Cách thức xác định các tình tiết trong vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động - Pdf 26

A.PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lao động là một hoạt động quan trọng của con người, lao động tạo ra của
cải vật chất, các giá trị tinh thần cho xã hội. Lao động quyết định sự tồn tại và
phát triển của xã hội loài người. Với ý nghĩa và vai trò to lớn đó các quan hệ lao
động luôn là lĩnh vực được Đảng và Nhà nước ta quan tâm điều chỉnh bằng các
văn bản pháp luật.
Pháp luật về lao động điều chỉnh nhiều mặt, nhiều vấn đề và nhiều mối
quan hệ trong lao động, và vấn đề giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lao động từ
lâu cũng đã được quan tâm xây dựng. Tuy nhiên, trong tình hình kinh tế xã hội
hiện nay thì mảng pháp luật này đang bị xem nhẹ hơn so với mảng pháp luật về
giải quyết các tranh chấp lao động và các cuộc đình công.
Bộ Luật Lao động bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của
người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng
lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hoà và ổn định, góp
phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động trí óc và lao động chân
tay, của người quản lý lao động, nhằm đạt năng suất, chất lượng và tiến bộ xã
hội trong lao động, sản xuất, dịch vụ, hiệu quả trong sử dụng và quản lý lao
động, góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì sự nghiệp dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Nhưng thực tế hiện nay tình trạng vi phạm pháp luật lao động, đặc biệt là
đối với những người sử dụng lao động đã và đang diễn ra phổ biến. Bao gồm cả
các doanh nghiệp lớn và nhỏ. Hịên trạng này làm cho người lao động là người
bị thiệt thòi hơn cả, bởi người lao động chỉ có sức lực của mình để bán đi để
đảm bảo cuộc sống hàng ngày, vậy mà họ bị đuổi việc – đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động, cuộc sống khó khăn càng khó khăn hơn. Không dễ gì mà
pháp luật lao động của tất cả các nước trên thế giới đều bảo vệ và bênh vực cho
người lao động. Pháp luật lao động Việt Nam cũng vậy.
Trong công tác xét xử của toà án trong thời gian qua đối với các vụ án lao
động tăng nhanh, nhất là các vụ án về đơn phưong chấm dứt hợp đồng trái pháp
luật. “Cách thức xác định các tình tiết trong vụ án đơn phương chấm dứt hợp

Chương 1: Cơ sở lý luận chung của pháp luật về lao động và việc đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động
Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp đối với vấn đề xác định tình
tiết trong vụ án đơn phương chấm dứt Hợp đồn lao động.
Phần kết luận
2
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG VÀ VIỆC
ĐƠN PHUƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
1.1. Những khái niệm chung
- Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là hành vi của người chủ sử
dụng lao động không tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đối với người lao
động, mà các lý do để không tiếp tục thưc hiện hợp đồng lao động không được
quy định trong luật lao động. Bằng việc không cho người lao động tiếp tục làm
việc tại đơn vị của mình, thì người sử dụng lao động thường không thực hiện
hoặc thực hiện không đầy đủ các quyền lợi khi cho người lao động nghỉ việc.
- Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng
lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi
bên trong quan hệ lao động.
- Vụ án lao động: là việc toà án nơi có thẩm quyền (toà án nơi bị đơn có trụ
sở hoặc nơi đăng ký hoạt động) tiến hành thụ lý đơn khởi kiện về tranh chấp lao
động của người lao với người sử dụng lao động (hoặc ngược lại). Sau đó căn cứ
vào các quy định của pháp luật lao động và các quy định của pháp luật khác để
đưa ra phán quyết để xem hành vi của người đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động đúng hay sai so với quy định của luật lao động.
1.2. Các quy định của pháp luật
Hiện nay các quy định của pháp luật lao động chủ yếu nằm trong bộ luật
lao động, ngoài ra còn có các quan hệ khác có liên quan đến lao động như: quan
hệ học nghề, quan hệ bảo hiểm xã hội… Bộ luật lao động của nước ta lần đầu

o Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
o Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động và người sử dụng lao động;
về trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
o Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
o Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về lao động;
4
o Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp xuất
khẩu lao động.
- Tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao
động đã được Hội đồng trọng tài lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với
quyết định của Hội đồng trọng tài lao động, bao gồm:
o Về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu
nhập và các điều kiện lao động khác;
o Về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể;
o Về quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn.
- Các tranh chấp khác về lao động mà pháp luật có quy định.
1.3.2. Xác minh thu thập chứng cứ
Toà án tiên hành xác minh thu thập chứng cứ thông qua các đương sư tự
nộp cho toà và trong quá trình điều tra. Luật TTDS không quy định việc cơ quan
tiến hành tố tụng phải thu thập chứng cứ, mà các đương sự có nghĩa vụ cung cấp
chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Các đương sự cũng có quyền
làm đơn để yêu cẩu toà án thu thâp giúp chứng cứ khi tự mình không có kảh
năng thu thập chứng cứ
1.3.3. Căn cứ đơn phương chấm dứt lao động (nội dung pháp luật)
Khi thụ lý hay được phân công giải quyết một vụ án đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động, thẩm phán phải đối chiếu xem các căn cứ trong quyết
định cho ngưòi lao động nghỉ việc mà người sử dụng lao động dùng có hợp pháp
hay không. Bất kỳ việc cho người lao động nghỉ việc nào mà không dựa vào các

o Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động ”
Việc người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
với người lao động mà không căn cứ vào các quy định của pháp luật thì đều gọi
là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động .
Thực tế hiện nay, các doanh nghiệp đưa ra muôn vàn lý do để châm dứt
hợp đồng lao động với người lao động, như: đi làm muộn giờ làm từ 1 đến 2 lần,
không lễ phép với ban giám dốc…
6
1.3.4. Trình tự thủ tục cho người lao động nghỉ việc
Khi nghiên cứu vụ án lao động về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động thẩm phán phải đặc biệt chú ý đến về trình tự cho ngươiì lao động nghỉ
việc có bị vi phạm hay không. Muốn biết được căn cứ đó có hợp pháp hay
không, thẩm phán phải căn cứ vào các quy định của pháp luật. Cụ thể: Trước khi
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động , người sử dụng lao động phải trao đổi,
nhất trí với Ban chấp hành công đoàn cơ sở. Trong trường hợp không nhất trí,
hai bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Sau 30 ngày, kể từ
ngày báo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương biết, người sử
dụng lao động mới có quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định
của mình. Trường hợp không nhất trí với quyết định của người sử dụng lao
động, Ban chấp hành công đoàn cơ sở và người lao động có quyền yêu cầu giải
quyết tranh chấp lao động theo trình tự do pháp luật quy định.
Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động
phải báo cho người lao động biết trước:
o ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
o ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12
tháng đến 36 tháng;
o ít nhất ba ngày đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một
công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng
Việc thẩm phán, phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để đối chiếu
xem việc cho người lao động nghỉ việc là xuất phát vì thực tế hầu hết các doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status