TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGÔ THỊ THU TRANG
PHÁT TRIỂN CHÚ Ý
CHO TRẺ MẮC HỘI CHỨNG ADHD
TRONG LỚP HỌC HÒA NHẬP MẦM
NON
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Người hướng dẫn khoa học
Th.S LÊ THỊ NGUYÊN
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo, Th.S Lê Thị
Nguyên - giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2 - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực
hiện và hoàn thành khóa luận.
Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo
trong khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ,
tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập tại nhà trường.
Xin được gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các thầy cô giáo ở trường
mầm non Sao Mai (Đông Anh, Hà Nội) đã tạo điều kiện cho tác giả điều tra,
khảo sát các vấn đề thực tiễn có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Conduct Discoder- rối loạn hành vi
Diagnostic anh statistical Manual of Mental Discorders Sổ tay chẩn đoán và phân loại bệnh tâm thần (của hội
tâm thần học Hoa Kỳ)
Giáo viên
International Statistical Classification of Diseases and
Related Health Problems - Hệ thống phân loại quốc tế
các bệnh và vấn đề sức khỏe liên quan (hiện nay dùng
ICD-10)
National Institute of Mental Health - Viện sức khỏe Tâm
thần Quốc gia (Hoa Kỳ)
Trẻ khuyết tật
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục Quốc
dân, đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, là cơ sở
cho quá trình học tập tiếp theo. Mọi trẻ em đều có quyền cơ bản được giáo
dục, được tạo cơ hội để đạt và duy trì trình độ học ở mức có thể chấp nhận
được. Trẻ khuyết tật cũng vậy, bất kể ở mức độ nặng nhẹ như thế nào, mang
khiếm khuyết gì đều cần phải được học tập trong môi trường hạn chế nhất.
Tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ khuyết tật được phát triển tối đa khả năng là
mục tiêu giáo dục quan trọng.
Rối loạn tăng động giảm chú ý là một hiện tượng mang tính toàn cầu.
Nó nảy sinh và tồn tại không phân biệt ranh giới, xã hội, văn hóa cũng như
các nhóm dân tộc. Ở hầu hết trẻ em, các triệu chứng này xuất hiện từ trước
tuổi lên 7. Các triệu chứng này ảnh hưởng đến khả năng của trẻ ở mức độ cao
nhận khi nghe cô giáo nói con mình có triệu chứng ADHD. Họ cho rằng, cô có
định kiến với con họ, ghét bỏ con họ và lập tức cho con nghỉ học hoặc chuyển
trường… Việc phát hiện ra trẻ có triệu chứng ADHD không phải là một việc
quá khó khăn đối với các cô giáo ở trường mầm non, bởi họ là người trực tiếp
chăm sóc, dạy dỗ trẻ. Tuy nhiên việc đánh giá mức độ hiếu động - kém chú ý
và nhất là việc đưa ra những biện pháp can thiệp là một điều không đơn giản.
Với những trường học có trẻ ADHD, GV cần phải được đào tạo hay tập huấn
về tâm lý của các trẻ này để có biện pháp ứng xử và dạy dỗ đúng cách.
Từ những yêu cầu của xã hội ngày càng lớn và những lí do kể trên là
căn cứ để người nghiên cứu lựa chọn đề tài “Phát triển chú ý cho trẻ mắc
hội chứng ADHD trong lớp học hòa nhập mầm non”.
8
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứng ADHD
trong lớp học hòa nhập mầm non, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục
cho trẻ ADHD ở các trường mầm non hòa nhập.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển chú ý cho trẻ mắc hội
chứng ADHD trong lớp học hòa nhập mầm non.
- Đề xuất các biện pháp phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứng ADHD
trong lớp học hòa nhập mầm non.
- Minh họa một số biện pháp phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứng
ADHD trong lớp học hòa nhập mầm non.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến chú ý
của trẻ mắc hội chứng ADHD lứa tuổi 3-6 tuổi trong lớp học hòa nhập mầm
non.
10
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC
PHÁT TRIỂN CHÚ Ý CHO TRẺ MẮC HỘI CHỨNG ADHD
TRONG LỚP HỌC HÒA NHẬP MẦM NON
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những nghiên cứu về hội chứng ADHD
Rối loạn tăng động, giảm chú ý (ADHD) dùng để mô tả những trẻ có
biểu hiện kém chú ý, tăng hoạt động, xung động không phù hợp theo tuổi,
những triệu chứng này đủ để gây ra suy kém các hoạt động chủ yếu trong đời
sống hằng ngày. Thuật ngữ ADHD có thể mới có nhưng mô tả về những trẻ
có các hành vi hoạt động quá mức, không biết kềm chế đã có từ lâu.
Trong văn học, đã có những mô tả về một số người có vấn đề nghiêm
trọng về chú ý, tăng động, và suy yếu kiềm chế xung động. Đại văn hào
Shakespeare (Anh) đã mô tả về sự suy giảm chú ý như là một trong những
đặc điểm của vua Henry VIII. Năm 1845, Herinich Hoffman, một bác sĩ
người Đức đã mô tả về một cậu bé tăng động giảm chú ý trong bài thơ của
mình có tên “Bé Phil hay cựa quậy”.
Năm 1902, bác sĩ nhi khoa người Anh Goerge F.Still đã mô tả rõ ràng
một nhóm trẻ có vấn đề nghiêm trọng về hành vi đạo đức, không thể tập trung
và gặp khó khăn trong học tập ở bài thuyết trình của mình trước Viện Hàn
lâm Y khoa Hoàng gia. Ông cho rằng nhóm trẻ đó có sự thiếu hụt khả năng
kiểm soát hành vi. Tuy nhiên, phát hiện này của ông hầu như rất ít được quan
tâm (Mash. EJ & Barkley, 1996).
Một cách nhìn nhận khác về ADHD và cơ chế gây ra nó cũng bắt đầu
xuất hiện ở Bắc Mỹ xung quanh thời điểm dịch viêm não lớn vào năm 19171918. Kết quả của trận đại dịch gây ra là những vấn đề liên quan đến hành vi
11
quan trọng để phân biệt những rối loạn này với rối loạn khác và để dự đoán sự
phát triển sau này. Sau đó, rối loạn được đổi tên thành rối loạn tăng động
giảm chú ý (ADHD) trong DSM-III-R (APA, 1987).
Đến DSM-IV, tên gọi ADHD vẫn giữ nguyên nhưng cách phân loại các
thể ADHD đã tách tăng động và giảm chú ý ra thành: thể tăng động chiếm ưu
thế, thể giảm chú ý chiếm ưu thế và thể kết hợp cả tăng động và giảm chú ý. [9]
1.1.2. Nghiên cứu về việc phát triển chú ý của trẻ ADHD
Nền kinh tế - xã hội ở các nước Bắc Mỹ và Châu Âu rất phát triển cùng
với đó là sự phát triển cao của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần. Tuy
nhiên các nghiên cứu mới về ADHD ở các nước tiên tiến này chủ yếu tập
trung vào vấn đề so sánh hiệu quả giữa các cách can thiệp khác nhau: dùng
thuốc, điều trị tâm lý, chăm sóc cộng đồng. Các nghiên cứu về điều trị ADHD
gần đây của Viện Sức khỏe Tâm thần quốc gia, Hội Tâm thần học Hoa Kỳ,
Học viện nhi khoa Hoa Kỳ chủ yếu nhằm so sánh hiệu quả giữa các phương
thức khác nhau. Các phương thức bao gồm: dùng thuốc đơn thuần, trị liệu tâm
lý (chủ yếu là cách tiếp cận hành vi), kết hợp dùng thuốc và điều trị tâm lý,
còn lại là chăm sóc cộng đồng.
Mặc dù can thiệp tâm lý được các chuyên gia, gia đình và nhà trường
đánh giá cao nhưng nó ít được chứng minh bằng tài liệu về hiệu quả điều trị
ADHD.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về ADHD chủ yếu dừng lại ở mức độ
thống kê, mô tả như đã đề cập ở trên. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu
khoa học như: “Tìm hiểu ảnh hưởng của hội chứng tăng động giảm chú ý đối
với học tập ở trẻ em tiểu học” (Đặng Hoàng Minh, Hoàng Cẩm Tú, 2001);
“Bước đầu thích nghi hóa các thang đánh giá những hành vi kém thích nghi
của Conner trên học sinh tiểu học và trung học cơ sở” (Nguyễn Công Khanh,
2002); “Đặc điểm tâm lý tâm sàng của học sinh tiểu học có rối loạn tăng
13
Theo ICD-10, rối loạn tăng động giảm chú ý có đặc điểm: dấu hiệu khởi
phát sớm, sự kết hợp của một hành vi hoạt động quá mức, kém kiểm tra với
thiếu chú ý rõ rệt và thiếu kiên trì trong công việc; và những đặc điểm hành
vi lan tỏa trong một số lớn hoàn cảnh và kéo dài theo thời gian.
ADHD - Hội chứng tăng động giảm tập trung chú ý - là một dạng rối
loạn gây ra những khó khăn vĩnh viễn biểu hiện ở một hoặc nhiều hành vi
sau: a) Thiếu chú ý, b) Quá hiếu động, c) Hấp tấp. [7]
-
Thiếu chú ý: khó khăn trong việc tập trung vào các chi tiết hay tham gia vào
các công việc cụ thể; khó duy trì thời gian tham gia công việc, hay sai sót; có
vẻ mơ màng, thờ thẫn, hay quên, không chú ý khi người khác nói với mình...
và hiếm khi hoàn thành nhiệm vụ.
- Quá hiếu động: khó kiềm chế các hành vi: cơ thể luôn vận động không
ngừng; khó khăn khi chơi hoặc khó tham gia một cách bình tĩnh vào các hoạt
động giải trí; nói quá nhiều, gây ồn ào cho các hoạt động cần im lặng.
- Hấp tấp: khó kiềm chế phản ứng, không kiên nhẫn, trả lời trước khi người
khác hỏi hết câu hỏi; ngắt lời hoặc nói leo theo; đi linh tinh vào những chỗ
không được phép.
ADHD là một trong những rối loạn phát triển thường gặp ở trẻ em, đặc
điểm chung của ADHD là những hành vi hiếu động quá mức đi kèm sự suy
giảm khả năng chú ý. Căn bệnh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng
học tập và gây khó khăn trong quan hệ với mọi người. [10]
Trên cơ sở tổng hợp các khái niệm về ADHD của một số tác giả, người
nghiên cứu nhìn nhận: Rối loạn tăng động giảm chú ý là một trong những rối
loạn phát triển thường gặp ở trẻ em, đặc điểm chung của ADHD là những
hành vi hiếu động quá mức đi kèm sự suy giảm khả năng chú ý thường xuất
-
Có hành vi chống đối
-
Lo âu, trầm cảm
-
Có tính khí bộc phát…
Các nghiên cứu cho thấy một tỉ lệ không nhỏ trẻ ADHD được chuẩn
đoán kèm với rối loạn tính cách (Mood Disorders), rối loạn chống đối
(Oppositional Defiant Disorders), rối loạn lo âu (Anxiety Disorders).
Các thuật ngữ có liên quan
ADHD - Rối loạn tăng động giảm chú ý (trước đây gọi là ADD) một
dạng rối nhiễu phát triển thường gặp ở trẻ em. Đặc điểm chung của ADHD là
những hành vi hiếu động quá mức đi kèm theo sự suy giảm khả năng chú ý.
Nếu không được điều trị, có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng
học tập và khó khăn trong quan hệ với mọi người.
Cho đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến liên quan đến các thuật ngữ hay định
nghĩa về ADHD. Những định nghĩa được đưa ra hầu hết là các định nghĩa
mang tính mô tả về những triệu chứng điển hình của hội chứng ADHD
16
Phân loại của DSM-IV sử dụng thuật ngữ ADHD (Attention- Deficit/
Hyperactivity Disorder), trong đó chia thành 3 dạng:
Các rối nhiễu Hyperkinetic khác (Other Hyperkinetic Disorder).
Rối nhiễu Hyperkinetic không điển hình (Hyperkinetic Disorder,
Unspecifeid).
Thuật ngữ ADS (Attention-deficit syndrome) nghĩa là “Hội chứng giảm
tập trung”. Thuật ngữ ADS tương đương với thuật ngữ ADHD song được
đưa ra với là do một số nhà chuyên môn không muốn gọi hội chứng này là
một “Rối nhiễu” (Disorder).
17
Thuật ngữ MCD (Minimal Cerebral Dysfunction) nghĩa là “Giảm chức
năng não bộ tối thiểu”. Thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi ở Mỹ.
Thuật ngữ DAMP (Deficits in Attention, Motor control and Perception)
nghĩa là “Suy giảm khả năng tập trung, kiểm soát vận động & tri giác”. Thuật
ngữ này thường được sử dụng ở Đan Mạch & Thụy Điển để chỉ những trẻ
mang ADHD kèm dyspraxia (chứng rối loạn phối hợp động tác)
Hội chứng tăng động giảm chú ý ở lứa tuổi mầm non
Trẻ em bị ADHD ít chú ý, hiếu động hay bốc đồng, và nhiều trẻ có thể
kết hợp cả những hành vi này.
Khi tham gia môi trường hòa nhập, trẻ ADHD hay bị xem là những kẻ
phá rối trong các hoạt động ở lớp học. Trong khi tất cả trẻ nhỏ có thể bốc
đồng, hiếu động hoặc không chú ý ở một giai đoạn, thì ở những trẻ em ADHD
các hành vi này xảy ra thường xuyên và liên tục. [4]
Như vậy trên cơ sở tổng hợp khái niệm về trẻ ADHD của một số tác giả,
người nghiên cứu nhìn nhận: Trẻ ADHD là trẻ có những hành vi hiếu động
quá mức đi kèm sự suy giảm khả năng chú ý.
1.2.2. Chuẩn đoán ADHD ở trẻ em
Thứ nhất: chẩn đoán ADHD theo DSM - IV
Việc chuẩn đoán ADHD căn cứ theo các tiêu chí phân loại của DSM-IV,
Thường rời khỏi ghế trong lớp học hoặc trong những trường hợp cần ngồi cố
định.
- Thường chạy hoặc leo chèo quá mức trong những tình huống không phù hợp.
- Thường khó khăn khi chơi hoặc tham gia một cách yên tĩnh vào các hoạt
động giải trí.
- Thường “luôn tay luôn chân” hoặc thường hành động như thể “được gắn
động cơ”.
- Thường nói quá nhiều.
Bồng bột - hấp tấp:
-
Thường đưa ra câu trả lời trước khi người hỏi đặt xong câu hỏi.
Thường khó chờ đợi đến lượt mình.
Thường cắt ngang hoặc nói leo người khác (ví dụ như chen vào cuộc trò
chuyện hay thứ tự chơi trò chơi)
B. Một vài triệu chứng quá hiếu động - hấp tấp hoặc giảm tập trung gây ra sự
kém khả năng xuất hiện trước 7 tuổi.
19
C. Có một dạng khuyết tật nào đó từ những triệu chứng này bộc lộ trong hai
môi trường hoặc hơn (như ở trường/ở nơi làm việc và ở nhà).
D. Phải có bằng chứng lâm sàng rõ ràng về sự suy yếu đáng kể trong các chức
năng xã hội, học tập và nghề nghiệp.
E. Những triệu chứng không xuất hiện riêng biệt trong các loại rối loạn phát
triển diện rộng, bệnh loạn tinh thần, hoặc rối loạn tinh thần khác và không thể
xếp vào một dạng rối loạn trí tuệ nào (như rối loạn tâm trạng, rối loạn lo lắng,
rối loạn không giao tiếp hay rối loạn nhân cách).
Diễn giải các dạng ADHD theo kết quả chuẩn đoán:
Các triệu chứng kết hợp không đủ hoặc không cần thiết để chẩn đoán, nhưng
có thể giúp cho chẩn đoán: Thiếu kiềm chế trong mối quan hệ xã hội, sự dại
dột trong những hoàn cảnh nguy hiểm, sự coi thường các quy tắc xã hội một
cách tự phát, ngẫu hứng (can thiệp hay làm gián đoạn công việc của người
khác, vội vã đưa ra câu trả lời trước khi trẻ hiểu đầy đủ câu hỏi hoặc không
yên tâm chờ đợi đến lượt mình) đều là những nét đặc trưng của trẻ em có rối
nhiễu ADHD.
- Những khó khăn trong học tập và sự vụng về trong vận động không được
xem là một thành phần của chẩn đoán hiện tại về rối loạn tăng động.
- Rối loạn ADHD thường khởi phát sớm và tồn tại lâu dài. Tuy nhiên, để có
thể chẩn đoán quyết định có hay không có ADHD thì thường phải ở thời điểm
khi trẻ đến trường.
Như vậy, từ các nguyên tắc chẩn đoán ADHD của ICD-10 cho thấy:
-
Các tiêu chí để chẩn đoán ADHD gồm các dấu hiệu (triệu chứng) đặc trưng
và dấu hiệu kết hợp. Các dấu hiệu kết hợp sẽ là số liệu bổ sung để chẩn đoán
đạt kết quả chính xác.
- Tiêu chí đánh giá ADHD phải dựa vào chuẩn mực, đặc điểm lứa tuổi tương
ứng về mặt tâm sinh lí lẫn kĩ năng thích ứng, giao tiếp xã hội.
- Các triệu chứng, dấu hiệu để kết luận về rối nhiễu ADHD phải được xuất
hiện như nhau trong hành vi của trẻ ở mọi lúc, mọi nơi.
- Cần phải có sự chẩn đoán phân biệt giữa ADHD với các rối nhiễu hành vi
khác có những triệu chứng chung giống nhau.
Thứ ba: chẩn đoán ADHD theo thang lượng giá của C. Keith Conner
C.Keith Conner, một trong những nhà tâm lí học lâm sàng nổi tiếng nhất
trong lĩnh vực rối nhiễu hành vi với 30 năm nghiên cứu về ADHD và các rối
nhiễu hành vi khác, năm 1989, lần đầu tiên ông công bố thang đánh giá hành
Bảng liệt kê này giúp kiểm soát trẻ em và trẻ vị thành niên có nguy cơ
mắc ADHD. Thang CRS-R hoàn toàn thích hợp trong quản lí, chăm sóc, theo
dõi, điều trị, giáo dục và đánh giá hiệu quả quá trình điều trị và giáo dục. Đặc
biệt các thang rút gọn rất hữu ích trong việc theo dõi thường xuyên tình trạng
của trẻ ADHD.
22
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, đứng ở góc độ là một giáo viên
mầm non, người nghiên cứu chỉ trình bày thang đánh giá ADHD dạng rút gọn
dành cho giáo viên (CTRS-R: S) (chi tiết xem phụ lục 2)
- Chống đối gồm 5 đề mục: 2, 6, 10, 15, 20. Những trẻ có điểm cao ở
thang này có biểu hiện rối loạn cư xử thể chống đối đáp ứng với các tiêu
chuẩn chẩn đoán của DSM-IV rối loạn chống đối.
- Thiếu hụt chú ý gồm 5 đề mục: 4, 8, 13, 18, 22. Những trẻ có điểm cao
ở thang này có biểu hiện thiếu hụt chú ý đáp ứng với các tiêu chuẩn chẩn
đoán của DSM-IV về tăng động giảm chú ý thể thiếu hụt chú ý chiếm ưu thế.
- Tăng động, xung động gồm 7 đề mục: 3, 7, 11, 17, 21, 24, 27. Những
trẻ có điểm cao ở thang này có biểu hiện tăng động, xung động đáp ứng với
các tiêu chuẩn chẩn đoán cúa DSM-IV về tăng động giảm chú ý thể tăng động
chiếm ưu thế.
- Hỗn hợp tăng động giảm chú ý gồm 12 đề mục: 1, 5, 9, 12, 14, 16, 19,
23, 25, 26, 27, 28. Những trẻ có điểm cao ở thang này có biểu hiện tăng động
giảm chú ý đáp ứng với các tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM-IV về tăng động
giảm chú ý thể hỗn hợp, tăng động giảm chú ý cùng chiếm ưu thế.
Thứ tư: Chẩn đoán phân biệt
Hầu hết các bậc cha mẹ đều quan sát thấy những vận động quá mức của
trẻ lần đầu tiên khi trẻ mới biết đi, trùng hợp với thời điểm phát triển khả
năng vận động độc lập. Tuy nhiên, vì có rất nhiều trẻ nhỏ tăng vận động
đáp ứng các yêu cầu của người khác. Những triệu chứng này cũng phải phân
biệt với sự tránh né công việc học tập ở trường, một điều thường gặp ở trẻ bị
ADHD. Sự phức tạp trong chẩn đoán phân biệt là trẻ bị ADHD có thể phát
sinh một thái độ chống đối thứ phát đối với những công việc như thế.
Không chẩn đoán là ADHD nếu các triệu chứng được giải thích bởi một
rối loạn tâm thần khác (rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu, rối loạn phân li, rối
24
loạn nhân cách). Nếu rối loạn khí sắc hoặc lo âu cùng xảy ra đồng thời với
ADHD, từng tình trạng nên được chẩn đoán riêng.
ADHD không được chẩn đoán khi các triệu chứng tăng động và giảm
chú ý xảy ra trong thời gian diễn tiến của một rối loạn phát triển lan tỏa
(Pervasive Developmental Disorder) hoặc một tình trạng loạn tâm khác.
Các triệu chứng giảm chú ý, tăng động, xung động có thể liên quan đến
việc sử dụng một số dược chất (thuốc giãn phế quản, isoniazide, akathisia lấy
từ các neuroleptics) ở những trẻ dưới 7 tuổi không được chẩn đoán là ADHD,
thay vào đó nên chẩn đoán là các rối loạn liên quan hóa chất không đặc hiệu
(Other Substance-Related Disorders Not Otherwise Specified). [1]
1.2.3. Nguyên nhân và những giải thích về cơ chế gây ADHD
Các nhà khoa học vẫn chưa biết chắc chắn nguyên nhân nào dẫn đến
bệnh tăng động giảm chú ý (ADHD), mặc dù có nhiều nghiên cứu cho thấy
gen đóng một vai trò quan trọng trong vấn đề này. Như rất nhiều loại bệnh
khác, bệnh tăng động giảm chú ý có thể do nhiều nguyên nhân gây nên.
Yếu tố di truyền
Yếu tố di truyền (gen) được đề cập đến trong một nghiên cứu trên 238
cặp song sinh (Goodman và Stevenson, 1989) đã tìm ra sự phù hợp cho chẩn
đoán lâm sàng tăng động ở 51% các cặp sinh đôi cùng trứng và 33% các cặp
sinh đôi khác trứng.