Luận văn tốt nghiệpGVHD: TS. Trịnh Hữu Hạnh
L i cam oanờ đ
Tôi xin cam đoan bản luận văn cuối khóa “Phát triển nghiệp vụ Bảo
hiểm trách nhiệm nghề nghiệp kiến trúc sư và kỹ sư tư vấn tại Bảo Việt
Hà Nội” là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, xuất phát từ tình
hình thực tế của đơn vị thực tập.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Tác giả luận văn
Trần Hoàng Mai
M c L cụ ụ
M c L cụ ụ 1
Danh m c b ng s li uụ ả ố ệ 4
L i Nói uờ Đầ 1
Ch ng 1: M T S V N LÝ LU N VÀươ Ộ Ố Ấ ĐỀ Ậ 3
TH C TI N V B O HI M TRÁCH NHI M NGH NGHI P CHO KTS & Ự Ễ Ề Ả Ể Ệ Ề Ệ
KSTV 3
Luận văn tốt nghiệpGVHD: TS. Trịnh Hữu Hạnh
1.1. T ng quan v b o hi m TNNN KTS & KSTVổ ề ả ể 3
1.1.1. Khái quát chung v b o hi m TNNNề ả ể 3
1.1.3. Vai trò c a b o hi m TNNN KTS & KSTV Vi t Namủ ả ể ở ệ 5
1.2. Quá trình phát tri n c a nghi p v TNNN KTS & KSTVể ủ ệ ụ 7
1.3. Khái quát chung v tình hình khai thác th tr ng b o hi m TNNN ề ị ườ ả ể
KTS & KSTV Vi t Namở ệ 8
1.3.1. Tình hình chung th tr ng b o hi m Vi t Namị ườ ả ể ệ 8
1.3.2. Th c ti n khai thác b o hi m TNNN KTS & KSTV th tr ng ự ễ ả ể ở ị ườ
Vi t Namệ 10
1.4. N i dung c b n c a nghi p v TNNN KTS & KSTVộ ơ ả ủ ệ ụ 12
1.4.1. Khái ni m m t s thu t ng liên quanệ ộ ố ậ ữ 12
1.4.2. c i m b o hi m TNNN KTS & KSTVĐặ để ả ể 16
1.4.2.1. i t ng b o hi m v i t ng tham gia b o hi mĐố ượ ả ể àđố ượ ả ể 16
3.2. M t s xu t nh m thúc y nghi p v b o hi m TNNN KTS & ộ ốđề ấ ằ đẩ ệ ụ ả ể
KSTV 74
3.2.1. Các gi i pháp i v i công tyả đố ớ 74
3.2.1.1. Công tác khai thác 74
3.2.1.2 Công tác ánh giá r i rođ ủ 74
3.2.1.3. Công tác giám nh v gi i quy t b i th ngđị à ả ế ồ ườ 75
3.2.1.4. Công tác o t o cán bđà ạ ộ 75
3.2.2. M t s ki n ngh i v i nh n cộ ố ế ị đố ớ à ướ 76
K t lu nế ậ 77
DANH M C TÀI LI U THAM KH OỤ Ệ Ả 79
Danh mục viết tắt
TNNN : trách nhiệm nghề nghiệp
KTS: Kiến trúc sư
KSTV: Kỹ sư tư vấn
NBH: Ng i b o hi mườ ả ể
N BH: Ng i c b o hi m.Đ ườ đượ ả ể
CBQL: Cán b qu n lý.ộ ả
BVHN: B o Vi t H N iả ệ à ộ
Luận văn tốt nghiệpGVHD: TS. Trịnh Hữu Hạnh
Danh m c b ng s li uụ ả ố ệ
Bảng Tên bảng Trang
Bảng 1.1
Phí cơ bản tính trên số lượng CBQL và chuyên gia
kỹ thuật của NĐBH.
24
Bảng 1.2
Phí cơ bản bổ sung tính trên doanh thu năm của
NĐBH
24
Bảng 1.3 Tăng/giảm phí BHTNNN KTS & KSTV theo dự án 25
một trong số đó. Nhằm bảo đáp ứng những vấn đề mới của nên kinh tế cũng
như sự lo lắng về tinh thần của con người hiện nay các loại hình nghiệp vụ
bảo hiểm ngày càng đa dạng và phong phú.
Với mục tiêu phát triển Việt Nam trở thành một nước đô thị hóa thì xây
dựng đô thị vẫn luôn là vấn đề được nhà nước quan tâm và đầu tư, ngành bảo
hiểm cũng từ đó mà triển khai những nghiệp vụ bảo hiểm phù hơp nhằm đảm
bảo nhu cầu cấp thiết của các hoạt động xây dựng đô thị. Có thể dễ dàng thấy
rằng khi các công trình xây dưng ngày càng được đầu tư với quy mô lớn thì
mức rủi ro sinh ra ngày càng cao, với những sai sót nhỏ nhưng có thể dẫn đến
những hậu quả khôn lường, các cá nhân chịu trách nhiệm về xây dựng thi
công hay thiết kể sẽ phải chi trả một khoản tiền vô cùng lớn để bồi thường và
giải quyết hậu quả. Đó là một gánh nặng lớn đối với không chỉ riêng một cá
nhân mà với cả một tổ chức. Chính vì ngành bảo hiểm giới thiệu sản phẩm
bảo hiểm Trách nhiệm nghề nghiệp Kiến trúc sư và Kỹ sư tư vấn.
Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho kiến trúc sư và kỹ sư tư vấn ra đời giúp cho
đội ngũ kiến trúc sư và kỹ sư tư vấn ổn định về mặt tài chính để yên tâm hoạt động trong
lĩnh vực tư vấn, thiết kế kể cả khi phát sinh trách nhiệm phải bồi thường theo phán quyết
của toà án do những lỗi sai sót bất cẩn trong quá trình thực hiện chuyên môn nghiệp vụ của
chính họ. Nghiệp vụ bảo BHTNNNN KTS & KSTV đã được triển khai ở rất nhiều nước
trên thế giới. Điều đó chứng tỏ rằng nghiệp vụ này ra đời là một tất yếu khách quan và đã
đem lại rất nhiều lợi ích cho các KTS và KSTV cũng như đem lại lợi ích cho công ty bảo
hiểm và nhà nước. Ngoài ra nó còn góp phần đảm bảo công bằng cho xã hội nói chung và
đảm bảo công bằng cho những người bị thiệt hại nói riêng.
Bảo Việt là công ty đầu tiên triển khai hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm này, đến nay
SV: Trần Hoàng Mai
1
Lớp: CQ48/03.02
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Hữu Hạnh
với hơn 10 năm kinh nghiệm công ty đã khẳng định được uy tín của mình trên thị trường.
Hiện nay tại Hà Nội các dự án thi công công trình ngày càng nhiều, với tiêu chuẩn và yêu
Trong thời gian thực tập tại phòng bảo hiểm Rủi ro kỹ thuật, em đã nhận
được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ nhân viên trong công ty và sự
hướng dẫn chỉ bảo nhiệt tình của thầy giáo TS. Trịnh Hữu Hạnh trong suốt quá trình
làm chuyên đề này. Đồng thời, em xin lòng cảm ơn tới các thầy cô giáo trong bộ môn Bảo
hiểm, cùng các cô chú, anh chị cán bộ tại Công ty Bảo hiểm Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ
em trong thời gian qua.
Do còn hạn chế về mặt kiến thức cũng như không có kinh nghiệm thực tế nên chuyên
đề này không tránh khỏi những thiếu sót, em mong được sự góp ý của các thầy cô giáo và
các bạn đề chuyên đề này hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Trần Hoàng Mai
Ch ng 1: M T S V N LÝ LU N VÀ ươ Ộ Ố Ấ ĐỀ Ậ
TH C TI N V B O HI M TRÁCH NHI M NGH NGHI P CHO KTS &Ự Ễ Ề Ả Ể Ệ Ề Ệ
KSTV
1.1. T ng quan v b o hi m TNNN KTS & KSTVổ ề ả ể
1.1.1. Khái quát chung v b o hi m TNNNề ả ể
Bảo hiểm TNNN là loại bảo hiểm trách nhiệm pháp lý của người được bảo hiểm phát
sinh do việc vi phạm trách nhiệm nghề nghiệp. DN bảo hiểm cung cấp sự bảo đảm về mặt
tài chính cho các cá nhân, tổ chức, Cty hành nghề chuyên môn đối với trách nhiệm dân sự
SV: Trần Hoàng Mai
3
Lớp: CQ48/03.02
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Hữu Hạnh
phát sinh từ việc hành nghề chuyên môn. Những người hành nghề chuyên môn phải thực
hành công việc, thao tác nghề nghiệp chuyên môn với sự cẩn thận và tay nghề đảm bảo yêu
cầu chuyên môn. Tuy nhiên, thực tế vì nhiều lý do vẫn có thể gây thiệt hại cho bên thứ ba
từ những hành động bất cẩn, những sai phạm hoặc thiếu sót trong quá trình thực hiện các
hay KSTV yên tâm và có khả năng chi trả đảm bảo nếu không may có sự cố
xảy ra. Mặt khác bên cạnh việc giúp giải quyết khả năng chi trả đền bù,
BHTNNN còn giúp cho những cá nhân tổ chức khi tiến hành có trách nhiệm
với công việc của mình, đảm bảo đúng đủ chỉ tiêu chuẩn đề ra khi tiến hành
đánh giá kiểm tra hợp đồng… Với vai trò này nghiệp vụ bảo hiểm này đã
giúp hạn chế được tương đối lớn khả năng xảy ra thiệt hại về vật chất cũng
như con người. Sự cạnh tranh cũng là một yếu tố là tăng rủi ro cho các KTS
và KSTV. Cạnh tranh có thể diễn ra trong lĩnh vực công nghệ, ví dụ bằng
cách áp dụng những thiết kế đơn giản hơn, những vật liệu đơn giản hơn và
mới lạ có thể chưa được áp dụng cẩn thận… trong khi các KTS hay KSTV
khi có sức ép của cạnh tranh thường sẽ cố gắng hạn chế trách nhiệm chấp
nhận được giữa tiền lương và trách nhiệm của anh ta. Từ đó nâng cao chất
lượng cũng như nâng cao hiệu quả công trình tại Việt Nam.
1.1.3. Vai trò c a b o hi m TNNN KTS & KSTV Vi t Namủ ả ể ở ệ
BHTNNN KTS & KSTV có một số tác dụng gắn liền với đặc điểm của
ngành nghề ngoài những tác dụng chung của bảo hiểm như là “lá chắn kinh
tế” của các cá nhân và doanh nghiệp, đảm bảo ổn định đời sống và hoạt động
sản xuất kinh doanh cho người được bảo hiểm (NĐBH), góp phần mang lại sự
an toàn, giảm thiểu rủi ro trong xã hội, tăng thu ngân sách cho nhà nước, thúc
đẩy kinh tế phát triển…
Cũng như các ngành công nghiệp xây dựng ở nước ngoài, Việt Nam
cũng đầu tư rất nhiều tài chính nhằm cải thiện hạ tầng kinh tế cũng như nâng
cao chất lượng, hình ảnh của quốc gia. Trong quá trình thi công xây dựng
chắc chắn khó có thể tránh được những siếu sót sai lầm của các khâu như thiết
SV: Trần Hoàng Mai
5
Lớp: CQ48/03.02
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Hữu Hạnh
kế, thi công, lắp đặt, chọn nguyên liệu… KTS và KSTV thường phục vụ đáp
ứng cho nhu cầu của các nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư các công trình xây
chắc, làm việc có quy trình quy tắc hiện đại đủ tiêu chuẩn… từ đó phát triển
các công trình, quy hoạch đô thị… đẩy mạnh phát triển ngành dịch vụ bảo
hiểm , đồng thời phát triển kinh tế đất nước một cách hiệu quả chắc chắn.
1.2. Quá trình phát tri n c a nghi p v TNNN KTS & KSTVể ủ ệ ụ
Lịch sử phát triển của bảo hiểm là một quá trình đã kéo dài từ cách đây
hàng nghìn năm, bắt đầu từ những nhu cầu cơ bản của con người, xã hội ngày
càng hiện đại , các hoạt động kinh doanh được mở rộng làm phát sinh những
nhu cầu bảo hiểm ngày càng phức tạp. Cũng từ đó ngày càng nhiều các loại
bảo hiểm được hình thành nhằm đáp ứng những yêu cầu thiết thực trong đời
sống sinh hoạt và làm việc.
Nước Anh là quê hương của nhiều loại hình bảo hiểm như bảo hiểm
hàng hải, bảo hiểm cháy, bảo hiểm nhân thọ… BHTNNN KTS & KSTV cũng
không nằm ngoài quy luật này. So với các loại hình BHTN NN khác,
BHTNNN KTS & KSTV ra đời muộn hơn. Cụ thể, ngay từ năm 1880, Luật
trách nhiệm chủ sử dụng lao động ra đời ở Anh không chỉ khai sinh ra loại
hình BHTN chủ lao động mà còn tạo ra nhu cầu về BHTN NN ở rất nhiều
ngành nghề. Vào năm 1896, tổ chức “Northern Accident” đã triển khai BHTN
của dược sỹ và bán BHTN của luật sư vào đầu thế kỷ 20. Năm 1922, loại
BHTN của KTS cũng bắt đầu được bán ở Lloyd’s. Trong thế kỷ 20, do quyết
định của luật pháp và quyết định của tòa án, trách nhiệm của các nhà chuyên
môn nói chung và KTS, KSTV nói riêng đã tăng lên đáng kể. Hơn nữa, những
nguy hiểm trong hoạt động của họ ngày càng lớn, vì kinh tế tăng trưởng với
tốc độ cao đã kéo theo giá trị của các công trình và dự án cũng ngày càng lớn,
tổn thất nếu có sẽ rất lớn. Chính vì thế, BHTNNN KTS & KSTV không
những tiếp tục được duy trì mà còn ngày càng phát triển.
Tại Việt Nam, Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng (ban hành kèm theo
SV: Trần Hoàng Mai
7
Lớp: CQ48/03.02
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Hữu Hạnh
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Hữu Hạnh
vững để phát triển.
Hiện nay, hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng đa
dạng hơn và đi vào chiều sâu nhằm đảm bảo lựa chọn các hình thức đầu tư
thích hợp, an toàn cho nguồn vốn và mang lại hiệu quả kinh tế cao như gửi
ngân hàng, góp vốn liên doanh, tham gia thành lập công ty cổ phần. Mặt khác,
do đặc điểm hoạt động kinh doanh bảo hiểm và do kỹ thuật quản lý quỹ bảo
hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ
phải đảm bảo tỷ lệ an toàn theo quy định của pháp luật.
Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của thị trường bảo hiểm
Việt Nam, nhất là trong thời gian 5 năm gần đây tăng khoảng 22%, (theo báo
cáo đánh giá của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam) đã cho thấy thế mạnh và bước
đột phá lớn của ngành bảo hiểm Việt Nam. Năng lực tài chính của các doanh
nghiệp bảo hiểm tăng mạnh thông qua vốn chủ sở hữu và dự phòng nghiệp vụ
làm cho khả năng thanh toán và mức giữ lại của từng doanh nghiệp bảo hiểm
nâng lên rõ rệt, tăng khả năng nhận tái bảo hiểm từ đó tạo ra nguồn vốn lớn để
đầu tư lại cho nền kinh tế quốc dân. m c dù ã t c nh ng th nh tíchặ đ đạ đượ ữ à
áng ghi nh n nêu trên, tuy nhiên, th tr ng b o hi m Vi t Nam v n còn kháđ ậ ị ườ ả ể ệ ẫ
nh v quy mô, t l doanh thu phí trên GDP m i ch t m c x p x 2% soỏ ề ỷ ệ ớ ỉ đạ ứ ấ ỉ
v i m c trung bình 3,2% trong khu v c ASEAN v 6,5% trên to n th gi i.ớ ứ ự à à ế ớ
i u n y cho th y ti m n ng c a th tr ng r t l n, còn nhi u c h i phátĐề à ấ ề ă ủ ị ườ ấ ớ ề ơ ộ để
tri n. Ngo i ra, th tr ng b o hi m v n còn m t s t n t i nh s n ph m trênể à ị ườ ả ể ẫ ộ ố ồ ạ ư ả ẩ
th tr ng m c dù nhi u nh ng ch a a d ng v còn ít các s n ph m vì m cị ườ ặ ề ư ư đ ạ à ả ẩ ụ
ích c ng ng v an sinh xã h i; n ng l c qu n tr r i ro, qu n tr doanhđ ộ đồ à ộ ă ự ả ị ủ ả ị
nghi p còn h n ch , tình tr ng c nh tranh không l nh m nh v n còn t n t i,ệ ạ ế ạ ạ à ạ ẫ ồ ạ
hi n t ng tr c l i b o hi m ang có xu h ng gia t ng.ệ ượ ụ ợ ả ể đ ướ ă
Chính ph v các c quan b o hi m ã v ang ti p t c u t có thủ à ơ ả ể đ àđ ế ụ đầ ưđể ể
ho n ch nh c ch , chính sách cho phù h p; k p th i h tr , tháo g khó kh n,à ỉ ơ ế ợ ị ờ ỗ ợ ỡ ă
giúp cho th tr ng b o hi m phát tri n an to n, l nh m nh v i t c t ngị ườ ả ể ể à à ạ ớ ố độ ă
tr ng, hi u qu cao h n.ưở ệ ả ơ
thường vài văn phòng KSTV hợp tác với nhau, những rủi ro là các thiếu hụt
SV: Trần Hoàng Mai
10
Lớp: CQ48/03.02
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Hữu Hạnh
hoặc sự chồng chéo trong việc lập kế hoạch sẽ ảnh hưởng đến việc vận hành
trơn tru của toàn bộ công việc.
Sự cạnh tranh cũng là một yếu tố là tăng rủi ro cho các KTS và KSTV.
Cạnh tranh có thể diễn ra trong lĩnh vực công nghệ, ví dụ bằng cách áp dụng
những thiết kế đơn giản hơn, những vật liệu đơn giản hơn và mới lạ có thể
chưa được áp dụng cẩn thận… Chủ lao động hoặc tổng thầu khi thuê KTS và
KSTV sẽ buộc anh ta phải chịu trách nhiệm ít nhất là theo các điều khoản
pháp lý, đôi khi còn ngoài những điều khoản này, trong khi các KTS hay
KSTV sẽ bị sức ép của cạnh tranh thường quan tâm đến việc hạn chế trách
nhiệm chấp nhận được (theo quan điểm của anh ta) giữa tiền công và trách
nhiệm của anh ta.
Ngoài ra, hệ thống pháp luật ngày càng chặt chẽ đòi hỏi nâng cao kiến
thức chuyên môn và nghĩa vụ phải thận trọng, mở rộng trách nhiệm của KTS
và KSTV dựa trên cơ sở lỗi, đôi khi làm cho loại hình bảo hiểm này trở nên
bắt buộc đối với các KTS và KSTV. Vì thế, phải thừa nhận rằng BHTNNN
cũng sẽ là yêu cầu của các nhà đầu tư đối với KTS và KSTV, và đó là yếu tố
làm tăng khả năng cạnh tranh giữa các KTS và KSTV với nhau. Ngược lại,
vấn đề cạnh tranh cũng tác động làm tăng vai trò của BHTNNN KTS &
KSTV vì các KTS và KSTV được bảo hiểm theo Đơn bảo hiểm loại này sẽ có
ưu thế hơn trong mắt các nhà thầu và các nhà đầu tư.
Ở Việt Nam theo thông tư số 76/2003/TT-BTC ngày 04/8/2003 hướng
dẫn về bảo hiểm trong đầu tư và xây dựng, có quy định: Bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp tư vấn đầu tư và xây dựng, thực hiện việc mua bảo hiểm
bắt buộc đối với các cá nhân và tổ chức khi tham gia hoạt động tư vấn đầu tư
và xây dựng và hoạt động thi công xây lắp công trình, không phân biệt nguồn
đến trang bị và tổ chức nhà máy như: lập kế hoạch cơ bản để lắp đặt hệ thống
máy móc, tổ chức quy trình làm việc, tư vấn có liên quan đến hệ thống máy
móc cần thiết và hoạt động của nó, và tư vấn các vấn đề về bố trí hoặc việc sử
SV: Trần Hoàng Mai
12
Lớp: CQ48/03.02
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Hữu Hạnh
dụng vật tư thích hợp. Tuy nhiên, những hoạt động này dựa trên một quy mô
lớn chứ không dựa vào các tiêu chuẩn kỹ thuật, những cái thường có trong
lĩnh vực xây dựng mà thông thường người thiết kế tin cậy.
Kỹ sư có thể có vị trí giống như KTS nhưng thường chuyên về dịch vụ
và chi tiết kỹ thuật. Ví dụ: Kỹ sư dân dụng thường quan tâm đến việc thiết kế
và xây dựng đường, cầu cống, kênh, đào, đường sắt, kênh mương…
Thiết kế
Thiết kế là sự phác họa có tính hệ thống về số đo trong cấu trúc công
trình. Nó bao gồm tất cả những chỉ dẫn cần thiết của KTS hoặc KSTV cho
việc xây dựng công trình. Thông qua việc thiết kế, các ý tưởng được chuyển
thành các ý tưởng có thể triển khai trên thực tế. Về bản chất, thiết kế đưa ra
các bản vẽ/ đồ án (sơ đồ bố trí, bản vẽ cách vận hành, sơ đồ chi tiết của tất cả
các loại) mà mô tả rõ ràng về loại hình và số lượng các hạng mục công việc
xây dựng để trúng thầu (bỏ thầu, các loại hợp đồng, đặc tính kỹ thuật). Ngoài
ra, thiết kế cũng đưa ra những chỉ dẫn riêng trên công trình về các hạng mục
có thể được mô tả không phải trong bản vẽ, cũng không phải trong các chi tiết
kỹ thuật hoặc vẫn chưa được chỉ ra ở đó. Các hình thức chỉ dẫn tùy thuộc vào
yêu cầu cụ thể mà không có các quy định cố định đặt ra cho tài liệu chỉ dẫn.
Việc thiết kế có thể được chia thành:
• Xác định cơ sở của thiết kế: Bao gồm việc xác định vấn đề, tham khảo
các khuyến nghị có liên quan đến vấn đề cần giải quyết và đưa ra các tiêu chí
quyết định việc lựa chọn của các chuyên gia tham gia vào công tác thiết kế.
• Chuẩn bị lập dự án (chuẩn bị dự án và lập dự án): Để chuẩn bị lập dự
hiện đàm phán với những người bỏ thầu và thực hiện các hỗ trợ khác liên
quan đến việc ký kết hợp đồng.
Giám sát
Trong báo cáo này, việc giám sát chỉ đề cập đến giám sát thi công công
trình liên quan đến các chi tiết thiết kế. Trong đó, giám sát thi công công trình
là việc xem xét xem thiết kế có tuân theo giấy phép hoặc phê chuẩn xây dựng
SV: Trần Hoàng Mai
14
Lớp: CQ48/03.02
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Hữu Hạnh
hay không cũng như việc thực hiện bản vẽ thi công và các chi tiết kỹ thuật có
đảm bảo tuân thủ theo tiêu chuẩn kỹ thuật được công nhận và các quy định
tương ứng hay không.
Công việc giám sát bao gồm cả việc kiểm soát và sửa chữa các chi tiết
của những điểm có sẵn, việc chuẩn bị và giám sát kế hoạch thực hiện, kiểm
tra số lượng cùng với các đơn vị thi công, cùng với sự hỗ trợ từ phía các
chuyên gia lập kế hoạch cân nhắc quyết định có chấp nhận việc thi công công
trình hay không. Ngoài ra, xem xét các hóa đơn, xác định các chi phí, đăng ký
để có được sự chấp nhận của chính quyền và hỗ trợ trong các thủ tục tương
ứng.
Công việc giám sát cũng bao gồm việc hoàn thiện công trình, bao gồm
việc biên soạn và chuyển giao các tài liệu theo yêu cầu, ví dụ như các chỉ dẫn
hoạt động, các tài liệu thử nghiệm. Liệt kê theo danh sách về các giai đoạn
bảo hành. Tiến hành giám sát việc dỡ bỏ các thiếu sót được xác định trong khi
công nhận công trình xây dựng và thực hiện kiểm soát chi phí.
Nhìn chung, công việc giám sát cần sự phối hợp công việc giữa các
chuyên gia khác nhau cùng tham gia giám sát công trình.
Nghiên cứu tiền khả thi.
Nghiên cứu tiền khả thi bao gồm: các bối cảnh chung về kinh tế, xã hội,
pháp luật có ảnh hưởng đến các dự án; nghiên cứu thị trường; nghiên cứu kỹ
hành.
Kiểm soát chi phí và lập các báo cáo tài chính: Về thực chất, đó là việc
thanh toán chi phí xây dựng cuối cùng với các nhà thầu và nhà thầu phụ.
1.4.2. c i m b o hi m TNNN KTS & KSTVĐặ để ả ể
1.4.2.1. i t ng b o hi m v i t ng tham gia b o hi mĐố ượ ả ể àđố ượ ả ể
Đối tượng bảo hiểm
Việc áp dụng chế độ bảo hiểm được thực hiện khi nào? Thông thường
trách nhiệm pháp lý phát sinh khi xuất hiện hành vi trái pháp luật của các cá
SV: Trần Hoàng Mai
16
Lớp: CQ48/03.02
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Hữu Hạnh
nhân hay tổ chức và các hành vi này là nguyên nhân gây thiệt hại cho bên thứ
ba. Như vậy, bảo hiểm được thực hiện chỉ khi có đủ ba điều kiện sau:
- Có thiệt hại thực tế của bên thứ ba;
- Có hành vi trái pháp luật của các cá nhân hay tổ chức
- Có quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của cá nhân hay tổ
chức và thiệt hại của bên thứ ba.
Đối tượng của BHTNNN KTS & KSTV là trách nhiệm pháp lý đối với
những tổn thất hoặc bất kỳ khiếu nại nào được lập ra để chống lại NĐBH
trong thời hạn hiệu lực của đơn bảo hiểm phát sinh từ những lỗi, thiếu sót
hoặc sự bất cẩn của NĐBH hoặc nhân viên của NĐBH trong khi thực hiện
công việc chuyên môn của mình.
Đối tượng tham gia bảo hiểm
Đối tượng tham gia bảo hiểm là các cá nhân, doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực xây dựng và kiến trúc, thực hiện công việc tư vấn, giám sát, lập
báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và khả thi…
BHTNNN KTS & KSTV được thiết kế cho những người thực hiện các
công việc lập kế hoạch, tư vấn, giám sát trong lĩnh vực xây dựng. Vì thế, các
KTS và kỹ sư xây dựng là những đối tượng chính thụ hưởng loại hình dịch vụ
1.4.2.3. Gi i h n trách nhi m b i th ng.ớ ạ ệ ồ ườ
BHTNNN KTS & KSTV được triển khai theo dự án và theo năm. Do đó,
giới hạn bồi thường tiêu chuẩn có thể là của từng dự án hoặc của nhiều dự án
trong một năm. Tại Việt Nam, giới hạn bồi thường tiêu chuẩn của BHTNNN
KTS & KSTV theo dự án là 2 tỷ đồng cho mỗi khiếu nại và 2 tỷ đồng tổng
cộng cho toàn bộ thời hạn bảo hiểm, còn của BHTNNN KTS & KSTV theo
năm là 2 tỷ đồng cho mỗi khiếu nại và 5 tỷ đồng tổng cộng cho cả thời hạn
bảo hiểm.
Người bảo hiểm đồng ý bồi thường cho NĐBH tới một giới hạn trách
nhiệm nhất định theo nguyên tắc sau:
Một là, tổng cộng tiền bồi thường không được vượt quá giới hạn bồi
SV: Trần Hoàng Mai
18
Lớp: CQ48/03.02
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Hữu Hạnh
thường. Giới hạn bồi thường được ghi rõ trong Giấy chứng nhận bảo hiểm
của Đơn bảo hiểm (gọi tắt sau đây là Giấy chứng nhận bảo hiểm) đối với bất
kỳ số tiền nào mà NĐBH có thể phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý thanh
toán phát sinh từ bất kỳ khiếu nại nào được lập chống lại NĐBH trong thời
hạn ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm là hậu quả trực tiếp của bất kỳ hành
động bất cẩn, sai sót hoặc thiếu sót nào (mà NĐBH mắc phải hoặc bị quy cho
là mắc phải trong thời hạn hợp đồng bảo hiểm và thời hạn hồi tố, nếu có)
trong khi NĐBH hoặc người làm thuê cho họ thực hiện các công việc đã được
xác định trong Giấy chứng nhận bảo hiểm.
Hai là, tổng cộng tiền bồi thường không vượt quá các chi phí và phí tổn
phát sinh được NBH chấp nhận bằng văn bản nhằm bào chữa và/hoặc giải
quyết bất kỳ khiếu nại nào. Tuy nhiên, trong trường hợp cần phải thanh toán
một số tiền cao hơn giới hạn bồi thường thưo Đơn bảo hiểm này để có một
khiếu nại nào đó từ bên thứ ba được hủy bỏ thì trách nhiệm của NBH đối với
các chi phí và phí tổn phát sinh như đề cập ở trên sẽ được tính theo tỷ lệ giữa
khiếu nại được bảo hiểm theo Đơn bảo hiểm này đối với khiếu nại mà theo
điều khoản này được xem là bao gồm tất cả các chi phí và phí tổn mà NBH đã
thanh toán nhằm điều tra và bào chữa khiếu nại, vượt quá mức khấu trừ tối
thiểu được nêu trong Giấy chứng nhận bảo hiểm mà NĐBH phải tự chịu. Đối
với các khiếu nại vượt quá mức khấu trừ tối thiểu, NĐBH sẽ tự chịu trách
nhiệm theo một tỷ lệ phần trăm được quy định rõ trong Giấy chứng nhận bảo
hiểm. Nếu bất kỳ chi phí nào NBH đã bỏ ra mà sau đó được xác định là nằm
trong mức khấu trừ mà NĐBH phải có trách nhiệm thanh toán như đề cập ở
trên thì NĐBH phải hoàn trả lại số tiền đó cho NBH ngay sau khi được yêu
cầu.
1.4.2.4. Phí b o hi mả ể
Phí bảo hiểm là số tiền mà người tham gia bảo hiểm phải trả cho nhà bảo
hiểm để đổi lấy sự bảo đảm trước rủi ro chuyển sang cho NBH. Khoản phí
SV: Trần Hoàng Mai
20
Lớp: CQ48/03.02