Nghiên cứu đối chiếu các phương tiện ngữ nghĩa - ngữ dụng bổ trợ trong câu hỏi chính danh tiếng Anh và tiếng Việt - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
■ ■ ■
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
■ ■ ■
CÔNG TRÌNH NCKH CẤP ĐHQG
NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU CÁC PHƯƠNG
TIỆN NGỮ NGHĨA-NGỮ DỤNG B ổ TRỢ TRONG
CÂU HỎI CHÍNH DANH TIÊNG ANH VÀ TIÊNG VIỆT
Mã số: QN. 03. 03
Chuyên ngành: Lí luận ngôn ngữ
ĐAI HOC QUổC
TRƯNG TÂM TrÕNG Ilk1 1
DT / u Ẽ T _
Chủ nhiêm đề tài:
TIẾN sĩ VÕ ĐẠI QUANG
PHÒNG QLNCKH & BD, TRƯỜNG ĐHNN - ĐHQGHN
NGƯỜI PHỐI HỢP THỰC HIỆN:
ĐÀO THU TRANG, GIẢNG VIÊN KHOA NN & VH ANH MỸ, ĐHNN - ĐHQGHN
HÀ NỘI - 2003
Một số ký hiệu quy ước và từ viết tắt trong chuyên khảo
1. (*) đặt ờ phía trên, đầu câu: ví dụ có tính bất thường.
2. => đặt ở giữa hai câu, hai từ: thay cho, chuyên thành.
3. / đặt giữa hai câu, hai từ: hay, hoặc.
4. (?) đặt đầu câu: ví dụ đáng hoài nghi.
5. « đặt giữa hai câu, hai từ: tương đương ngữ dụng.
6. V đặt giữa hai câu, hai từ: lựa chọn (hay, hoặc).
7. » đặt trước câu hoặc cụm từ: tiền giả định.
8. TGĐ: Tiền giả định.
9. TGĐTBCP: tiền giả định thông báo cú pháp.
ỈO. HVNN: hành vi ngổn ngữ.
11 HVNNGT: hành vi ngôn ngữ gián tiếp.

90
PHẤN PHU LỤC
104
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
142
3
PHẦN A:
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI
Tính cấp thiết của đề tài được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau:
1.1. NHU CẨU THỰC TIỄN.
Trong những năm gần đây, tiếng Anh đã trở thành một ngôn ngữ giao tiếp rất quan trọng
ờ Việt Nam. Địa vị tiếng Anh ở Việt Nam đang ngày một cao hơn. Tiếng Anh là ngôn
ngữ giao tiếp chủ yếu để làm việc với người nước ngoài. Cũng chính vì vậy việc nghiên
cứu đối chiếu giữa tiếng Anh và tiếng Việt đang ngày càng được đẩy mạnh. Trong phạm
vi tư liệu mà chúng tói có được, chưa có công trình nào trực tiếp quan tâm, chuyên sâu
nghiên cứu về phạm vi này. Các giáo trình dạy tiếng Anh chỉ mới cung cấp cho người học
và người dạy những mẫu câu hỏi và những tương đương đại thể giữa tiếng Anh và tiếng
Việt. Chừng mức đó, có thể nói, chưa đủ để giúp cho người học sử dụng tiếng Anh với
hiệu quả cao nhất. Bên cạnh đó, đề tài của chuyên khảo, đặc biệt là phạm vi và bình điện
nghiên cứu của nó (ngữ nghĩa - ngữ dụng), cũng phù hợp với khuynh hướng phát triển
chung của khoa học về ngón ngữ. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, những công trình
nghiên cứu về ngữ nghĩa - ngữ dụng đang ngày càng phát triển mạnh mẽ. Các công trình
nghiên cứu này đã có những đórig góp rất quan trọng trong những vấn đề lý thuyết ngôn
ngữ học, đem lại những ứng dụng hữu ích trong thực tiễn sử dụng ngôn ngữ, cũng như
trong việc dạy và học các ngoại ngữ. Đồng thời, những công trình nghiên cứu ngôn ngữ
học ở lĩnh vực này cũng đang hướng tới một sự miêu tả thống hợp các sự kiện ngôn ngữ.
Các thành tựu nghiên cứu hiện có, trong một chừng mực nào đó, đã tạo tiền đề cho việc
so sánh đối chiếu giữa các ngôn ngữ về mặt ngữ nghĩa - ngữ dụng ở từng phạm vi nghiên
cứu cụ thể.

thường chỉ là việc chỉ ra các phương tiện hình thức, đưa ra những chỉ dẫn về cách đặt câu
hỏi v.v, Trong một thời gian dài, tình hình nghiên cứu về câu hỏi tiếng Anh cũng như
tiếng Việt đểu ở trong tình trạng này. Cho đến những năm gần đây, cùng với việc phát
triển mạnh mẽ cùa ngữ dụng học, một số tấc giả đã vận dụna; những thành tựu của nó vào
việc nghiên cứu câu hỏi. Nhưng về tiếng Anh, các nhà nghiên cứu chỉ tâp trung vào từns
loại câu cụ thể, hoặc Yes/No - question hoặc Wh - question. Theo như chúng tỏi được
biết, chưa có công trình nào nshiên cứu một cách hệ thống toàn bộ các kiểu loại cáu hỏi
trong tiếng Anh trên các bình diện. Trong tiếng Việt, chỉ mới có cóng trình của Lê Đỏng
nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này. Cho đến nay, chưa có cóng trình nào chuyên sâu
6
nghiên cứu đối chiếu các phương tiên ngữ dụng bổ trợ trong câu hỏi chính danh tiếng Anh
với tiếng Viêt.
Như vậy, có thể nói rang, việc nghiên cứu đề tài này là một việc làm không chỉ có tính
cấp thiết, tính thời sự cao mà còn có thể xem như là bước đi đầu tiên, vừa có tính thăm dò
vừa có tính thúc đẩy việc thực hiện một mảng trống lớn cần được nghiên cứu trong ngốn
ngữ học nói chung, cả về lý thuyết cũng như thực tiễn.
2. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THựC TIẺN
CỦA CÔNG TRÌNH
Nhu cầu thực tiễn, nhu cầu học thuật và tình trạng nghiên cứu còn có phần thiếu hụt là
nhũng nhân tố quan trọng tạo nên tính thời sự cấp bách của đề tài. Việc đáp ứng nhu cầu ,
khắc phục tình trạng nghiên cứu này là mục đích và ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài.
Giải quyết tốt những nhiệm vụ chủ yếu của đề tài sẽ đem lại những đóng góp mới ở cả
hai lĩnh vực: lí thuyết và thực tiễn.
2.1. Ý NGHĨA THỰC TIẺN.
Về thực tiễn, bằng việc vận dụng một hệ thống lý thuyết mô tả và phân loại mới hữu hiệu,
cùng với những kết quả đạt được trong quá trình đối chiếu hệ thống câu hỏi tiếng Anh và
tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa - ngữ dụng, công trình này sẽ cung cấp một cách hệ
thống các đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ dụng cơ bản của các kiểu loại câu hỏi chính danh
trong tiếng Anh và Việt cũng như các đặc điểm chung, các nét đặc thù của hai thứ tiếng
liên quan trực tiếp đến phạm vi này. Kết quả này sẽ đem lại một nhận thức đầy đủ, sâu sắc

hình thái học được phổ biến trong truyền thống nghiên cứu ngữ pháp An - Âu đã giảm
hiệu lực khi áp dụng vào nghiên cứu các thứ tiếng như tiếng Việt, tiếng Trung Quốc; Thứ
hai, thông qua việc kiểm nghiệm, chuyên khảo cũng có thể tham gia bổ sung vào khung
lý thuyết những ngoại lệ, những đặc điểm chưa dược bao quát trong phạm vi nghiên cứu
(nếu có); Thứ bã, thông qua việc đối chiếu hành vi ngôn ngữ hỏi, một trong những hành
vi ngôn ngữ có sự thể hiện một cách tập trung các nhân tố thuộc về ngữ nghĩa - ngữ dụng ,
cấu trúc, chức năng, công trình này sẽ góp phần, trong chừng mức nhất định, vào việc tạo
tiền đề cơ sở, cho những công trình nghiên cứu đối chiếu loại hình hành vi ngón ngữ ở
những phạm vi lớn hơn. Nhận thức là một quá trình. Liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu
đối chiếu các phương tiện ngữ dựng bổ trợ giữa tiếng Anh và tiếng Việt, nếu không có
những công trình nghiên cứu về từng phạm vi cụ thể thì sẽ không thể có các cóng trình
nghiên cứu đối chiếu ờ phạm vi, tầm mức cao hơn.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Chúng tôi thực hiện để tài này với những mục đích xác định. Với tư cách là một nsười vừa
làm công tác giảng dạy tiếng Anh, vừa nghiên cứu ngôn ngữ, thì việc thực hiện một đề tài
nghiên cứu đối chiếu giữa tiếng Anh và tiếng mẹ đẻ là thích họp, giúp cá nhân chúng tôi
có thêm những hiểu biết cần thiết để hoàn thành tốt hơn công việc chuyên môn: giảng dạy
tiếng Anh cho các đối tượng người Việt học tiếng Anh. về mặt ích lợi xã hội, việc thực
hiện tốt đề tài này sẽ, ở một mức độ nhất định, cung cấp một công trình phân tích đối
chiếu các phương tiện ngữ dụng bổ trợ ở bình diện ngữ nghĩa - ngữ dụng giữa câu hỏi
chính danh tiếng Anh và tiếng Việt - một mảng trống mà, theo chúng tôi đựơc biết, cho
đến nay chưa được nghiên cứu một cách có hộ thống. Mục đích cụ thể của việc nghiên
cứu đề tài này là tìm ra những tương đồng và khác biệt về phương diện ngữ nghĩa - ngữ
dụng giữa các phương tiện ngữ dụng bổ trợ trong câu hỏi chính danh tiếng Anh và Việt .
Những kết quả đạt được có thể được vận dụng vào phục vụ các mục đích lí luận và thực
tiễn da dạng.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN cứ u .
4.1. ĐỀ TÀI CỦA CHUYÊN KHẢO.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của công trình được thể hiện một cách khái quát qua
tên gọi của đề tài: “Nghiên cứu đối chiếu các phương tiện ngữ nghĩa - ng ữ dụng bổ trợ

vì, để có cơ sở cho việc so sánh tổng quát và hệ thống hoá, bắt buộc phải phân tích các
yếu tố, tiểu loại, các phương diện, các cấp độ, các thuộc tính cụ thể của đối tượng được
khảo sát. Xét về mặt bản thể, câu hỏi chính danh là một thực thể thống họp nhiều yếu tố:
cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng. Vì vậy, để có được bức tranh toàn cảnh về đối tượng
nghiên cứu, công trình này nghiên cứu câu hỏi của hai thứ tiếng về ngữ nghĩa - ngữ dụng.
Các đặc trưng về cấu trúc được quan tâm trong chừng mức / quan hệ cần thiết để làm sáng
tỏ những đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ dụng. Nếu nhìn nhận cấu trúc dưới góc độ ngữ dụng
thì sẽ hiểu thêm về cấu trúc. Và, nếu dùng cấu trúc đê nhìn nhận vấn đề ngữ dụng thì sẽ, ờ
mức độ nhất định, khách quan hoá được các nhân xét, các kết quả nghiên cứu.
(iii) Phạm vi đối chiếu được tiến hành trên các bình diện chính sau đây
+ Đối chiếu các phạm trù ngữ nghĩa - ngữ dung tồn tai trong câu hỏi như tính lựa chọn/
khôns; lựa chọn, tính hiển ngôn/ ngầm ẩn, sự khẳns định/ khỏns khẳng định/ phu định,
tình thái nhận thức/ tình thái trách nhiệm, thông tin đã biết/ thông tin chưa biết - cần biết.
10
+ Đối chiếu cấu trúc - hệ thống nhằm làm sáng rõ những tương đổng và khác biệt về
khuôn hỏi, mẫu câu, các dấu hiệu ngữ vi như động từ ngữ vi, tác tử cấu trúc-tình thái và
các phương tiện ngữ dụng bổ trợ khác.
+ Đối chiếu chức nãng - hoạt động để tìm ra sự tương đổng và khác biệt về chức năng mà
các kiểu loại câu hỏi ờ hai thứ tiếng đảm nhận trong giao tiếp cũng như khả nănơ chuyển
đổi, hành chức trong giới hạn cùng cấp độ hoặc xuyên cấp độ của các câu hỏi khi gắn vói
các chủ thể giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp sinh động, đa dạng, khả biến.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
5.1. NHŨNG ĐẶC TRUNG c ơ BẢN CỦA Đ ố i TƯỢNG NGHIÊN
CỨU.
Phương pháp nghiên cứu đề tài bị quy định bởi những đặc trưng cơ bản của đối tượng
nghiên cứu và mục đích tiến hành việc nghiên cứu. Những đặc trưng đó là: - Tính khả
biến của ngữ cảnh; - Tính hội thoại, khẩu ngữ của ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày; - Tính
đa dạng, sự dung hợp ở các mức độ nông, sâu khác nhau của các kiểu thông tin ngữ
nghĩa - ngữ dụ n g


phổ quát, nhưng chắc chắn sẽ có những cách thức hiện thực hoá khác nhau, và có những
điểm khác biệt về ngữ nghĩa - ngữ dụng giữa tiếng Anh và tiếng Việt.
5.2. QUY TRÌNH, THỦ PHÁP NGHIÊN cứ u .
Do những đặc trưng trên đây của đối tượng nghiên cứu kết hơp với mục đích phân tích
đối chiếu, nên trong chuyên khảo, phương pháp khai thác đối lập các hiện tượng liên quan
đến câu hỏi của từng thứ tiếng được sử dụng triệt để làm cứ liệu cho việc đối chiếu giữa
hai ngôn ngữ. Qúa trình thực hiện đề tài, về đại thể, có thể được phân chia thành hai bước
và luôn có sự vận dụng một cách linh hoạt giữa các bước như sau:
Bước 1: Trons quá trình khảo sát tư liệu, các hành vi ngôn ngữ được phân tích trong mối
tương quan với hoàn cảnh, ngữ cảnh với tất cả những nhân tố bên trong và bên ngoài ngỏn
ngữ như người nói, người nghe, ý đồ giao tiếp, tiền giả định, các thao tác suy luận, lập
luận bằng việc sử dụng một cách linh hoạt các thủ pháp phân tích như cải biến, so sánh,
đối lập trong tương quan đối chiếu với các kiểu ngữ cảnh nhằm tìm ra các yếu tố cần
yếu của ngữ cảnh sử dụng. Từ đó, tập hợp các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu, phân
tích và chọn lọc một cách thích hợp, có tính kế thừa, các thành tựu nahiên cứu của các tác
giả đi trước nhằm dựng lên một bức tranh chung về những biểu hiện cụ thế, các đặc trưng
CO' bản của câu hòi chính danh trong tiếng Anh cũng như tiếns Việt.
12
Bước 2: Dựa vào các thành quả đã đạt được ờ bước một, tiến hành đối chiếu các đặc
trưng ngữ nghĩa - ngữ dụng của các câu hỏi trong tiếng Anh và tiếng Việt, tìm ra những
điểm tương đồng, những nét khác biệt về tất cả các mặt như cơ chế vận hành có tính đều
đặn của từng hệ thống ngổn ngữ liên quan đến hành vi ngôn ngữ, các biểu hiện hình thức
của các đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ dụng, các loại nhân tố chi phối ảnh hưởng câu hỏi như:
người sử dụng, ngữ cảnh, kiểu loại trọng tâm thông báo, tiền giả định, Chuyên khảo này
sẽ sử dụng đồng thời các thủ pháp phân tích định tính và định lượng, về mặt định lượng,
thủ pháp phân tích này dựa vào các kết quả thống kê nhằm chỉ ra những phương tiện,
những xu thế phổ biến liên quan đến đối tượng nghiên cứu. Trên cơ sở đó, thủ pháp định
tính được sử dụng nhằm bổ sung cho những hạn chế của thủ pháp định lượng bằng cách
đánh giá về tính cần yếu, tách cái cần yếu ra khỏi cái ngẫu nhiên, loại bỏ những nhân tố
có tính cá nhân, hạn hẹp của của ngũ cảnh dể làm nổi bật những xu thế chủ yếu chi phối

định lượng,
5.5. KHÁI QUÁT HOÁ VÀ HỆ THỐNG HOÁ KẾT q u ả k h ả o SÁT:
Các hiện tượng, kết quả khảo sát được xếp thành những nhóm vấn đề để miêu tả và so
sánh tương phản. Trong các nhóm vấn đề, các phần tử được phân loại theo tiêu chí định
tính và định lượng nhằm tìm ra những yếu tố chi phối, tác động đến hàm lượng ngữ nghĩa
và và hiệu quả hướng đích (ngữ dụng) của câu hỏi tiếng Anh và Việt.
6. NGUỔN TƯ LIỆU ĐƯỢC s ử DỤNG:
- Các bản dịch song ngữ Anh - V iệt.
- Các sách, báo đcm ngữ tiếng Anh, tiếng V iệt.
- Các loại từ điển và công trình nghiên cứu tiếng Anh và tiếng Việt.
- Một số phim có phụ đề .
- Các cuộc thoại trực tiếp với người bản ngữ, phiếu khảo sát trên đốị
tượng người bản ngữ (nghiệm thể viên).
7. BỐ CỤC CỦA CHUYÊN KHẢO.
Trừ phẩn Mở đầu, phần Kết luận, phần Phụ lục và phần Sách tham khảo, chuyên khảo này
gổm ba chương được sắp xếp theo trật tự sau đâv :
Chương 1: Những vốn đề lý luôn chung của việc phân tích đối chiếu các
phương tiện ngữ nghĩa - ngữ dụng bổ trơ trong câu hỏi chính danh tiếng
Anh và tiếng Việt.
14
Chương 2: Nghiên cứu đối chiếu một số kiểu loại phưong tiên biểu đạt
thông tin ngữ nghĩa - ngữ dụng bổ trợ liên quan đến vai trò, vị thế của
những người tham gia giao tiếp.
Chưcmg 3: Nghiên cứu đối chiếu các phương tiện thông tin ngữ nghĩa - ngữ
dụng bổ trợ hàm chứa thông tin định hướng trà lòi và thông tin về các
đặc điểm của cảnh huống.
15
PHẦN B:
PHẦN PHÁT TRIỂN
16

17
tính chân/ ngụy của một câu cũng phải xác định được hệ quy chiếu trong thế giới khả hữu
(possible worlds - cách chuyển dịch của GS. TS. Đỗ Hữu Châu). Một thông tin đưa ra
không phải chỉ để miêu tả mà bao giờ cũng có chủ định (intention), thể hiện niềm tin
(belief), theo một kế hoạch (plan) nhất định và bằng một loạt hành động (actions). Dụng
học nghiên cứu ý định khi nói, niềm tin theo một kế hoạch và một loạt các hoạt động
hướng đích khi phát ngôn. Có thể đặt những cáu hỏi sau về thông tin trong phát nsôn:
Thông tin được nói ra với mục đích gì ? Thông tin dó là gì ? Thông tin là lõi của phát
ngôn. Người nói, thông qua lõi thông tin này (bao gồm cả thông tin mệnh đề, thõng tin
tình thái, thông tin về lực ngôn trung), nhằm thực hiện hàng loạt mục đích khác nhau. Vì
vậy, không thể tách ngữ nghĩa khỏi ngũ' dụng. Nội dung ngữ nghĩa được tổ chức dể phục
vụ ngữ dụng. Thông tin được tổ chức theo các kiểu khác nhau để đạt đích. Không có
đường ranh giới rõ nét giữa ngữ nghĩa và ngữ đụng. Trong ngữ nghĩa có ngữ dụng và
trong ngữ dụng có ngữ nghĩa. Nói cách khác, ngữ nghĩa được thống hơp (Thuật ngữ của
GS, TS. Đỗ Hữu Cháu [11]) trong ngữ dụng. Ngữ dụng được tích họp vào ngữ nghĩa. Ngữ
dụng thống họp ngữ nghĩa và cú pháp. Trong cuốn Linguistics (Ngôn ngữ học), Jean
Aitchison cho rằng ngữ dụng học có vai trò tổng hợp, bao trùm đối với các lĩnh vực ngôn
ngữ học tiền dụng học, và Aichison mô tả mối quan hệ đó một cách khái quát trong lược
đồ ở phụ lục 1 của công trình này này. Chúng tôi sử dụng thuật ngữ “ngữ nghĩa - ngữ
dụng” với cách hiểu như vậy về mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và ngữ đụng.
Cho đến nay, đã xuất hiện hàng loạt công trình nghiên cứu về dụng hoc của các tác giả
như: S.T. Levinson [131], I.s. Allwood [96], G. Gazdar [111] ở Việt Nam có thể nói
đến các Giáo sư Hoàng Phê [55], Nguyễn Đức Dàn [18],[19], Cao Xuân Hạo [37], Đỗ
Hữu Châu [11], Diệp Quang Ban [2], Nguyễn Thiện Giáp [35] và Lê Đông [31], Theo
chúng tôi, từ các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu trên, có thể rút ra những
nhận xét sau:
(1) Phạm vi quan tâm của ngữ dụng học rất rộng. Khái niệm “ngữ cảnh” nằm trong mối
quan hệ bổ sung với “ hành vi ngón ngữ “ và, sự tương tác giữa hai khái niệm này tạo
thành lõi cơ bản cửa các công trình nghiên cứu ngữ dụng. Việc trình bày các quy tắc của
sự tưong tác này là nhiệm vụ của ngữ dụng học.

vào nhân tố con người cũng cho thấy một số nội dung quan trọng khác của ngữ cảnh.
Trong đó, có sự phụ thuộc cùa ý nghĩa vào các nhân tố tâm lý và logic. Chẳng hạn như các
cấp so sánh tính từ xét trons tương quan đối với người sử dụnc. Mặt khác, người ta cũng
thường lưu ý đến sự phân biệt giữa ngữ cảnh hướns xã hội (societal context) và ngữ cảnh
nảy sinh do quá trình tương tác bằng lời nói (social context) cũng đươc xem xét. Loại ngữ
cảnh hướng xã hội này là nhân tố tạo nên "sự khác biệt giữa các ngôn ngữ trong cách
19
dùng" [18, 12]. Đây là loại ngữ cảnh có tác dụng chi phối cách thức sử dụng ngôn ngữ
sao cho phù hợp với từng loại xã hội nhất định. Vai trò của ngữ cảnh và việc phân tích
ngữ cảnh là rất quan trọng. Có thể nói rằng chính ngữ cảnh vừa mở ra con đường đi vào
dụng học, vừa đảm bảo cho dụng học một sứ mệnh tổng hợp. Việc phân tích n°ữ cảnh trờ
thành phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong các cõng trình nghiên cứu dung học.
1.1.2. Hành vi ngôn ngữ và hành vi ngôn ngữ hỏi.
1.1.2.1. Khái lược về HVNN và bản chất của HVNN hỏi.
Ở mức độ khái quát nhất, ngôn ngữ có thể được định nghĩa "là phương tiện giao tiếp quan
trọng nhất của xã hội loài người" (V. Lênin). Việc quan niệm ngôn ngữ trước hết là một
phương tiện để thực hiện hoạt động hướng đích nào đó đã khiến người ta phải quan tăm
tới những khả năng làm công cụ của các phát ngôn. Quan niệm này dã mang đến cho các
phát ngồn ý nghĩa có tính "hành vi". Thuật ngữ “hành vi ngôn ngữ” lần đầu tiên được đề
cập trong các công trình nghiên cứu của J. Austin (1961) và đã được nhiều nhà nghiên cứu
ngôn ngữ học theo trường phái chức năng sử dụng. Ở giai đoạn những năm I960, losic
học vẫn có sự ảnh hưởng rất lớn đối với ngôn ngữ học. Đơn vị câu thường dược đánh giá
theo logic lưỡng trị (đúng / sai), và việc phân tích câu chủ yếu được dựa vào các khái niệm
thành phần câu như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ. Trong tình hình đó, việc xem xét
các hoạt động của lời nói theo thuyết hành vi ngôn ngữ cho phép phát hiện bản chất của
nhiều hiện tượng ngôn ngữ mà cho tới lúc dó vẫn còn bị xem nhẹ. Cho đến nay, có nhiều
cách phân loại vể hành vi ngôn ngữ nhưng cách phân loại của J. Searle [146], J. Austin
[98],[157] và A.Wierzbieka [155] được chú ý nhất. Đây là những cách phân loại dựa vào
biểu thức ngữ vi và động từ ngữ vi. Hành vi ngôn ngữ hỏi là một loại hành vi điển hình
trong bảng phân loại của các tác giả trên. Bản chất của hành vi hỏi là loại hoạt động bằng

B- Gù có môi không ? [157], Trong mẩu thoại này, việc B không trả lời trực tiếp vào câu
hỏi của A mà đưa ra một câu hỏi khác có thể được xem như là sự đi chệch khỏi quy tắc
hỏi - trả lời, vi phạm phương châm quan hệ (relation maxim [157]) trong hội thoại một
cách có chủ ý. Các nhân tố phi quy ước trong ý nghĩa của hành vi ngón ngữ là rất đáng
quan tâm đối với dụng học. Vì vậy, trong cách hiểu hẹp về nhiệm vụ của dụng học, người
ta thường giới hạn đối tượng nshiẽn cứu của nó trong phạm vi các hàm ngôn cá thể hoá
(particularized implicature).
1.1.2.3. Khái niệm chủ thể phát ngôn.
Liên quan trực tiếp đến khái niệm hành vi nsôn ngữ là khái niệm chủ thê phát ngòn
(speaker). Khái niệm này hao chứa nhiều nhất những vấn để cần yếu cua dụng học. Chủ
thể phát ngốn, dù có thể chịu sự chi phối, chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, từ nhiều
phía khác nhau, nhưng luôn giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với hành vi ngôn ngữ.
Chủ thể phát ngôn là trung tâm cùa hành vi ngôn ngữ. Việc hướng tới chủ thể phát ngôn
trong nghiên cứu ngôn ngữ là biểu hiện cùa sự chuyển biến từ việc phân tích ý nghĩa tĩnh
sang nội dung biến động của phát ngôn. Với sự chuyển biến này, con người như một
phức thể tâm lý, đã trở thành trung tâm tổ chức của “ không gian ngữ nghĩa” [1],
1.1.2.4. Phân loại hành vi ngón ngữ.
Phát ngôn là sự hiện thực hoá hành vi ngôn ngữ. Theo Austin, trong một phát ngôn có ba
loại hành vi ngôn ngữ: Hành vi tạo lời (locutionary act), hành vi tại lời (illocutionary act)
và hành vi mượn lời (perlocutionary act). J. Searle đã có những đóng góp quan trọng vể
thuyết hành vi ngôn ngữ. Một trong nhũng đóng góp quan trọng nhất của Searle liên quan
đến thuyết hành vi ngôn ngữ là việc đưa ra khái niệm hành vi ngôn ngữ gián tiếp (indirect
speech acts) [146] cùng với việc phân tích cụ thể về cơ chế hình thành loại hành vi này.
Đây là một vấn đề hấp dẫn, lý thú vì nó đề cập đến một phạm vi thể hiện rất nhiểu các
đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ dụng khác nhau của phát ngôn. Hành vi tại lời (HVTL) thường
được các tác giả phân ra thành các loại hành vi khác nhau. Có hai hướng phân loại chính,
đó là hướng phân loại của Austin và hướng phân loại của Searle. Dựa vào các động từ ngữ
vi, J. Austin phân loại các hành vi tại lời thành năm lớp lớn: phán xét (verdictive), hành
xử (exercitive), cam kết (commissive), ứng xử (behabitive), bày tỏ (expositive). Searle,
dựa vào biểu thức ngữ vi, phân loại các hành vi tại lời thành nãm lớp lớn: Tường giải /

định những tương đồng và khác biệt ở các bình diện cấu trúc và hoạt động. Việc nghiên
cứu đề tài này nằm trong xu thế chung đó. Vị trí của đối chiếu miêu tả và đối chiếu đặc
trưng vì mục đích giảng dạy ngoại ngữ được thể hiện trong lược đồ (Nguồn: Nguyễn Văn
Chiến [13,23]) ở trang 31 sau đây.
1.1.3.2. Chức năng của ngôn ngữ.
Về mặt lý thuyết, xuất phát điểm quan trọng nhất ]à ở chỗ, ngôn ngữ là một hiện tượng xã
hội có tính phổ quát cho toàn thể nhân loại. Chức nâng của ngôn ngữ mang tính phổ quát.
Đó là cóng cụ tư duy, phương tiện giao tiếp của xã hội loài người. Nói cách khác, bản
chất "công cụ" của ngôn ngữ là phổ quát. Ngôn ngữ trước hết là một hệ thống ký hiệu ám
thanh. Nói đến kí hiệu là nói đến tính hai mặt, mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện. Điểu
này cũng mang tính phổ quát. Những mục đích cụ thể có tính phân loại cũns có tính phổ
quát (hỏi, cầu khiến, tườns thuật, cảm thán). Nói tóm lại, chức năng, phương tiện cũng
như các mục đích cụ thể khác nhau của ngôn ngữ là manc tính phổ quát. Đi vào tìm hiểu
nhũng nội dung cụ thê hơn, luôn có thể nhận thấy rằng, các ngón ngữ khác nhau cũng có
cách ứng xử với các hiện tượng được phản ánh cơ bản là giống nhau. Việc so sánh đối
chiếu giữa các ngôn ngữ cũng cho thấy chúng cùng chia sẻ các đặc trưng ngữ nghĩa giống
nhau ờ các hiện tượng cụ thể. Đấy cũng chính ]à cái đã khiến người ta gọi chúng là các
lớp tương ứng giao thoa ngôn ngữ học (cross - linguistic equivalence classes). Điều này
có nghĩa là, có ít nhất một sự tương ứng bộ phận về phương diện nghĩa giữa một hệ
thống ngôn ngữ này với một hệ thống ngôn ngữ khác và có một vài (lớp) tưong ứng dịch
thuật (translational equivalence). Nhũng điều vừa đề cập trên đây bàn về những phạm vi
rất cụ thể của một ngôn ngữ, như các đặc trưng ngữ nghĩa của một kiểu loạiđơn vị ngữ
pháp - ngữ nghĩa nào đó như thời hiện tại, dạng bị động của động từ, số nhiều của danh
từ. Thuật ngữ ý nghĩa (meaning) được sử dụng ở đây với nghĩa rộng, gồm cả ý nghĩa tình
thái - loại nghĩa thường được phân biệt như là nghĩa ngữ dụng. Mục đích của sự
nghiên cứu như vậy là hết sức rõ ràng về mặt lý thuyết. Các ngôn ngữ không chỉ giỏng
nhau về bản chất, chức năng, phương tiện mà ngay trong những phạm vi cụ thể, nơi mà
tính đặc thù có thể đứng ra tranh giành ngôi vị số một thì những sự tương ứng có tính phổ
quát cũng được bộc lộ ở những mức độ nhất định.
1.1.3.3. Tính đồng nhất của HVNN như là co sỏ lý thuyết của nghiên cứu đối chiếu

1.1.3.3.4. Giữa các ngôn ngữ khác nhau, hành vi ngôn ngữ mang tính đồng nhất vể bản
chất, chức năng, cơ cấu nội tại và điều kiện thích dung (felicity condition). Mỗi hành vi
ngôn ngữ đều đòi hỏi những điều kiện nhất định mới có thể thực hiện được. Muốn di xe
đạp thì phải có xe đạp, có thể cầm ghi đông để lái, có thể đạp được, có thể nhìn rõ đường,
có kỹ năng để đưa xe đi mà không mất thăng bằng và dù ở mức độ nào, thì ít nhất, cũng
phải biết cái xe đạp được dùng để làm gì, cách sử dụng ra sao. Điều kiện sử dụng hành vi
ngôn ngữ cũng vậy. Trước hết phải biết ngôn ngữ đó, biết cách sử dung nó, phải có đối
tượng để giao tiếp. Đối tượng cũng phải biết ngôn ngữ đó (có thẻ nghe, và hiểu được).
Chẳng hạn, muốn sử dụng một hành vi mệnh lệnh, người nói phải ờ vào vị thế có thể ra
lệnh được và người nghe cũng phải ở vào tư thế nhận lệnh. Nội dung của mệnh lệnh cũng
phải có khả năng thực hiện được. J. Austin gọi những điều kiện như vậy là những điểu
kiện thích dụng (felicity conditions), Đây là những điều kiện cần cho hành vi ngồn nsữ có
thể được thực hiện. Tất cả những cái đó là chung, là phổ biến cho toàn nhân loại, cho mọi
hành vi ngôn ngữ ỏ' bất kỳ ngôn ngữ nào.
1.1.3.3.5. Nói như vậy không có nehĩa là mọi cái liên quan đến hành vi neón ngữ đều có
tính đổng nhất. Có rất nhiều nội dung ngữ dụns; liên quan đến hành vi ngón ngữ có sự
khác biệt, thậm chí khác biệt rất lớn giữa các ngôn nsữ khác nhau. Sư khác biệt này,
thông thường, được thể hiện ỏ nôi dung tình thái của phát neón. Chi cán so sánh sơ lược
25

Trích đoạn Những tương đổng và khác biệt giữa biểu thức che chắn trong tiếng Anh và tiêng Việt. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT Được VÀ ĐÓNG GÓP CỦA CÔNG TRÌNH .H ỏi và trả lời ót hể được xem như là văn cành tối rlìiểu đên ghiên cứu vé hành VI hòi. NGỮ VI (IFID) NỔI TRỘI TRONG TIẾNG ANH 1 Chức năng của ngữ điệu. Chức năng định hướng sự chú ý đối với người nghe của ngữ điệu tiếng Anh trong diễn ngôn được thể hiện ở những đặc điểm sau:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status