PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ
DỤNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU CHI
NHÁNH CẦN THƠ GIAI ĐOẠN 2003 - 2005.
------
I. PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN, GIAI ĐOẠN
2003-2005.
1. Phân tích chung tình hình huy động vốn.
Huy động vốn là hoạt động tương đối khó khăn đối với các Ngân hàng vì nó phụ
thuộc vào nhiều yếu tố. Muốn huy động vốn tốt thì Ngân hàng phải hội đủ khá nhiều điều
kiện như cơ sở vật chất, vị trí thuận lợi để dễ giao dịch, mức lãi suất huy động, công nghệ
thông tin và chất lượng phục vụ ...Trên địa bàn thành phố hiện nay có trên 25 Ngân hàng
với sự cạnh tranh gay gắt, mỗi ngân hàng đều dựa vào đặc trưng thế mạnh của mình và áp
dụng những hình thức kinh doanh riêng nhằm thu hút khách hàng. Đối với EIB Cần Thơ,
khách hàng là doanh nghiệp có quan hệ tiền gửi ngày càng tăng qua các năm, đặc biệt là
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Bảng 03: Số đơn vị có quan hệ tài khoản tiền gửi còn đang hoạt động.
Chỉ tiêu 2003 2004 2005
1. DN Nhà nước (đvị) 22 9 11
2. DN ngoài quốc doanh (đvị) 157 241 258
3.Tổ chức nước ngoài (đvị) 0 0 3
4.Tổ chức tín dụng 12 4 6
5. Cá nhân 1.195 2.483 3.006
(Nguồn: Phòng Kế toán EIB Cần Thơ.)
Rút ra bài học từ những năm trước, chi nhánh đã đẩy mạnh đa dạng hoá các khách
hàng, chú ý phát triển quan hệ với các thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế ngoài quốc
doanh, hạn chế quan hệ với các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn kém hiệu quả. Khách hàng
chủ yếu của Ngân hàng là các cá nhân và doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Năm 2003, số doanh nghiệp Nhà nước giao dịch gửi tiền tại Ngân hàng là khá nhiều
là 22 doanh nghiệp, nhưng sang năm 2004 thì giảm đáng kể, còn 9 đơn vị, năm 2005 tăng
lên là 11 doanh nghiệp, còn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì tăng lên theo từng năm,
từ 157 đơn vị năm 2003 lên 241 đơn vị năm 2004 và đến 2005 là 258 đơn vị. Cá nhân cũng
hàng, ta sẽ đi sâu vào phân tích tình hình huy động vốn của Ngân hàng trong 3 năm trở lại
đây (2003-2005).
Bảng 04: Tình hình huy động vốn, giai đoạn 2003-2005
ĐVT: Triệu đồng.
Chỉ tiêu 2003 2004 2005
2004/2003 2005/2004
Số tiền % Số tiền %
1. Vốn HĐ từ KH 99.604 122.449 214.780 22.845 22,94 92.331 75,4
+ TG thanh toán 26.734 36.40
3
50.27
1
9.669 36,17 13.868 38,1
+ TG tiết kiệm 68.571 84.43
9
141.3
55
15.868 23,14 56.916 67,4
+ Phát hành
GTCG
4.299 1.607 23.15
4
(3.232) (75,18) 21.547 1340
2.Vốn HĐ
TCTD
74 820 67 746 1.008 (753) (91,8)
Tổng cộng 99.678 123.2
69
214.8
48
820 triệu đồng, sang năm 2005 còn 67 triệu đồng. Nguyên nhân của sự tăng giảm bất
thường như vậy là do tình hình cho vay vốn ở các ngân hàng khác không ổn định. Nhận xét
về công tác huy động vốn từ các tổ chức tín dụng là chưa thật hiệu quả vì có sự cạnh tranh
gay gắt giữa các ngân hàng trên địa bàn.
Các phương thức huy động vốn biến động cụ thể như thế nào, ta sẽ đi sâu vào phân
tích từng loại tiền gửi cụ thể.
2. Các phương thức huy động vốn.
2.1. Tiền gửi thanh toán.
Tiền gửi thanh toán ở Ngân hàng chủ yếu là các tổ chức kinh tế. Do yêu cầu trong
sản xuất kinh doanh cũng như thấy rõ được những tiện ích từ các sản phẩm, dịch vụ nên
ngày càng có nhiều doanh nghiệp giao dịch thường xuyên với Ngân hàng.
Bảng 5: Tình hình Tiền gửi thanh toán qua 3 năm
Chỉ tiêu
2003 2004 2005 2004/2003 2005/2004
Số
tiền
%
Số
tiền
%
Số
tiền
%
Số
tiền
%
Số
tiền
%
1.TG không KH 26.385 98,7 33.003 90,6 46.170 91,8 6.618 25,1 13.167 39,9
kinh tế với chi phí thấp nhất, tạo sự khác biệt về chất lượng phục vụ và thương hiệu để
cạnh tranh, giảm thiểu chi phí vận hành và tăng hiệu quả kinh doanh cho Ngân hàng. Ta
hãy đi sâu vào tìm hiểu tình hình huy động vốn qua phát hành thẻ ở EIB Cần Thơ.
**.Tình hình phát hành và thanh toán các loại thẻ tại EIB Cần Thơ.
Bên cạnh khách hàng là doanh nghiệp thì khách hàng cá nhân chiếm một tỷ lệ đáng
kể, đặc biệt là khi Ngân hàng đa dạng hóa các loại thẻ ra thị trường. EIB Cần Thơ đã đa
dạng hoá các loại thẻ nhằm tạo cho khách hàng nhiều sự lựa chọn và thuận lợi hơn trong
giao dịch. Ngoài các loại thẻ ATM, Visa, Master Card, năm 2005 Eximbank còn là Ngân
hàng đầu tiên phát hành thẻ quốc tế với thương hiệu Eximbank - Visa Debit với tác dụng
như ví tiền có thể đi khắp thế giới. Với tính thuận lợi và ưu việt của chúng, số lượng khách
hàng sử dụng thẻ ngày càng nhiều. Đây là cơ hội để Ngân hàng huy động vốn. Vì vậy, bên
cạnh các hình thức tiết kiệm có dự thưởng áp dụng cho các loại tiền gửi ngắn hạn thì Ngân
hàng cũng chú trọng vào việc khuyến khích dân chúng sử dụng thẻ của Ngân hàng, cụ thể
như chương trình “Thông điệp hoa hồng”. Đồng thời các giải thưởng bằng tiền mặt đều
trao cho khách hàng thông qua thẻ ATM.
Bảng 06: Tình hình phát hành và thanh toán thẻ.
Chỉ tiêu 2003 2004 2005
Số thẻ Doanh số
(Tr. đg)
Số thẻ Doanh số
(Tr. đg)
Số
thẻ
Doanh số
(Tr. đg)
ATM - - 1.298 1.537 3.700 9.694
Visa 46 1,2 285 3,5 420 6
Master 200 0,67 312 1,7 520 4
Visa Debit - - - - 138 100,5
(Nguồn: Tổ Thẻ EIB Cần Thơ.)
tôm và cá ba sa của Mỹ và EU đã làm ảnh hưởng đến các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản
trong nước, mà đồng bằng sông Cửu Long là khu vực nuôi trồng và chế biến tôm lớn nhất
Việt Nam. Thêm vào đó, đồng Dollar Mỹ (USD) cũng không ổn định làm cho việc kinh
doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp ngừng trệ. Để an toàn và chờ tình hình mới sáng
sủa hơn, số lượng doanh nghiệp gửi tiền vào Ngân hàng tăng. Năm 2005 thì tình hình kinh
tế diễn ra cũng phức tạp theo những chiều hướng mới, người dân lo sợ đồng tiền mất giá
nên các khách hàng có tài khoản tiền gửi bằng ngoại tệ đã rút để mua vàng cất giữ.
Loại tiền gửi thanh toán có kỳ hạn ít được khách hàng quan tâm tới và có tỷ lệ tiền
gửi thấp do lãi suất không hấp dẫn bằng tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Mặc dù tăng qua các
năm nhưng doanh số chưa cao, vì vậy Ngân hàng chú trọng hơn vào loại tiền gửi này bằng
cách sử dụng những hình thức huy động vốn hấp dẫn hơn như khuyến mãi, tăng lãi suất.
2.2. Tiền gửi tiết kiệm.
Tiền gửi tiết kiệm luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động, và
cũng là loại tiền mà Ngân hàng dành nhiều “ưu ái” nhất. Đây là lượng tiền nhàn rỗi của
dân chúng, các đơn vị kinh tế nhằm mục đích chính là hưởng phần lãi suất mà Ngân hàng
trả cho khách hàng khi gửi tiền. Thời hạn càng cố định, thời gian càng dài thì lãi suất thu
được càng cao, nên hầu hết khách hàng đều thích gửi tiền có kỳ hạn mà đặc biệt là loại tiền
gửi kỳ hạn dưới 12 tháng để phòng ngừa những rủi ro khách quan xảy ra. Nguyên nhân của
sự chênh lệch đó là do các khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn tạo ra nguồn vốn ổn định cho
Ngân hàng hoạt động, còn tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn thì ngược lại, nó sẽ làm nguồn
vốn hoạt động của Ngân hàng không ổn định vì khách hàng có thể rút tiền bất kỳ lúc nào
họ cần. Vì vậy, để thu hút khách hàng gửi tiền có kỳ hạn, tạo tiền đề cho sự hoạt động của
Ngân hàng thì đòi hỏi các Ngân hàng phải để lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thấp hơn tiền
gửi có kỳ hạn.
Bảng 07: Tình hình tiền gửi tiết kiệm qua 3 năm (2003-2005)
ĐVT: Triệu đồng.
Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2004/2003 2005/2004
Số tiền % Số tiền % Số tiền % Số tiền % Số tiền %
1.TG K KH 6.240 9,1 3.372 3,9 2.036 1,44 (2.868) (46) (1.336) (39,6)
2.TG có KH 62.331 90,9 81.067 96,1 139.319 98,6 18.736 30,1 49.928 61,6
lượng dịch vụ cung cấp. Hơn nữa, sự nhận thức về vai trò quan trọng của Ngân hàng ngày
càng được người dân quan tâm và tiếp cận. Do vậy Ngân hàng đã thu hút ngày càng nhiều
lượng nguồn vốn nhàn rỗi của dân chúng.
2.3. Tình hình phát hành giấy tờ có giá.
Trong các phương thức huy động vốn từ khách hàng thì giấy tờ có giá có số lượng
tiền huy động thấp nhất. Điều này cũng dễ hiểu vì tính chất của các loại giấy tờ có giá là
thường có lãi suất cao nhưng kỳ hạn dài, và chỉ được rút tiền khi đáo hạn, nên người dân
không "mặn mà" lắm với loại tiền gửi này mà thích gửi tiền theo loại truyền thống là gửi
tiết kiệm.
Bảng 08: Tình hình phát hành giấy tờ có giá qua 3 năm (2003-2005).
ĐVT: Triệu đồng.
Chỉ tiêu
2003 2004 2005 2004/2003
2005/2004
Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền % Số tiền %
Giấy tờ có giá 4.299 1.607 23.154 (3.232) (75,18) 21.547 1340,8
(Nguồn: Phòng Kế toán EIB Cần Thơ).
Tình hình phát hành giấy tờ có giá của EIB biến động không ổn định. Năm 2003,
vốn huy động từ lợi tiền gửi này là 4.299 triệu đồng, sang năm 2004 giảm xuống còn 1.607
triệu đồng, tức đã giảm đi 62,6%. Nguyên nhân là do tình hình kinh tế chính trị thế giới
diễn biến khá phức tạp. Để đảm bảo an toàn, người dân đổ xô đi mua vàng hoặc nếu gửi
tiền vào Ngân hàng thì chọn loại tiền gửi kỳ hạn ngắn hạn. Năm 2005, như đã phân tích ở
những phần trên thì Ngân hàng đã dùng nhiều chính sách nhằm phát huy hiệu quả huy
động vốn, nhưng mặc dù phát hành giấy tờ có giá tăng lên (23.154 triệu đồng, tương
đương 1340,8% so với năm 2004) nhưng so với tổng nguồn vốn huy động, phương thức
huy động này còn chiếm tỷ lệ nhỏ. Vì giấy tờ có giá là công cụ để huy động tiền gửi tiết
kiệm có kỳ hạn ổn định – do Ngân hàng phát hành ra nhằm mục đích kinh doanh trong
từng thời kỳ nhất định, là nguồn vốn mà Ngân hàng có thể sử dụng cho hoạt động đầu tư,
nên Ngân hàng cần chú trọng đến loại tiền gửi này, làm sao để cho người dân hiểu được
tác dụng và tiện ích của giấy tờ có giá đem lại, và để huy động với số lượng tiền lớn hơn.
quan hệ tài khoản tại Ngân hàng là 6 Ngân hàng, thể hiện mối quan hệ với các ngân hàng
bạn chưa nhiều. Vì vậy bên cạnh đầu tư phát triển các sản phẩm, dịch vụ thì mở rộng mối
quan hệ với các khách hàng là các tổ chức tín dụng cũng vô cùng cần thiết. Đó là một trong
những mục tiêu hướng tới sự phát triển bền vững của Ngân hàng.
3. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình huy động vốn, giai đoạn 2003-2005.
3.1. Tỷ trọng của từng phương thức huy động trên Tổng vốn huy động .
Nguồn vốn huy động của Ngân hàng EIB Cần Thơ rất đa dạng, huy động từ nhiều
nguồn khác nhau: từ các tổ chức kinh tế, từ tiền gửi tiết kiệm của dân cư, từ việc phát hành
giấy tờ có giá…Nhưng tóm lại, nguồn vốn huy động của Ngân hàng được phân ra thành
huy động ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Cơ cấu vốn huy động thay đổi rất linh hoạt, nó
phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh của Ngân hàng trong từng thời kỳ nhất định. Qua
phân tích ở chương 3 ta thấy nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh
toán luôn chiếm tỷ trọng cao, còn vốn huy động từ các nguồn khác như huy động từ các
TCTD, phát hành giấy tờ có giá,…không ổn định và chiếm tỷ lệ khá nhỏ.
Bảng 10 : Tỷ trọng của từng phương thức huy động trên tổng vốn
huy động
ĐVT: Triệu đồng.
Chỉ tiêu
2003 2004 2005
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
1. TG thanh toán 26.734 26,82 36.403 29,53 50.271 23,4
+ TG không kỳ hạn 26.385 26,47 33.003 26,77 46.170 21,49
+TG có kỳ hạn 349 0,35 3.400 2,76 4.101 1,91
2. TG tiết kiệm 68.571 68,8 84.439 68,5 141.355 65,8
+ TG không kỳ hạn 6.240 6,26 3.372 2,74 2.036 0,95
+ TG có kỳ hạn 62.331 62,54 81.067 65,76 139.319 64,85
3. Phát hành GTCG 4.299 4,31 1.608 1,3 23.154 10,77
4. TG của TCTD 74 0,07 820 0,67 67 0,03
Tổng nguồn vốn HĐ 99.678 100 123.269 100 214.848 100
(Nguồn: Phòng Kế toán EIB Cần Thơ).
+ Tiền gửi của các tổ chức tín dụng: Tiền gửi của các tổ chức tín dụng thì chiếm 1 tỷ
lệ rất nhỏ. Từ bảng cho thấy qua 3 năm phương thức huy đồng này đều chiếm dưới 1%.
Để đánh giá hiệu quả huy động vốn, các chỉ tiêu sau được sử dụng:
4. 2. Vốn huy động / tổng nguồn vốn.
Bảng 11: Tỷ trọng vốn huy động trên tổng nguồn vốn
.
Chỉ tiêu ĐVT 2003 2004 2005
1. Vốn huy động Tr. đg 99.678 123.269 214.848
2. Tổng nguồn vốn Tr. đg 289.442 353.903 447.087
VHĐ/ Tổng NV % 34,44 34,83 48,06
(Nguồn: Phòng Kế toán EIB Cần Thơ.)
Qua bảng ta nhận xét, tỷ trọng vốn huy động trên tổng nguồn vốn năm 2004 là
34,83%, chỉ tăng lên một lượng rất nhỏ so với năm 2003. Sang năm 2005 thì tỷ trọng này
tăng khá cao, vốn huy động đã chiếm 48,06% trên tổng vốn. Đây là bước tăng trưởng khá
nhanh của Ngân hàng. Tuy chưa đạt đến 50% nhưng với tốc độ tăng như thế sẽ hứa hẹn
một một tương lai sáng sủa trong công tác huy động vốn. Phát huy những gì đang có, Ngân
hàng cần đẩy mạnh hơn nữa công tác huy động, tăng cường quảng bá tiếp thị sâu rộng đến
mọi tầng lớp nhân dân, giữ vững khách hàng cũ, lôi kéo khách hàng mới từ nền kinh tế để
chủ động hơn trong việc sử dụng vốn.
4.3. Vốn điều chuyển/ tổng nguồn vốn.