tra dự án
luât, thông qua và ký ban hành luật.
- Quyền tư pháp là quyền tài phán bằng hoạt động xét xử theo pháp luật
tố tụng của các toà án. Đó ỉà sự phán xét tính hợp hiến, hợp pháp của các
quyết định pháp luật và sự phán quyết về hành vi tội phạm, traiih chấp dân sự.
kiiih tế, lao động và về tranh chấp hành chính. Trong xét xử trước hết các ton
án nhân danh uhà nước, độc lập và chỉ tuân theo pháp luật phán quyết hành vi
của công dân: định tội đối với người vi phạm luật hình sự, giai quyết tranh
chấp dân sự trong nhân dân. Cùng với việc “xử dân”, toà án CÒI1 cổ quyền “xir
quan”, tức !à phán xét các văn bản vi hiến và các quyết định hành chính, hành
vị hành chính trái pháp luật gây thiệt hại cho dân, bị dân khiếu kiện ra toà án
đòi bồi thường.
Quyền tư pháp được thực hiện có sự tham gia, phối hợp của các cơ cấu
quyền lực bằng hoạt động hỗ trợ tư pháp: điều tra, giám định, pháp y, ỉuật sư,
công chứng Thiếu những hoạt động hỗ írợ có tính chất độc lập về mặt thẩní
quyền ấy thì hoạt động xét xử không có căn cứ, khổ có thể phán xử đúng đắn.
Tuy nhiên, những thẩm quyền đó khó có thể khẳng định dút khoát thuộc về
quyền tư pháp.
~ Quyền hành pháp là quvền thi hành pháp luẠt và tổ chúc thực hiện
pháp luật trong ctời sống xã hội. Quyền hành pháp được thực hiện bứt thủm
quyền: ban hành chính sách quản lý, ra quyết định quy phạm pháp luẠl. áp
25
lập pháp trao cho Nghị viện, quyền hành pháp trao cho Chính phủ, quyển tư
pháp trao cho Toà án. Ba hệ thống cơ quan này phải độc lập, chê ngự. doi
trọng và kiềm chế lẫn nhau. Học thuyết này chủ yếu nhằm ctà phá 1 lén quân
chú chuyên chế cùa nhà nước phong kiến. Ngược lại với thuvêt phAn quyến,
thuyết tập quyển cho ràng quyền lực nhà nước ỉà thống lứiất và thuộc về nhílti
dần. Nhân dân là chủ thể duy nhất nắm chủ quyền nhà nước và do vậy nó
không thể phân chia và không thể chuyển nhượng cho bất kỳ ai. Vì vậy, khi tổ
chức quyền iực cũng phải đảm bảo tính thống nhất cùa nó, tức là phải trao
toàn bộ quyền lực nhà nước cho một cơ quan do đân ừực tiếp b;iu ra (thôn 2
thường là Nghị viện hoặc Quốc hội) và cơ quan này thực hiện cả bíi quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp. Nhưng trên thực tế, vì nhiều lý íio mà cơ quan
này không thể trực tiếp thực hiện được tất cả quyền lực củn mình mà thành lộp
ra và trao quyền cho các cơ quan khác, nó chỉ giữ lại quyển lập pháp còn trao
quyền hành pháp cho Chính phủ và quyền tư pháp cho Toà án.
Ớ nước la cũng như một số nước XHCN Đông Âu và Liên Xô trước
dĩiy, việc tổ chức bộ máy nhà nước theo thuyết tập quyền. Quốc hội ià cơ quan
đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Dưới
quyền lực tối cao và thống nhất đó của Quốc hội, có sự phân công là: Quốc
hội nám quyển lập pháp, Chính phủ nắm quyền hành pháp, Toà án nhốn ciần
tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao nắm quyền tư pháp. Cũng như Quốc
hội, Chính phủ là một thiết chế hiến địiih chứ không phải thiết chế luật định.
Do vậy, “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chỉnh
nhà nước cao nlìâĩ của nước Cộnq hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam" (Điều
IQQjJKien pháp 1992). Nếu so sánh cả 4 bản Hiến pháp cùa nước ta, chúng tôi
thấy, quan niệm về Chính phủ có những thay đổi nhất định phù hợp với yêu
cẩu về tổ chức bộ máy íihà nước theo từng giai đoạn lịch sử. Hiến pháp 1946
xfty dựng Chính phủ theo mô hình chính phủ tư sản, nên không quỵ định
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Nghị viện. Hỉêh pháp 1980 xay đựng
Chính phủ (HĐBT) theo mỏ hình chung của Hiến pháp XHCN. Nhưng với