Luận văn tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong quá trình hội nhập, cả đất nước ta bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá. Mọi thành phần kinh tế đều ra sức đầu tư và phát huy nguồn lực của mình nhằm
tạo sự phát triển bền vững. Ngân hàng cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Một khi nền
kinh tế phát triển thì vai trò của Ngân hàng càng trở nên quan trọng, và với chức năng là
mạch máu lưu thông nền kinh tế càng được thể hiện rõ nét. Với phương châm "Đi vay
để cho vay", các Ngân hàng luôn phát huy nội lực cũng như tranh thủ những thời cơ
trong mọi hoạt động để đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng, tạo ra lợi nhuận cho mình.
Ngoài việc trang bị cơ sở vật chất hiện đại, vị trí giao dịch thuận lợi, còn đòi hỏi trình
độ của nhân viên, chất lượng sản phẩm, dịch vụ…Và thực sự Ngân hàng nào cũng ý
thức rõ được điều này.
Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam nói chung và Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu
Chi nhánh Cần Thơ (được gọi tắt là Eximbank Cần Thơ hay EIB Cần Thơ) nói riêng đã
và đang khẳng định lại vị thế của mình. Thế mạnh của Ngân hàng là tài trợ xuất nhập
khẩu, kinh doanh ngoại tệ,… Rút kinh nghiệm từ những bài học trước đây, mọi kế
hoạch đề ra và đưa vào áp dụng đều được xem xét và đánh giá cụ thể bằng những chuẩn
mực nhằm hạn chế thấp nhất những rủi ro. Và trong những năm gần đây, Eximbank Cần
Thơ được đánh giá là Ngân hàng hoạt động có hiệu quả, luôn vượt chỉ tiêu kế hoạch do
Ngân hàng Hội sở giao, đặc biệt là công tác huy động vốn và sử dụng vốn.
Nguồn vốn của Ngân hàng ngoài nguồn vốn từ Hội sở điều chuyển xuống thì còn
có nguồn vốn chi nhánh huy động tại chỗ. Ở địa bàn thành phố Cần Thơ, người dân còn
sống thiên về nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, đời sống
còn thấp. Mặt khác dân chúng vẫn chưa nhận thức hết vai trò của Ngân hàng nên Ngân
hàng rất khó khăn để huy động được nguồn vốn nhàn rỗi của dân chúng. Thêm vào đó
là sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng trên địa bàn buộc Ngân hàng phải nỗ lực rất
lớn mới có thể hoạt động hiệu quả được. Và kết quả là nguồn vốn huy động tăng lên
từng năm, hoạt động tín dụng được đánh giá là có hiệu quả, đặc biệt là năm 2005 đã có
sự tăng trưởng đột biến. Nhưng xét về tổng quát thì hiệu quả hoạt động vẫn chưa tương
- Tiếp thu tham khảo những ý kiến của nhân viên các phòng ban trong và ngoài
Ngân hàng có liên quan.
Những thông tin, dữ liệu sau khi đã thu thập được sẽ tiến hành thống kê, tính
toán và lấy chênh lệch qua các kỳ để so sánh theo phương pháp số tương đối, số tuyệt
đối... để đánh giá và làm rõ vấn đề cần nghiên cứu.
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Liễu SVTT: Lê Thị Thu Hà
2
Luận văn tốt nghiệp
Đối với hoạt động của Ngân hàng thì rất phong phú và đa dạng, tham gia trong
nhiều lĩnh vực kinh doanh. Nhưng do hạn chế về thời gian, không gian cũng như kinh
nghiệm thực tế, tôi không nghiên cứu và phân tích chi tiết từng nghiệp vụ cụ thể mà
xuất phát từ nhu cầu không ngừng nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn, đề tài
được viết trên phương diện từ phân tích tổng quát đến cụ thể hoạt động huy động vốn,
sử dụng vốn và những nhân tố khách quan, chủ quan tác động đến Ngân hàng qua 3
năm gần đây (2003-2005) ở phòng Kế toán Ngân hàng Eximbank chi nhánh Cần Thơ.
Cụ thể phần sử dụng vốn, Ngân hàng chủ yếu sử dụng vốn điều chuyển và vốn huy
động tại chỗ để cho vay nên tôi tập trung vào phân tích và đánh giá hoạt động sử dụng
vốn bao hàm hoạt động cho vay của Ngân hàng.
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Liễu SVTT: Lê Thị Thu Hà
3
Luận văn tốt nghiệp
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
----
I. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM).
Ngân hàng thương mại ra đời và phát triển gắn liền với nền sản xuất hàng hoá, nó
kinh doanh loại hàng hoá rất đặc biệt đó là “tiền tệ”. Thực tế các NHTM kinh doanh
“quyền sử dụng vốn tiền tệ”. Nghĩa là các NHTM nhận tiền gửi của công chúng, của các
- Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ được trích hàng năm theo tỷ lệ 5% trên lợi
nhuận ròng. Mức tối đa của quỹ do chính phủ quy định.
- Các quỹ khác: Quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ phát triển nghiệp vụ ngân
hàng…các quỹ quỹ này cũng được trích lập sử dụng theo quy định của pháp luật.
Các quỹ dự trữ sau khi đã được trích lập các NHTM được sử dụng theo mục đích
lập quỹ. Tuy nhiên, khi số tiền của quỹ chưa sử dụng đến thì các NHTM có thể tạm thời
huy động theo nguyên tắc hoàn trả làm nguồn vốn kinh doanh.
1.3. Các nguồn vốn khác:
Một số nguồn vốn khác được coi như vốn tự có của ngân hàng, bao gồm:
- Lợi nhuận giữ lại
- Thu nhập lớn hơn chi phí
- Khấu hao tài sản cố định
2. Nguồn vốn huy động
2.1. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế:
Là số tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của họ
được gửi tại ngân hàng. Nó bao gồm một bộ phận vốn tiền tạm thời nhàn rỗi được giải
phóng ra khỏi quá trình luân chuyển vốn nhưng chưa có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng
cho những mục tiêu định sẵn vào một thời điểm nhất định (Các quỹ: đầu tư phát triển,
quỹ dự trữ tài chính, quỹ phúc lợi khen thưởng…)
2.1.1. Tiền gửi không kỳ hạn:
Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà khi gửi vào, khách hàng gửi tiền có thể
rút ra bất cứ lúc nào mà không cần phải báo trước cho ngân hàng và ngân hàng phải thỏa
mãn yêu cầu đó của khách hàng.
Mục đích của loại tiền gửi này là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản, thực hiện các
khoản chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như các
khoản thanh toán trong tiêu dùng của cá nhân đồng thời hạn chế được chi phí tổ chức
thanh toán, bảo quản tiền và vận chuyển tiền. Đối với ngân hàng, loại tiền gửi này
thường có sự dao động lớn vì người gửi tiền có thể gửi tiền và rút ra bất cứ lúc nào, do
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Liễu SVTT: Lê Thị Thu Hà
5
2.2.2. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:
Người ký thác tiền này ở Ngân hàng để sử dụng vào mục đích nhất định như
mua sắm nhà cửa, trang trải chi phí học tập cho con cái... Ngân hàng thường cấp thêm
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Liễu SVTT: Lê Thị Thu Hà
6
Luận văn tốt nghiệp
tín dụng để bù đắp thêm phần thiếu hụt khi sử dụng vào mục đích của người gửi tiền tiết
kiệm.
Về nguyên tắc, khách hàng chỉ được rút tiền khi đáo hạn. Nếu rút vốn trước hạn
thì phải được chấp nhận của lãnh đạo ngân hàng và hưởng lãi suất không kỳ hạn.
Về hình thức, theo truyền thống, người gửi tiền được cấp một sổ gọi là sổ tiết
kiệm, trên sổ này ghi rõ tất cả các khoản tiền gửi vào rút ra và lãi suất. Mỗi lần gửi tiền
hoặc rút tiền, khách hàng phải xuất trình sổ tiết kiệm cho ngân hàng để ngân hàng ghi
bút toán. Ngày nay, nhiều ngân hàng đã bỏ sổ tiết kiệm, thay vào đó cung cấp cho khách
hàng bảng kê lúc gửi tiền đầu tiên và theo định kỳ hàng tháng để phản ánh tất cả các số
phát sinh.
Việc huy động vốn tiền gửi của khách hàng không những đem lại cho ngân hàng
một nguồn vốn với chi phí thấp để kinh doanh, mà còn giúp cho ngân hàng có thể nắm
bắt được thông tin, tư liệu chính xác về tình hình tài chính của các tổ chức kinh tế và cá
nhân có quan hệ tín dụng với ngân hàng, tạo điều kiện cho ngân hàng có căn cứ để quy
định mức vốn để đầu tư cho vay đối với những khách hàng đó. Vốn tiền mà ngân hàng
huy động được trên các khoản tiền gửi của khách hàng còn là cơ sở cho các tổ chức
thanh tra, kiểm toán thực hiện được nhiệm vụ nhanh chóng, chính xác phát hiện kịp thời
tham ô, trốn thuế, lừa đảo của các doanh nghiệp làm ăn không chính đáng, xử lý kịp thời
những kẻ vi phạm pháp luật.
2.3. Nguồn vốn huy động thông qua các chứng từ có giá.
Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn,
trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời gian nhất định, điều
kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa các tổ chức tín dụng và người mua.
2.3.1. Giấy tờ có giá ngắn hạn :
khả năng thanh toán. Khoản vay này sẽ được ưu tiên hoàn trả trước tất cả các khoản nợ
khác của tổ chức tín dụng.
3. Những nguyên tắc trong việc quản lý tiền gửi của Khách hàng.
Các nguyên tắc trong quản lý tiền gửi khách hàng ra đời nhằm đảm bảo quyền lợi
cho người gửi tiền, tạo niềm tin cho khách hàng và góp phần tạo sự hoạt động kinh
doanh ổn định. Các nguyên tắc đó như sau:
- Ngân hàng phải đảm bảo thanh toán kịp thời cho khách hàng. Để thực hiện được
nguyên tắc này, Ngân hàng chỉ được sử dụng một tỷ lệ phần trăm tiền gửi nhất
định để cho vay, số còn lại làm quỹ dự trữ bảo đảm thanh toán cho khách hàng.
Quỹ bảo đảm thanh toán bao gồm:
+ Tiền mặt tại quỹ
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Liễu SVTT: Lê Thị Thu Hà
8
Luận văn tốt nghiệp
+ Ngân phiếu thanh toán
+ Tín phiếu kho bạc.
+ Tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng Nhà nước.
+ Tiền gửi dự trữ tối thiểu bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước.
- Ngân hàng phải đảm bảo tương ứng về thời hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn.
Tuy nhiên, nguyên tắc này chỉ có ý nghĩa tương đối.
- Ngân hàng chỉ được thực hiện các khoản giao dịch trên tài khoản của khách hàng
khi có lệnh của chủ tài khoản hoặc có sự uỷ nhiệm của chủ tài khoản.
Ngoại trừ trường hợp khách hàng vi phạm luật chi trả theo quy định của cơ quan có
thẩm quyền về thực hiện các nghiệp vụ thanh toán thì khi đó ngân hàng mới có quyền tự
động trích tài khoản thanh toán có liên quan.
- Ngân hàng phải đảm bảo an toàn và bí mật cho chủ tài khoản.
- Ngân hàng phải có trách nhiệm kiểm soát các giấy tờ thanh toán của khách hàng,
các chứng từ thanh toán phải được lập theo đúng quy định. Ngân hàng phải kiểm
tra con dấu và chữ ký của khách hàng, nếu không phù hợp thì ngân hàng có thể
từ chối thanh toán.
dụng của ngân hàng cũng cần tuân thủ các nguyên tắc sau :
- Tiền vay được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín
dụng.
Tiền vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn đã thỏa thuận trên hợp đồng
tín dụng.
5. Rủi ro tín dụng:
5.1. Khái niệm rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện được
các nghiệp vụ tài chính đối với Ngân hàng. Hay nói cách khác rủi ro tín dụng là rủi ro
xảy ra khi xuất hiện những biến cố không lường trước được do nguyên nhân chủ quan
hay khách quan mà khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng một cách đầy đủ cả
gốc và lãi khi đến hạn, từ đó tác động xấu đến hoạt động và có thể làm cho Ngân hàng
bị phá sản.
Đây là rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và thường gây hậu quả nặng nề nhất.
Thông thường ở các nước, nghiệp vụ tín dụng mang lại 2/3 thu nhập cho Ngân hàng.
Còn ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, thu nhập từ hoạt động tín dụng mang lại
thường chiếm 70% - 90% tổng thu nhập. Nhưng đồng thời trong lĩnh vực này cũng chứa
đựng nhiều rủi ro bởi các khoản tiền cho vay bao giờ cũng có xác suất vỡ nợ cao so với
những khoản đầu tư khác.
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Liễu SVTT: Lê Thị Thu Hà
10
Luận văn tốt nghiệp
5.2. Thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra:
5.2.1. Đối với ngân hàng:
Rủi ro tín dụng sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng như
thiếu tiền chi trả cho khách hàng, vì phần lớn nguồn vốn hoạt động của ngân hàng là
nguồn vốn huy động, mà khi ngân hàng không thu hồi được nợ gốc và lãi trong cho vay
thì khả năng thanh toán của ngân hàng dần dần lâm vào tình trạng thiếu hụt.
Như vậy, rủi ro tín dụng sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thanh toán,
làm cho ngân hàng lỗ và có nguy cơ bị phá sản.
nạn bất ngờ.
5.3.2 Những nguyên nhân khách quan:
+ Tình hình kinh tế trong nước:
Hoạt động cho vay của ngân hàng là hoạt động rất nhạy cảm với những biến động
của nền kinh tế - xã hội.
Trong giai đoạn kinh tế suy thoái thường xuất hiện những doanh nghiệp thua lỗ và
phá sản, từ đó có các khoản tiền vay ngân hàng không trả được. Điều này làm cho nợ
quá hạn trong ngân hàng tăng lên nhanh chóng.
Trong giai đoạn nền kinh tế có lạm phát cao và ngày càng gia tăng cũng có thể dẫn
đến rủi ro tín dụng, bởi vì trong giai đoạn này người gửi tiền có tâm lý lo sợ rằng đồng
tiền của mình bị mất giá khi gửi ngân hàng, cho nên họ muốn rút tiền ra khỏi ngân hàng.
Trong khi đó những người đi vay thì lại muốn gia tăng nhu cầu vay vốn và muốn kéo
dài thời hạn vay. Điều này cũng là ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn hoạt động của
ngân hàng cũng như những khoản đầu tư của ngân hàng không có hiệu quả. Nguy cơ
này có thể làm hoạt động cho vay của ngân hàng bị phá sản.
+ Tình hình thế giới:
Trong thời kỳ ngày nay, mỗi quốc gia là một tế bào của nền kinh tế chung thế giới.
Hoạt động kinh tế các nước đều có tác động ảnh hưởng lẫn nhau vì xu hướng toàn cầu
hóa của nền kinh tế thế giới. Nhiều tập đoàn công ty có xu hướng mở rộng kinh doanh
ra nước ngoài. Sự hình thành các khu vực kinh tế và các khu mậu dịch tự do như
NAFTA, AFTA… cho chúng ta thấy sự ảnh hưởng không nhỏ của các nước trong khu
vực cũng như trên thế giới đối với mỗi nước thành viên.
Chính vì vậy, khi có những biến cố và tình hình kinh tế, chính trị, quân sự xảy ra ở
bất kỳ nước nào thì cũng có thể tác động mạnh đến các nước khác trên thế giới và sẽ
dẫn đến biến động kinh tế trong nước và tác động xấu đến hoạt động của ngân hàng.
Qua các cuộc khủng hoảng kinh tế như ở Thái Lan (1997), nó ảnh hưởng mạnh đến cả
những nền kinh tế mạnh như Nhật Bản và Hàn Quốc và làm cho hệ thống tài chính ngân
hàng ở những nước này phá sản hàng loạt. Cuộc khủng hoảng gần đây ở Argentina vào
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Liễu SVTT: Lê Thị Thu Hà
12
Đây là biện pháp tích cực nhất nhằm hạn chế và phòng ngừa rủi ro. Bởi có đánh
giá đúng khách hàng thì mới biết được khả năng hoàn trả nợ của họ. Đánh giá khách
hàng thường chú trọng đến những mặt sau:
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Liễu SVTT: Lê Thị Thu Hà
13
Luận văn tốt nghiệp
- Tình hình tài chính của khách hàng
- Tư cách, năng lực và trình độ hiểu biết của người đứng đầu doanh nghiệp
- Đánh giá tính khả thi của phương án vay vốn
5.4.2. Phân tích tín dụng:
- Phân tích chất lượng và hiệu quả tín dụng
- Phân tích khả năng mở rộng quy mô tín dụng
- Thực hiện các đảm bảo tín dụng
- Trình độ của cán bộ tín dụng
5.4.3. Phân tán rủi ro:
+ NHTM không nên dồn vốn vào một hoặc một số ít khách hàng, cho dù khách
hàng đó kinh doanh có hiệu quả. Bởi vì nếu khách hàng đó gặp khó khăn trong kinh
doanh thì ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của NHTM. Vì vậy, NHTM cần phải tôn
trọng giới hạn an toàn. Ở Việt Nam căn cứ vào quy chế cho vay của NHNN ban hành
31/12/2001 quy định: “dư nợ đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự
có của ngân hàng”.
+ Cho vay hợp vốn: Cho vay hợp vốn hay còn gọi là đồng tài trợ là quá trình cho
vay, bảo lãnh của một nhóm ngân hàng cho một dự án, do một NHTM làm đầu mối phối
hợp với các bên tài trợ để thực hiện, nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động sản xuất –
kinh doanh của doanh nghiệp và của ngân hàng.
Việc cho vay hợp vốn là để cung cấp các khoản tín dụng lớn mà một ngân hàng
khó có đủ khả năng cho vay, khó xác định mức độ rủi ro. Vì thế, mà nhiều ngân hàng
kết hợp với nhau, cùng nhau xem xét đánh giá khách hàng, phân tích khả năng sinh lời
của dự án để tíến hành cho vay. Các ngân hàng tham gia hợp vốn vào một dự án phải ký
với nhau một hợp đồng đồng tài trợ, thỏa thuận rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng
IV. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG
VỐN CỦA NHTM
1. Phân tích tổng qt nguồn vốn:
Tỷ lệ % từng khoản nguồn vốn = x 100%
Chỉ số này sẽ giúp nhà phân tích biết được cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng. Mỗi
một khoản nguồn vốn để có những u cầu khác nhau về chi phí, tính thanh khoản, thời
hạn hồn trả khác nhau…do đó ngân hàng cần phải quan sát, đánh giá từng loại nguồn
vốn để kịp thời để có những chiến lược huy động tốt nhất trong từng thời kỳ nhất định.
2. Phân tích nguồn vốn huy động:
- Vốn huy động / vốn tự có : giúp các nhà phân tích xác định được khả năng và quy
mơ thu hút vốn từ nền kinh tế của NHTM.
- Tỉ lệ phần trăm từng loại tiền gửi =
động huyvốn Tổng
gửi tiền loại từng dư Số
x 100%
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Liễu SVTT: Lê Thị Thu Hà
15
Số dư từng khoản mục NV
Tổng NV
Luận văn tốt nghiệp
Tỷ lệ này nhằm xác định cơ cấu vốn huy động của Ngân hàng. Qua đó giúp Ngân
hàng hạn chế những rủi ro có thể gặp phải và tối thiểu hoá chi phí đầu vào cho Ngân
hàng.
3. Phân tích vốn vay:
Vốn vay / tổng nguồn vốn (%): phản ánh mức hỗ trợ vốn từ Ngân hàng Trung Ương
(NHTW) và các tổ chức tín dụng khác.
4. Phân tích vốn tự có của Ngân hàng:
Để xác định mức độ an toàn của Ngân hàng vì khả năng thanh toán cuối cùng của
một Ngân hàng có liên quan mật thiết với mức vốn tự có. Việc đánh giá khả năng thanh
toán cuối cùng thường được thực hiện thông qua chỉ số sau:
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Liễu SVTT: Lê Thị Thu Hà
17
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 2
KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU - CHI
NHÁNH CẦN THƠ
----
I. GIỚI THIỆU VẦ NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM.
1. Lịch sử hình thành.
Eximbank Việt Nam được thành lập vào ngày 24/05/1989 theo quyết định số 140/CT của Chủ Tịch Hội Đồng Bộ
Trưởng với tên gọi đầu tiên là Ngân Hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export
Import Bank), là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt
Nam. Ngân hàng đã chính thức đi vào hoạt động ngày 17/01/1990. Ngày 06/04/1992,
Thống Đốc Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam ký giấy phép số 11/NH-GP cho phép Ngân
hàng hoạt động trong thời hạn 50 năm với số vốn điều lệ đăng ký là 50 tỷ đồng VN
tương đương 12,5 triệu USD với tên mới là Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Xuất
Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Commercial Joint-Stock Bank), gọi tắt là
Vietnam Eximbank. Đến tháng 12 năm 2005 sau năm lần tăng vốn điều lệ, hiện nay vốn
điều lệ của Eximbank là 700 tỷ đồng VN tương đương 700.000 cổ phần. Ngân hàng
TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước với Trụ Sở
Chính đặt tại TP. Hồ Chí Minh và 15 Chi nhánh được đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng, Nha
Trang, Cần Thơ, và TP.HCM. thiết lập quan hệ đại lý với hơn 620 ngân hàng ở trên 60
quốc gia trên thế giới.
2. Một số thành tựu đạt được.
Năm 1991 và năm 1992 được Ngân Hàng Nhà Nước và Bộ Tài Chính tín nhiệm
giao thực hiện một phần chương trình tài trợ không hoàn lại của Thụy Điển cho các đơn
vị Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu.
Năm 1993, Vietnam Eximbank được chọn để thực hiện chương trình viện trợ của
chính phủ Thụy Sĩ, và bản thân ngân hàng cũng nhận được một phần viện trợ từ chương
trình này.
News hợp tác tổ chức.
Tháng 11/2005, là ngân hàng đầu tiên phát hành thẻ Eximbank Visa Debit
Tháng 01/2006, đã vinh dự được nhận bằng khen do ngân hàng Standard
Chartered Bank trao tặng về chất lượng dịch vụ điện thanh toán quốc tế (chất lượng dịch
vụ tốt nhất trong lĩnh vực thanh toán quốc tế qua mạng thanh toán viễn thông liên ngân
hàng)
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Liễu SVTT: Lê Thị Thu Hà
19
Luận văn tốt nghiệp
Tháng 01/2006, đã vinh dự nhận giải cúp vàng thương hiệu Việt trong cuộc bình
chọn CÚP VÀNG TOPTEN THƯƠNG HIỆU VIỆT (lần thứ 2) do Mạng Thương Hiệu
Việt kết hợp cùng Hội sở hữu công nghiệp Việt Nam hợp tác tổ chức.
II. GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU CHI NHÁNH CẦN
THƠ.
1. Lịch sử hình thành và phát triển:
TP Cần Thơ là một tỉnh trọng điểm về kinh tế của vùng đồng bằng
sông Cửu Long có đến 13 tỉnh thành. Vốn nằm trong vùng tương đối được ưu ái về
thiên nhiên nên TP Cần Thơ đã được Nhà nước đầu tư rất nhiều như
có sân bay Cần Thơ, Cảng biển, khu chế xuất Trà Nóc cùng với đội ngũ cán bộ quản lý,
khoa học kỹ thuật từ các trường đại học trong vùng và hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối
hoàn chỉnh.
Nắm bắt được những thuận lợi đó của Cần Thơ, ngày 28/3/1995 Eximbank Việt
Nam đã quyết định đặt một chi nhánh mới là Eximbank Cần Thơ theo "Giấy chấp thuận
mở chi nhánh ở trong nước thuộc Ngân hàng thương mại cổ phần" số 0024/GCT của Vụ
trưởng Vụ các định chế tài chính Đặng Thanh Bình, với tên gọi là chi nhánh Ngân hàng
Thương Mại Xuất Nhập Khẩu Việt Nam tỉnh Cần Thơ, gọi tắt là Eximbank Cần Thơ,
hay EIB Cần Thơ. Đây là chi nhánh thứ ba sau chi nhánh Hà Nội và chi nhánh Đà Nẵng.
Trụ sở giao dịch của Eximbank Cần Thơ đặt tại số 02 Điện Biên Phủ, Quận Ninh
Kiều, TP Cần Thơ.
Năm 2003 CN cấp 2 Eximbank Cái Khế trực thuộc Eximbank Cần Thơ được
2.2.3. Thực hiện các dịch vụ thanh toán, tài trợ dịch vụ xuất nhập khẩu hàng hoá,
dịch vụ chuyển tiền qua hệ thống SWIFT:
Hiện nay, Việt Nam Eximbank nói chung, Eximbank Cần Thơ nói riênglà một
trong những Ngân hàng thương mại cổ phần cóa hoạt động dịch vụ thanh toán đa dạng
nhất và có thể đáp ứng hầu hết các yêu cầu về thanh toán trong nước và quốc tế của các
khách hàng kinh doanh nội địa và xuất nhập khẩu.
Với mạng lưới liên kết với trên 620 ngân hàng lớn tại 59 quốc gia trên thế giớ,
Eximbank bảo đảm thực hiện nhanh chóng kịp thời, chi phí thấp, an toàn với các hình
thức thanh toán bằng thẻ tín dụng (L/C), nhờ thu (D/A, D/P), TT, OP, Cheque, thẻ tín
dụng quốc tế. Chiết khấu chứng từ có giá với múc phí thấp (chứng từ hành xuất). Phát
hành thư bảo lãnh trong và ngoài nước…Thực hiện dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài
ước.
2.2.4. Kinh doanh ngoại tệ:
- Eximbank Cần Thơ thực hiện các hoạt động kinh doanh ngoại tệ như: mua bán
các loại ngoại tệ với các cá nhân và doanh nghiệp, thực hiện nghiệp vụ giao ngay
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Liễu SVTT: Lê Thị Thu Hà
21
Luận văn tốt nghiệp
(Sport)về tiền tệ, nghiệp vụ hoán đổi về tiền tệ (Swap), nghiệp vụ kỳ hạn về tiền tệ
(Forward) và nghiệp vụ quyền lựa chọn về tiền tệ (Option). Đối với nghiệp vụ Option,
Eximbank là Ngân hàng thương mại đầu tiên tại Việt Nam thực hiện nghiệp vụ này, mặc
dù mới đưa dịch vụ vào khai thác từ tháng 2 năm 2003, nhưng đã thu hút nhiều doanh
nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tham gia nghiệp vụ này nhằm tránh
rủi ro về tỷ giá.
2.2.5. Dịch vụ trọn gói phục vụ du học sinh:
Thực hiện các dịch vụ tư vấn du học sinh, những thủ tục chứng minh tài chính cho
du học sinh, phát hành Bankdraft, cho vay du học trọn gói.
Phối hợp cùng các Công ty tư vấn du học tổ chức nhiều cuộc hội thảo giới thiệu về
các cơ hội du học tại các nước có nền giáo dục phát triển cho các học sinh sinh viên.
Hỗ trợ các du học sinh về mặt tài chính như: cho vay với lãi suất ưu đãi, phát hành
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức Eximbank Cần Thơ
3.1. Ban Giám đốc: Gồm Giám đốc và 01 Phó Giám đốc với nhiệm vụ:
*Gíám đốc:
- Đại diện pháp nhân của chi nhánh Ngân hàng Thương Mại Xuất Nhập
Khẩu Việt Nam tại Cần Thơ.
- Chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của chi nhánh và việc chi tiêu tài
chính, trích lập quỹ theo quy định của Nhà nước, của Hội Đồng Quản Trị và Tổng
Giám Đốc.
- Tổ chức chỉ đạo thực hiện các chính sách, chế độ nhiệm vụ và kế hoạch kinh
doanh.
- Chịu trách nhiệm toàn diện về tài sản, vốn liếng, tổ chức và điều hành cán bộ của
Chi nhánh.
- Quyết định chương trình, kế hoạch hoạt động công tác của Chi nhánh.
- Quyết định đầu tư cho vay, bão lãnh trong giới hạn được Tổng giám đốc ủy
quyền.
- Ký kết các văn bản tín dụng, tiền tệ, thanh toán trong phạm vi hoạt động của Chi
nhánh.
- Xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh cho Chi nhánh.
- Tổ chức nghiên cứu, học tập và hướng dẫn thi hành các chế độ, thể lệ nhiệm vụ
của Việt Nam Eximbank.
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Liễu SVTT: Lê Thị Thu Hà
23
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
PHÒNG
KẾ
TOÁN
TỔ
KIỂM
- Thực hiện các công tác về hành chính của Ngân hàng như quản lý lao động, kế
hoạch văn phòng phẩm…
- Phụ trách lương, xét khen thưởng.
- Phụ trách chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho toàn thể cán bộ - công nhân
viên trong Ngân hàng.
- Thực hiện các chức năng như kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chế độ Nhà
nước.
3.3. Phòng Tín dụng:
Gồm 10 thành viên, thực hiện nhiệm vụ:
- Nghiên cứu thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, cho vay theo đúng quy định của
Ngân hàng, thể lệ của Nhà nước.
- Tham mưu cho Ban Giám Đốc trong việc xây dựng tín dụng cho từng đối tượng
cụ thể.
- Trực tiếp theo dõi các khoản nợ của Khách hàn trong sút thời gian vay. kể từ khi
phát vay cho đến khi thu hồi nợ vay.
- Theo dõi, đôn đốc việc trả nợ và, bảo lãnh khi có nhu cầu, kinh doanh ngoại tệ,
tư vấn tài chính và đầu tư…
3.4. Tổ Kiểm tra nội bộ:
Gồm có 2 thành viên, thực hiện nhiệm vụ:
- Kiểm tra việc chấp hành qui trình hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật
về hoạt động của Ngân hàng.và các đơn vị trực thuộc.
- Giám sát việc chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Ngân hàng Nhà nước về
đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Liễu SVTT: Lê Thị Thu Hà
24
Luận văn tốt nghiệp
- Thực hiện các chức năng kiểm toán nội bộ.
- Rà soát hệ thống các quy định an toàn trong kinh doanh, phát hiện các sơ hở, bất
hợp lý để kiến nghị bổ sung, sửa đổi.
3.5. Tổ Thẻ Ngân hàng: