MỘT SỐ KĨ NĂNG DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT NGÔN NGỮ TRONG LỚP HỌC HÒA NHẬP - Pdf 26

MỘT SỐ KĨ NĂNG DẠY TRẺ
KHUYẾT TẬT NGÔN NGỮ TRONG LỚP HỌC HÒA NHẬP
1- Nhận biết tật ngôn ngữ ở trẻ:
1.1- Khái niệm khuyết tật ngôn ngữ;
1.2- Tính chất của tật ngôn ngữ;
1.3 - Nhận biết tật ngôn ngữ ở trẻ;
- Nhận biết trẻ khó khăn về nói;
- Nhận biết trẻ khó khăn về đọc và viết;
1.4- Nguyên nhân gây ra khuyết tật ngôn ngữ
2- Một số kĩ năng cơ bản dạy học sinh khuyết tật ngôn ngữ;
2.1- Một số kĩ năng phát âm tiếng Việt;
2.2- Khắc phục nói lắp và rối loạn về giọng ở trẻ;
2.3- Luyện tập cấu âm cơ bản và sử dụng giao tiếp thay thế;
2.4- Hướng dẫn học đọc cho học sinh khó khăn về đọc và viết.
3- Áp dụng các kĩ năng dạy học đặc thù với học sinh khuyết tật ngôn ngữ ở
lớp học hòa nhập.
3.1- Xây dựng mục tiêu bài học cho lớp học hòa nhập học sinh KTNN;
3.2- Hướng dẫn cá biệt học sinh KTNN trong tiết học hòa nhập;
4- Hỗ trợ cá nhân học sinh KTNN;
4.1- Hỗ trợ của giáo viên;
4.2- Hỗ trợ của bạn bè;
4.3- Hỗ trợ của gia đình.
5- Đánh giá kết quả giáo dục học sinh KTNN
5.1- Xác định các lĩnh vực đánh giá
5.2- Xây dựng công cụ và thực hiện điều chỉnh trong đánh giá
5.3- Ghi chép và lưu hồ sơ đánh giá học sinh KTNN
- 1 -
MỘT SỐ KĨ NĂNG DẠY TRẺ
KHUYẾT TẬT NGÔN NGỮ TRONG LỚP HỌC HÒA NHẬP
1- Nhận biết tật ngôn ngữ ở trẻ:
1.1- Khái niệm:

đây đã hiểu tốt
+ Không thể nói được hoặc nói kém mặc dù trước đây đã nói được tốt;
+ Khiếm khuyết ngôn ngữ biểu hiện cả ở ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp.
1.3.2- Không có ngôn ngữ (không nói được)
- Là những trẻ chưa bao giờ có ngôn ngữ. Trong quá trình phát triển cơ thể, các
em không có quá trình tập nói và phát triển ngôn ngữ.
Trẻ thường có biểu hiện sau:
+ Không hiểu hay hiểu rất ít ngôn ngữ khi nghe người khác nói;
+ Không biết hoặc nói được rất ít so với trẻ cùng độ tuổi;
+ Hiểu ít, nói ít hoặc không nói.
1.3.3- Nói lắp
- 2 -
- Trẻ nói lắp là trẻ khi nói thướng lặp đi lặp lại nhiều lần một âm, một từ hay
một cụm từ nào đó hoặc có những quãng cách, những chỗ ngắt nghỉ, giật vô cớ trong
chuỗi lời nói.
Nói lắp biểu hiện ở 2 thể sau:
+ Nói lắp giật rung: Hiện tượng lặp đi lặp lại nhiều lần1 âm, từ,hay chuỗi lời
nói. Chủ yếu do rối loạn về âm điệu, nhịp điệu và tính lưu loát của lời nói.
Ví dụ: Tên em là là Tuấn, hay: tên em …tên em là Tuấn;
+ Nói lắp co thắt: Là hiện tượng co cứng khi nói, người nói khó chuyển từ âm
này sang âm khác. Từ đó, tạo ra chỗ nghỉ hay giật kéo dài vô cớ trong lời nói.
Ví dụ: Tên em là Tuấn.
Có những trường hợp nói lắp thể hiện ở tổng hợp cả hai thể trên. Thực tế trẻ nói
lắp thường ở mức độ nhẹ, chỉ làm giảm khả năng biểu đạt của lời nói, kìm hãm tốc độ
nói. Với mức độ này việc sửa chữa khiếm khuyết ngôn ngữ cho trẻ để đạt hiệu quả.
Cũng có những trường hợp nặng, những cơn giật hoặc rung kéo dài, gây hiện tượng co
cứng bộ phận phát âm, việc sửa chữa rất phức tạp, trong thời gian dài.
1.3.4- Nói khó
Là những trẻ khi phát âm rất khó khăn, nước dãi chảy nhiều, liên tục và các bộ
phận phát âm (Môi, hàm, lưỡi,…) bị cơ cứng, có khi còn kéo theo cả sự co cứng ở khu

- 3 -
phân tích các âm và vần, nhầm lẫn các chữ cái đối xứng nhau (ví dụ: b và d); đọc
chậm và sai đáng kể so với các trẻ khác cùng học; kèm theo khó đọc là khó viết. Khó
khăn về đọc và viết độc lập với khả năng trí tuệ, có thể gặp ở trẻ với các mức độ IQ
(chỉ số thông minh) khác nhau.
Để kiểm tra khả năng phát âm của trẻ khó khăn về nói, cần xây dựng và sử dụng
bảng từ thử. Từ thử phải là từ chứa âm vị cần kiểm tra và thuộc vốn từ quen thuộc với
trẻ. Đối với những em chưa biết đọc, cần dùng vật thật hoặc tranh minh họa cho mỗi từ
thử để kiểm tra
Ví dụ: Bảng từ thử để kiểm tra chất lượng phát âm theo mẫu
Phụ âm đầu Từ thử Có Mất Sai
(Thành âm gì)
b bà, Bố, cái
bàn, Bút bi
m Quả me, quả
mơ, mít mật
ph Phở, phim,
phong lan
Đối với trẻ khó khăn về đọc và viết, sử dụng bài đọc trẻ chưa học để kiểm tra
tốc độ đọc thành tiếng, số lỗi sai mắc phải và khả năng hiểu văn bản vừa đọc của trẻ;
đồng thời kiểm tra thêm khả năng viết và mẫu chữ viết của trẻ.
Trong khó khăn về đọc và viết thì khó khăn về viết là hệ quả của khó khăn về
đọc. Việc xác định khó khăn về đọc và viết cần tập trung trước tiên vào các tiêu chí về
kĩ năng đọc.
3 tiêu chí để xác định khó khăn về đọc và viết gồm: 1) Tốc độ đọc thành tiếng
chậm dưới mức trung bình một cách đáng kể; 2) Mắc nhiều lỗi sai khi đọc; và 3) Hiểu
rất ít nội dung vừa đọc. Ngoài ra, cần kiểm tra thêm về khả năng viết và mẫu chữ viết
của trẻ.
CHUẨN TỐC ĐỘ ĐỌC THÀNH TIẾNG
CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC

bình thường; Nếu trong quá trình sinh không bình thường, như thiếu tháng, ngôi
ngược, bị ngạt, phát can thiệp bằng dạng cụ y tế làm cho iếng nói của trẻ kém phát
triển.
- Sự phát triển không bình thường về cơ thể và các giác quan: Hệ thần kinh
trung ương bị tổn thương hoặc kém phát triển, bị suy tim, các giác quan không bình
thường (môi, răng, hàm, lưỡi,…) có khiếm khuyết cũng dẫn tới tiếng nói của trẻ không
bình thường.
2- Một số kĩ năng cơ bản dạy học sinh khuyết tật ngôn ngữ
2.1- Một số kĩ năng phát âm tiếng Việt;
2.1.1- Mô tả âm vị tiếng Việt:
Mô tả âm vị tiếng Việt tức là giúp trẻ hình dung và nhận biết âm vị đó biểu
hiện như thế nào, có thể nhận biết bằng những cách nào. 3 giác quan có thể giúp nhận
biết âm vị là thính giác, thị giác, xúc giác. Mô tả âm vị tiếng Việt là chỉ ra âm vị đó khi
phát âm nghe như thế nào, nhìn thấy gì và nhận biết bằng xúc giác ra sao
Ví dụ: Phát âm m
+ Nghe thấy một âm trầm, có giọng (âm hữu thanh);
+ Nhìn thấy hai môi khép rồi mở ra, một phần hơi thoát ra ngoài qua khoang
mũi.
+ Sờ vào cổ thấy dây thanh rung, sờ vào cánh mũi thấy rung, để một ngón tay
trước mũi thấy có luồng hơi ấm đi ra.
Các âm vị tiếng Việt bao gồm các nguyên âm, phụ âm và thanh điệu.
- Có 6 thanh điệu: Không (bằng), huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng;
- Tiếng Việt có 16 nguyên âm, gồm: 9 nguyên âm đơn dài (i, ê, e, ý, ừ, a, u, ô,
o), 03 nguyên âm đôi (iê, ươ, uô) và 4 nguyên âm đơn ngắn (a ngắn, ừ ngắn, o ngắn, e
ngắn);
- Tiếng Việt có 23 phụ âm, gồm:
+ Các phụ âm môi –môi và môi – răng: p, b, m, ph, v.
+ Các phụ âm đầu lưỡi – lợi trên (chân răng hàm trên): th, t, đ, n, x, d, l.
+ Các phụ âm quặt lưỡi – lợi: tr, s, r.
+ Các phụ âm mặt lưỡi – ngạc cứng: ch, nh.

Chú ý: Những trẻ bị tổn thương cơ quan phát âm (ví dụ, sứt môi, hở hàm ếch,
liệt dây thanh, ) thì cần được can thiệp y tế (phẫu thuật/chữa trị) trước khi có thể sửa
lỗi phát âm cho các em.
2.2- Khắc phục nói lắp và rối loạn về giọng ở trẻ;
2.2.1- Khắc phục hiện tượng nói lắp
- Nói lắp là một dạng mất lưu loát lời nói, với các mức độ khác nhau. Mất lưu
loát từ 10% số từ nói ra thì bắt đầu được phát hiện như một dạng khó khăn về nói.
Có các kiểu nói lắp khác nhau như: Lặp âm, lặp tiếng hoặc lặp từ, lặp cấu trúc,
tắc nghẽn. Có 3 mức độ nói lắp cơ bản: 1) nhẹ, 2) vừa, và 3) nặng.
* Các mức độ nói lắp:
Mức độ Biểu hiện
Mất lưu loát thông
thường
Cứ 100 từ thì có ít hơn 10 từ mất lưu loát. Hiện tượng
nói lắp diễn ra không thường xuyên, không kèm theo các
hành vi căng thẳng và gắng sức khi nói.
Nói lắp mức nhẹ
Mất lưu loát từ 10% thời gian nói trở lên, nhưng chưa có
hiện tượng tắc nghẽn, căng cứng cơ quan phát âm khi
nói.
Nói lắp mức vừa
Có sự tắc nghẽn khi phát âm nhưng vẫn nghe được một
phần, sau khoảng tắc nghẽn có nhắc lại và tiếp tục phát
âm kéo dài
Nói lắp nặng
Dừng hẳn phát âm trong khoảng tắc nghẽn, có hiện căng
và rung giật; cảm giác giận dữ hoặc thất vọng lộ rõ.
* Những tình huống gây hiện tượng nói lắp:
- 6 -
- Không được người khác lắng nghe: khi trẻ nói nhưng không dành được sự

trẻ cũng cần một mẫu nhịp điệu lời nói thích hợp.
3) Giảm bớt sự cạnh tranh về cơ hội trình bày ở trong lớp. Tạo cơ hội để mọi
trẻ đều có dịp luân phiên trình bày ý kiến (ví dụ, học hợp tác theo nhóm hoặc trao đổi
chung nhưng theo vòng tròn có sự luân phiên trình bày);
4) Giảm áp lực trong trình bày, trả lời câu hỏi. Ví dụ số lượng câu hỏi đối với
trẻ, tránh các câu hỏi lục vấn kiểu “tại sao ?” ngay khi trẻ bộc lộ sự lúng túng, gọi
trình bày khi trẻ xung phong, cho phép trẻ có đủ thời gian trả lời câu hỏi;
5) Chỉ ra và đánh giá tích cực những mặt mạnh và sự đóng góp của trẻ nói lắp,
giúp các em cảm thấy tự tin.
6) Giữ liên hệ bằng ánh mắt một cách bình thường và tự nhiên, cố gắng không
lúng túng, lo lắng hoặc nóng vội, khuyến khích trẻ nhìn vào người đang trao đổi với
mình;
7) Diễn đạt lại những gì trẻ vừa nói để giúp trẻ có thông tin ngược và có mẫu
về cách diễn đạt ý kiến, suy nghĩ;
8) Nếu nhận thấy trẻ đang trong trạng thái tâm lí bất lợi như sợ hãi, bất lực, giân
dữ, thất vọng, thì giảm thiểu những yêu cầu đòi hỏi trả lời miệng, thay vào đó yêu
- 7 -
cầu trẻ viết. Nếu tình huống bắt buộc phải sử dụng câu hỏi và trả lời miệng thì nên sử
dụng câu hỏi với trả lời ngắn; Chẳng hạn dạng câu hỏi đúng hay sai?, phải hay không
phải?, bao giờ ? bao nhiêu ?,
9) Không khiển trách hay ám chỉ tật nói lắp của học sinh. Hãy nghĩ và để cho
trẻ nghĩ mình bình thường.
Với các biện pháp hạn chế những bất lợi tâm lí đối vơí trẻ nói lắp như được nêu
trên, qua một thời gian trẻ giữ và xây dựng được sự tự tin, học được các mẫu diện đạt
tốt thì hiện tượng mất lưu loát ở đa số các trường hợp sẽ tự giảm hoặc mất. Tuy nhiên
một số trẻ nói lắp nặng vẫn cần những biện pháp sửa tật dành cho cá nhân trẻ.
Có hai cách sửa tật nói lắp thường được áp dụng là:
1) Luyện tập điều chỉnh tốc độ nói: Người hướng dẫn và trẻ sử dụng băng ghi
âm, ghi lại thực tế lời nói của trẻ ở các trình huống khác nhau; yêu cầu trẻ tập nói với
tốc độ chậm, ban đùa ở mức 50 âm tiết/phút, kết hợp luyện tập và luyện hơi, thể dục

- 8 -
2.2- trả lời câu hỏi của cô giáo
2.3- Nói với bạn
2.4- Nói chuyện với người lạ
2.5- Có sự giận dữ
2.6- Có sự thất vọng, buồn chán
2.7- Có cảm giác sợ hãi
2.8 Có cảm giác xấu hổ hoặc thiếu tự tin
2.9- Tình huống khác
3- Kiểu nói lắp của trẻ
3.1- Lặp lại âm (ví dụ; e –e- em th- th-th- thấy )
3.2- Lặp lại tiếng, từ (ví dụ: em em em thấy…)
3.3- Lặp lại một ngữ hoặc cấu trúc (ví dụ: thế thì
là, thế thì là thế là )
3.4- Đang nói thì tắc nghẽn, không phát ra tiếng
3.5- Kiểu khác
4- Mức độ nói lắp
4.1- Mất lưu loát dưới 10% số từ đươc nói ra
4.2 Mất lưu loát từ 10% -30% số từ được nói ra
nhưng không có sự tắc nghẽn, nuốt âm
4.3- Mất lưu loát trên 30%, có sự tắc nghẽn trong
khoảnh khắc rồi lại tiếp tục nói được
4.4- Có sự tắc nghẽn, dừng nói và căng cứng, rung
giật ở cơ quan phát âm
5- Biện pháp hạn chế nói lắp đã áp dụng
5.1- Mức độ khác
5.2- Tránh các tình huống bất lợi về tâm lí khi trẻ nói
ở gia đình
5.3- Luyện tập cá nhân điều chỉnh tốc độ nói
5.4- Luyện tập cá nhân kiểu nói theo hành động

kiện cơ bản. Nhiều trẻ khó khăn về nói ở dạng nói khó hoặc mất tiếng nói cần được
hướng dẫn luyện hơi và/ hoặc luyện tập cơ quan phát âm. Đây là hai nội dung quan
trọng của luyện hơi cấu âm cơ bản;
Một số trẻ khuyết tật ngôn ngữ ở dạng không nói được hoặc mất ngôn ngữ cần
được sử dụng các phương tiện giao tiếp thay thế lời nói. Đó là các phương tiện phi lời
nói như tranh, biểu tượng, chữ cái ngón tay, cử chỉ điệu bộ, và ngôn ngữ kí hiệu.
2.3.1- Hướng dẫn luyện hơi
Sơ lược về cấu tạo và hoạt động của bộ máy phát âm:
+ Bộ máy phát âm của con người là điều kiện sinh học cho việc tạo ra lời nói.
Hiểu cấu tạo và hoạt động của bộ máy cơ quan phát âm giúp chúng ta hiểu được cơ
chế tạo thành lời nói, những sai lệch và biện pháp luyện tập phù hợp để khắc phục
những hạn chế đó;
+ Bộ máy phát âm bao gồm: 1) Phổi và hệ thống cơ hoành và khí quản; 2)
Thanh quản và dây thanh; và 3) Khoang miệng (với các bộ phận cấu âm quan trọng
như môi, răng, lưỡi, ngạc cứng, ngạc mềm) và khoang mũi;
SƠ ĐỒ CẤU TẠO
CƠ QUAN PHÁT ÂM
1. Môi (1a môi trên, 1b môi dưới);
2. Lưỡi (2a đầu lưỡi, 2b mặt lưỡi, 2c
gốc lưỡi)
3. Răng (3a hàm trên, 3b hàm dưới)
4. Ngạc (4a ngạc cứng, 4b ngạc mềm)
A. Khoang miệng
B. Khoang mũi
C. Thanh quản
- 10 -
Sự “va đập” của luồng khí đi ra từ phổi với dây thanh, các bộ phận ở khoang
miệng và khoang mũi đã tạo nên âm thanh. Việc đảm bảo sử dụng luồng khí đi ra từ
phổi như thế nào để tạo được âm thanh lời nói như mong đợi luôn là vấn đề với nhiều
trẻ khó khăn về nói. Thực tế cho thấy đa số trẻ khó khăn về nói có lượng khí vào phổi

động mềm mại, linh hoạt tọa cơ sở cho việc cấu tạo âm vị, âm tiết. Các động tác luyện
tập bao gồm các bài thể dục môi, răng, hàm dưới, lưỡi, ngạc mềm, cơ quan thanh hầu,
…Các bài luyện tập cơ quan cấu âm cũng không nên kéo dài, mà chỉ nên thực hiện
trong vòng từ 5 đến 10 phút mỗi buổi, lâu hơn sẽ gây mệt mỏi cho trẻ và ít hiệu quả.
+ Luyện tập môi: Chu – nhành – mím.
+Luyện tập hàm: Đưa hàm sang phải – sang trái; há miệng – ngậm miệng.
+ Luyện lưỡi: Đưa lưỡi lên (Phía môi) trên – xuống dưới – sang phải – sang trái
– ra trước – lùi (co) lại sau; nâng cao – hạ thập đầu – mặt – gốc lưỡi
+ Các động tác kết hợp: Khép môi thở cho căng má, há miệng kêu a – a –a –a –
a-…thổi kèn (thật), bắt chước một số tiếng con vật kêu: gâu – gâu – gâu -…, tiếng còi
tầu hỏa: tu - tu – tu-…
2.3.3- Hướng dẫn sử dụng các phương tiện giao tiếp thay thế lời nói
- 11 -
Với những trẻ không nói được, chúng ta có thể làm và hướng dẫn trẻ sử dụng
sách và biểu tượng thay thế lời nói, hoặc có thể học sử dụng kí hiệu cử chỉ điệu bộ;
Những trẻ không nói được, đồng thời có khó khăn về vận động tay thì cần sử
dụng sách tranh và biểu tượng. 3 dạng sách tranh và biểu tượng chính cần làm và sử
dụng là: 1) Sách tranh/biểu tượng thể hiện các cặp từ đối lập hay dùng (ví dụ,
đúng/sai, trên/dưới, trước/sau,…; 2) Sách tranh/biểu tượng thể hiện các cụm từ/ngữ
và các câu htường dùng; và 3) Sách tranh/biểu tượng theo chủ đề giao tiếp phổ biến.
Với những trẻ không nói được nhưng có vận động tay và nét mặt linh hoạt thì
có thể học sử dụng các kí hiệu cử chỉ điệu bộ bao gồm: 1) Chữ cái ngón tay; 2) Chữ
số và các phép tính; 3) Các kí hiệu theo chủ đề
2.4- Sử dụng âm tiết trung gian
2.4.1- Phương pháp âm tiết trung gian
Phương pháp âm tiết trung gian (PP sửa lỗi phát âm bằng âm tiết trung
gian) được sử dụng có hiệu quả ở vùng phương ngữ Bắc bộ, sửa các lỗi phát âm âm
đêm, các nguyên âm đôi (iê, ươ, uô), một số âm cuối (-i; -u, -n, -ng) và các thanh gãy
(hỏi, ngã)
Trong phương pháp này người ta sử dụng một âm tiết trung gian mà trẻ

Bước 5: Phát âm nhanh nối liền hai âm tiết để tạo thành một âm tiết gốc
ở một lần bật hơi
Với tiếng hoa: Hu…… a…… = hoa
Với tiếng huệ: Hụ……. ệ…… = huệ
2.4.3- Sửa lỗi phát âm nguyên âm đôi
Lỗi thường gặp khi phát âm nguyên âm đôi là học sinh biến nguyên âm
đôi thành nguyên âm kéo dài. Nguyên âm đôi, chẳng hạn iê, được phát âm thành I
hoặc ê. Ví dụ: tiền thành tìn hoặc tền;
Các bước sửa lỗi phát âm nguyên âm đôi theo phương pháp âm tiết trung
gian cũng theo các bước như ở sửa lỗi phát âm âm đệm. Chẳng hạn, nếu 1 trẻ phát âm
tiền thành tìn thì các bước sửa lỗi như sau:
Bước 1: Xác định lỗi phát âm sai trẻ:
Trẻ đã phát âm nguyên âm đôi iê thành nguyên âm đơn dài i
Bước 2: Lập âm tiết trung gian: Tiền = tì + ền
Bước 3: Phát âm tách bạch từng âm tiết
tì + ền
Bước 4: Phát âm kéo dài, vẫn tách bạch từng âm tiết và nhanh dần
tì……+ ền…
Bước 5: Phát âm nhanh nối liền hai âm tiết để tạo thành một âm tiết gốc
ở một lần bật hơi
Tì……ền……= tiền
2.4.4- Sửa lỗi phát âm một số âm cuối
Có thể sử dụng âm tiết trung gian để sửa lỗi phát âm một số âm cuối
như: -i,-u,-m,-n,-ng. Các âm này đặc tính là có thể ngân dài khi phát âm.
Nếu trẻ không phát âm được các âm m, n, ng ở vị trí âm cuối những lại phát âm
được các âm này khi chúng đóng vai trò âm đầu, hoặc trẻ không phát âm được âm i, u
ở vị trí âm cuối song lại vẫn phát âm đúng các âm này ở dạng nguyên âm đơn kéo dài,
thì có thể sử dụng phương pháp âm tiết trung gian để sửa lỗi cho các em
Ví dụ: Có trẻ phát âm tiếng chim thành chi, nghĩa là mất âm cuối –m, trong khi
vẫn phát âm được tiếng mơ, tức là không phát âm sai âm m ở vị trí phụ âm đầu. Trong

Với tiếng tủ: tủ = tù + ú;
Với tiếng mũ = mụ + ú
Bước 4: Phát âm kéo dài, vẫn tách bạch từng âm tiết và nhanh dần
Với tiếng tủ: tù… … + ú… ;
Với tiếng mũ: mụ …….+ ú…
Bước 5: Phát âm nhanh nối liền hai âm tiết để tạo thành một âm tiết gốc ở một
lần bật hơi
tù… … ú… = tủ;
mụ …… ú… = mũ
2.5- Hướng dẫn học đọc cho học sinh khó khăn về đọc và viết.
Nhiều trẻ mặc dù không bị khuyết tật trí tuệ hoặc các khuyết tật về giác quan,
song lại gặp rất nhiều khó khăn khi học đọc. Trong khi nhận được hướng dẫn như mọi
trẻ khác, đi học đều, sách vở đầy đủ,…Song đến cuối lớp 1 vẫn không biết đọc. Lên
lớp trên các em này cũng thường đọc rất chậm (ví dụ lớp 3 khi đọc vẫn phải đánh vần),
viết sai nhiều lỗi chính tả, khó hoặc không viết được bài chính tả nghe đọc và bài tập
làm văn. Các trẻ này được coi là khó khăn về đọc (và những khó khăn về viết đã đề
cập là hệ quả). Các em này cần được hướng dẫn học theo cách phù hợp với đặc điểm
cá nhân.
Có hai cách tiếp cận dạy học chính: Tiếp cận âm hay mô hình dạy học từ chi
tiết đến tổng thể và tiếp cận nghĩa hay mô hình dạy đọc từ tổng thể đến chi tiết.
Phương pháp lời nói tự nhiên, theo tiếp cận nghĩa, sử dụng lời nói của chính
đứa trẻ khó khăn về đọc và viết để dạy các em đọc. Quy trình của phương pháp này
gồm 4 bước:
>Bước 1: Hiểu và nói tự nhiên (Trẻ nói về chủ đề mà mình thích);
>Bước 2: Viết và đọc (hướng dẫn trẻ viết và đọc lại câu mình vừa nói);
>Bước 3: Phân tích (gồm 2 mức độ: 1) phân tích đến tiếng, còn gọi là phân
tích mức 1; và 2) phân tích đến âm, vần và thanh điệu, còn gọi là phân tích mức 2);
+ Phân tích mức 1: yêu cầu trẻ chỉ đúng tiếng đích định dạy
+ Phân tích mức 2: Yêu cầu trẻ chỉ đúng âm đầu hoặc vần hoặc thanh điệu
“đích” định dạy.

b) Tiếp cận nghĩa
Mô hình dạy đọc “từ tổng thể đến chi tiết” hay còn gọi là tiếp cận nghĩa, trái lại,
lấy kinh nghiệm ngôn ngữ và sự hiểu biết về thế giới xung quanh cũng như năng nhận
thức của người học làm xuất phát điểm để dạy đọc
Đứng trước một bài đọc, trẻ có thể đưa ra sự suy đoán những nhận định và giả
thuyết về nội dung bài đọc dựa trên vốn kinh nghiệm ngôn ngữ và sự hiểu biết của
mình. Chẳng hạn một đứa trẻ dù chưa biết chữ cũng có thể đoán nội dung hoặc đọc
trôi chảy một đoạn quảng cáo ở một vị trí quen thuộc nào đó. Sau khi đưa ra các giải
thuyết nội dung bài đọc, trẻ sẽ được hướng dẫn phân tích bài đọc thành các đơn vị nhỏ
hơn.
Tiếp cận dạy học từ tổng thể đến chi tiết cho chúng ta một gợi ý rằng việc học
đọc không chỉ diễn ra theo một con đươcngf duy nhất mà có thể có những cách khác
nhau để hướng dẫn trẻ em học đọc.
2.5.2- Dạy đọc bằng phương pháp lời nói tự nhiên
Là phương pháp dạy đọc được xây dựng trên tiếp cận nghĩa. Cơ sở của phương
pháp này là: Dạy trẻ học đọc bắt đầu từ thế mạnh. Trẻ khó khăn về đọc và viết vẫn có
hiểu biết và kinh nghiệm sống phong phú như mọi trẻ khác, có khả năng nói và hiểu
lời nói bình thường. Quy trình trong phương pháp này là:
HIỂU => NÓI => VIẾT => ĐỌC => PHÂN TÍCH => TỔNG HỢP MỚI
Bước 1: Hiểu và nói tự nhiên: trong bước này, trẻ và người hướng dẫn nói
chuyện tự nhiên về một chủ đề mà trẻ hiểu và quan tâm.
Bước 2: Viết và đọc
- 15 -
Người hướng dẫn chợt tóm lấy một câu trẻ nói, yêu cầu trẻ nhắc lại câu đó, và
có thể hỏi lại để chắc chắn rằng trẻ đã hiểu mình đang nói gì. Sau đó hướng hướng dẫn
viết câu đó ra giấy/lên bảng, yêu cầu trẻ chép lại câu này vòa vở. Người hướng dẫn
đọc và yêu cầu trẻ đọc lại câu đó.
Bước 3: Phân tích
Phân tích đến tiếng (phân tích bước 1): yêu cầu trẻ chỉ đúng tiếng bất kì trong
câu vừa viết theo yêu cầu của người hướng dẫn.

và không nên hướng dẫn quá 3 đơn vị mới. Việc kéo dài thời gian buổi hướng dẫn đến
hơn 1 giờ và dạy nhiều hơn 3 đơn vị mới mỗi buổi sẽ khiến trẻ mệt mỏi và khó nhớ;
Người hướng dẫn cần ghi nhật kí các buổi hỗ trợ cá nhân trẻ. Trong nhật kí ghi
rõ ngày, tháng thực hiện hướng dẫn, nội dung hướng dẫn đọc, gồm: câu ứng dụng,
tiếng đích (đối với trẻ có khả năng phân tích mức 1), âm hoặc vần hoặc thanh điệu
đích (đối với trẻ có khả năng phân tích ngữ âm mức 2), các từ ứng dụng chứa tiếng
hoặc âm (hoặc vần hoặc thanh) đích.
3- Áp dụng các kĩ năng dạy học đặc thù với học sinh khuyết tật ngôn ngữ ở
lớp học hòa nhập.
- 16 -
Ở lớp học hòa nhập, trẻ khuyết tật ngôn ngữ là một thành viên bình đẳng như
mọi trẻ. Yêu cầu đặt ra là trong tiến trình bài học ở lớp hòa nhập làm thế nào để trẻ
khuyết tật ngôn ngữ nhận được sự hỗ trợ cá biệt, nhằm khắc phục khó khăn đặc thù
của bản thân, đồng thời, sự hỗ trợ riêng đó không làm ảnh hướng đến các trẻ khác ở
trong lớp. Để đạt được sự hài hòa đó, từ khâu thiết kế bài học (soạn bài) đến các tình
huống hướng dẫn cá biệt ở trên lớp phải được cân nhắc và thực hiện một cách hợp lý
3.1- Xây dựng mục tiêu bài học cho lớp học hòa nhập học sinh KTNN
- GV Phải mô tả đươc điểm mạnh và khó khăn của trẻ KTNN: Việc hình dung
và mô tả được đặc điểm về điểm mạnh và khó khăn của trẻ KTNN trước khi thiết kế
bài học là hết sức cần thiết. Điều này giúp giáo viên có cơ sở để thiết kế mục tiêu và
các hoạt động hướng dẫn cá biệt phù hợp với trẻ.
- Tích hợp mục tiêu hướng dẫn kĩ năng đặc thù trong mục tiêu bài học ở lớp
học hòa nhập trẻ KTNN: Mục tiêu hướng dẫn kĩ năng đặc thù cho trẻ KTNN cần được
tích hợp trong mục tiêu mỗi bài học
Ví dụ:
Trường hợp1: em Nguyễn thị X,
học sinh lớp 1A, sứt môi và hở vòm đã
phẫu thuật.
+ Điểm mạnh: Thích đi học, lực học trung
bình ở hầu hết các môn, viết dúng, dược

- Đọc đúng các từ ứng dụng và câu ứng
dụng
- Nói tự nhiên theo chủ đề: con ngoan, trò
giỏi
Mục tiêu riêng: Em X có khả năng:
- Đạt được mục tiêu chung
- Phát âm đúng âm “ph” trong từ “phiếu
bé ngoan”
- Phát âm được một số tiếng ngoài bài có
âm “ph”.
- 17 -
Học sinh A học bài “Con chuồn chuồn nước” – SGK – Tiếng Việt 4
Mục tiêu chung: Sau khi học bài này học
sinh lớp 4A có khả năng:
- Đọc lưu loát diến cảm toàn bài tập đọc.
- Trả lời được 4 câu hỏi tìm hiểu
tr128/SGK
- Nêu được nội dung và thể loại văn bản
của bài tập đọc
Mục tiêu riêng: Em A có khả năng:
- Đọc lại theo cô và/hoặc các bạn một
đoạn của bài;
- Đọc trơn tiếng chứa vần uôn, uyêt;
- Tham gia trả lời 4 câu hỏi tìm hiểu bài
và nêu được nội dung bài.
3.2- Hướng dẫn cá biệt học sinh KTNN trong tiết học hòa nhập
Quá trình thiết kế và thực hiện hướng dẫn kỹ năng đặc thù trẻ khuyết tật ngôn
ngữ trong tiết học hòa nhập cần phải được cân nhắc, chuẩn bị và thực hiện một cách
linh hoạt;
Chẳng hạn: Để hướng dẫn học sinh X, lớp 1A phát âm đúng âm “ph”, trong bài

- 18 -
- Kiểm tra luồng hơi từ phổi đi ra theo cácđặc điểm: Độ mạnh – yếu; dài –
ngắn, khả năng điều khiển luồng hơi theo ý muốn;
- Quan sát cấu tạo và vận động của môi xem có bình thường hay không, đặc
biệt là sự linh hoạt của môi trong các vận động chu – nhành –mím
- Cấu tạo và độ linh hoạt của lưỡi trong các vận động: nâng lên- hạ xuống, đưa
sang phải – sang trái, đưa ra trước – đưa ra sau;
- Vận động của hàm: Mở rộng miệng và vận động sang hai bên;
- Vận động của ngạc mềm (lưỡi gà): Điều khiển lưỡi gà nâng lên, hạ xuống
(qua điều khiển luồng hơi: chỉ ra đằng mũi, chỉ ra đằng miệng, vừa ra mũi, vừa
miệng);
- Phát âm ra âm thanh và phát không ra âm thanh để kiểm tra hoạt động của dây
thanh.
2) Kiểm tra thực trạng ngôn ngữ
- Kiểm tra thực trạng ngôn ngữ nói: Kiểm tra chất lượng phát âm qua độ lưu
loát của lời nói và sự phát âm đúng các âm vị tiếng Việt trong âm tiết.
- Kiểm tra thực trạng ngôn ngữ viết: Kiểm tra tốc độ đọc thành tiếng; kiểm tra
khả năng hiểu văn bản vừa đọc, kiểm tra vở ghi, các bài làm văn
4.2- Hỗ trợ của bạn bè
Bạn bè trong lớp có thể tham gia tích cực vào việc giúp đỡ học sinh khuyết tật
và khắc phục khó khăn đặc thù ở lớp và ở nhà
Giáo viên cần hướng dẫn và tạo cơ hội để học sinh được giúp đỡ lẫn nhau và
giúp trẻ khuyết tật ngôn ngữ học tập và khắc phục khó khăn đặc thù
4.3- Hỗ trợ của gia đình.
Phụ huynh đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cá nhân trẻ KTNN học tập
và cách khắc phục khó khăn đặc thù thời gian ở nhà. Họ cũng là người cung cấp thông
tin và tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân cho
con em mình
Giáo viên tư vấn hỗ trợ gia đình trẻ phương pháp hướng dẫn trẻ học tập và khắc
phục khó khăn đặc thù.

thay thế; 4) Đo tốc độ đọc,
Nhiều trẻ khuyết tật ngôn ngữ cần được điều chỉnh trong đánh giá học lực. Có
thể điều chỉnh mức độ (giảm độ khó) hoặc hình thức kiểm tra trẻ (trả lời miệng, trắc
nghiệm, ).
Công cụ sàng lọc trẻ khuyết tật ngôn ngữ
I- Thông tin chung:
Họ tên:
Ngày sinh, Học lớp, trường:
Địa chỉ gia đình:
Dạng khó khăn:
II. Thực trạng học sinh
1. Bộ máy phát âm
- Môi; Răng; lưỡi; Vòm họng; ngạc mềm (lưỡi con)
2. Khả năng nói và giao tiếp
- Phát âm:
+ Âm đầu
+ Âm đệm
+ Âm chính
+ Âm cuối
+ Thanh điệu
- Vốn từ: nghèo nàn, bình thờng, phong phú
- Ngữ pháp: câu đủ thành phần hay câu què cụt, sai quy tắc
- Giao tiếp: tự tin hay nhút nhát, rụt rè
3. Khả năng đọc, viết
3.1. Đọc
Tốc độ đọc: tiếng/phút
Độ chính xác
Khả năng hiểu:
3.2. Viết
- Sản phẩm (mẫu chữ viết)

thì trẻ khó khăn về nói được yêu cầu làm trên bảng bài tập về nhà
Kiểm tra/ thi bằng trắc nghiệm khách quan: Bài kiểm tra/thi dưới hình thức trắc
nghiệm khách quan, có sự kết hợp giữa phần lớn các câu hỏi lựa chọn và số ít câu hỏi
mở, cho phép kiểm tra kiến thức, kĩ năng của trẻ theo chiều rộng của chương trình (do
có nhiều câu hỏi đóng) và cả kĩ năng suy luận của trẻ (qua câu hỏi mở). Hình thức trắc
nghiệm khách quan với hai loại câu hỏi như vậy sẽ rất có lợi cho các em khó khăn về
đọc-viết.
Ra đề riêng: Trong trường hợp trẻ KTNN có kèm theo các tật khác và/hoặc gặp
khó khăn đáng kể trong học tập, không thể đạt được chuẩn kiến thức và kĩ năng ở mức
tối thiểu có thể sử dụng đề kiểm tra và thi riêng, với y/c khác với trẻ cùng lớp. Điều
đáng chú ý là, nếu trẻ KTNN được đánh giá kết quả học tập riêng thì các kết quả mà
trẻ đó đạt được phải được mô tả trong hồ sơ cá nhân (ghi rõ trẻ đã học được những gì,
và đến mức độ nào)
5.3. Ghi chép và lưu hồ sơ đánh giá học sinh khuyết tật ngôn ngữ
Ngoài các hồ sơ đánh giá như mọi học sinh khác, học sinh khuyết tật ngôn ngữ
nói riêng, học sinh khuyết tật nói chung có sổ theo dõi sự tiến bộ (hoặc sổ kế hoạch
giáo dục cá nhân). Các mục tiêu cần đạt, những điều chỉnh trong đánh giá học sinh cần
được ghi rõ trong hồ sơ này.
Những sản phẩm của học sinh khuyết tật, đặc biệt là các bài kiểm tra điều chỉnh
và kết quả kiểm tra sự tiến bộ trong khắc phục khó khăn đặc thù cần được lưu vào hồ
sơ cá nhân của trẻ.
- 21 -
MỘT SỐ LƯU Ý
THỰC HIỆN HƯỚNG DẪN CÁ BIỆT TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
Ở LỚP HÒA NHẬP
- Việc hướng dẫn kĩ năng phát âm đúng các âm vị được thực hiện chủ yếu trong
các tiết học của phân môn tiếng Việt, Tuy nhiên trong giờ học của các môn học khác
vẫn cần nhắc các em củng cố phát âm các âm vị đã được hướng dẫn sửa lỗi;
- Các từ ngữ chứa tiếng hoặc âm, vần đang hướng dẫn cho trẻ khó khăn về đọc
và viết cũng cần được củng cố trong bài học các môn học khác.

Dạy học đa giác quan: trẻ khó khăn về đọc và viết sẽ dễ dàng tiếp thu kiến thức
nếu các em được trải nghiệm học tập đa giác quan. Càng huy động được nhiều giác
quan như nghe nhìn, sờ ngửi, nếm (điều này thường có được từ các hoạt động thực
hành trực tiếp) thì trẻ càng có được cơ hội để hiểu, nhớ và vận dụng kiến thức.
Cho phép trẻ có thêm thời gian để hoàn thành nhiệm vụ: Những trẻ khó khăn
về đọc và viết thường phải vật lộn với việc đọc để hiểu được yêu cầu của một bài tập,
cũng như viết phần bài làm của mình. Các em cần có thêm thời gian để đọc hiểu hoặc
trả lời, hoặc thực hiện các nhiệm vụ được giao;
- 22 -
Giảm số lượng bài tập: Cũng có thể thay vì thêm thời gian cho trẻ khó khăn về
đọc và viết hoàn thành nhiệm vụ được giao, GV có thể giảm bớt yêu cầu hoặc số
lượng bài tập dành cho trẻ này.
Ôn tập củng cố nhiều hơn: Việc yêu cầu các trẻ khó khăn về đọc và viết nhắc
lại nội dung kién thức, kĩ năng vừa học chính là một cách dạy học cần thiết đối với các
em. Có thể cho trẻ trả lời miệng, vẽ sơ đồ hoặc mô tả bằng thực hành trực tiếp nội
dung học tập vừa trải nghiệm;
Cho phép ghi băng bài giảng: Nếu trẻ không thể ghi chép bài học, GV cần cho
phép các em sử dụng máy ghi âm, ghi băng lại lời giảng. Về nhà các em có thể nghe
lại những gì GV hướng dẫn trên lớp.
Những điều chỉnh ở trên có thể hoàn toàn sử dụng được ở lớp học hòa nhập trẻ
khó khăn về nói, ngoại trừ hình thức kiểm tra/thi. Nếu trẻ khó khăn về nói gặp khó
khăn khi trả lời miệng hoặc đọc thành tiếng, thì việc trả lời bằng bài viết, hình thức
kiểm tra/thi viết sẽ phù hợp
Câu hỏi thảo luận:
1) Hãy cho biết thông tin về một học sinh khó khăn về nói hoặc khó khăn về
đọc và viết đang học hòa nhập mà bạn biết.
2) Hãy chọn một bài và thiết kế mục tiêu bài học cho lớp học hòa nhập có học
sinh khuyết tật đó (Soạn cả mục tiêu chung và mục tiêu riêng).
3) Lập bảng từ thử với
- 10 phụ âm đầu ng, r, ph, v, l, tr, ch, x, d, nh

4 Để các vật vào một cái bát
5 Vẽ nguệch ngoạc
6 Xây tháp (bằng khối gỗ, nhựa từ 2 đến 4 tháp)
7 Dốc hạt ra khỏi lọ
8 Hoàn thành trò chơi xếp hình từ 1 – 3 mảnh
9 Vẽ vòng tròn, xâu hạt
10 So sánh dài hơn, ngắn hơn
11 Hoàn thành trò chơi xếp hình từ 6 đến 8 mảnh
12 Đặt 5 khối gỗ theo thứ tự thẳng hàng
13 Vẽ dẫu cộng, chữ V, vẽ hình đơn giản
14 Vẽ hình người ít nhất 3 phần
15 Phân loại 2 hình dạng
16 Phân loại 2 kích thước
17 Phân loại vật theo nhóm
2. Ngôn ngữ
2.1. Khả năng đọc
1 Đọc theo giáo viên các nguyên âm
2 Đọc theo giáo viên các phụ âm
3 Nhắc lại các âm
4 Nhắc lại các nguyên âm
5 Nhắc lại các phụ âm
6 Đọc từ
7 Đọc câu ngắn 3- 4 tõ
2.2. Khả năng nói
1 Phát âm rõ ràng
2 Nãi câu ngắn
3 Nói câu dài
4 Trả lời câu hỏi ®¬n gi¶n (theo hướng dẫn)
- 24 -
5 Tr li cõu hi (t do)

5 a ra mt s thụng ip n gin m ngi khỏc cú th
hiu c
4. Vn ng
4.1. Cỏc k nng vn ng khộo lộo (vận động tinh)
1 Cm bỳt/ bỳt chỡ
2 Gp giy (thnh hỡnh bt k)
3 Gp giy (theo ch dn)
4 Xp hỡnh
5 Xp cỏc hỡnh khi vo ỳng v trớ
6 V ng quanh cỏc khi hỡnh
7 Xộ giy
8
Kẻ đờng thẳng
9 Dựng kộo ct theo ng thng
10 Dựng kộo ct 1 hỡnh nht nh
4.2. Cỏc k nng vn ng tng hp (vận động thô)
1 ng lờn
2 i theo ng thng
3 i quanh vt m khụng chm vo nú
4 ng thng bằng trờn chõn trỏi
5 ng thng bằng trờn chõn phi
6 Lên, xuống cầu thang
- 25 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status