Phát triển kĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi trong lớp học hòa nhập ở trường mầm non - Pdf 44

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
-------------------

NGÔ THỊ THU THÙY

PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG CHƠI CHO
TRẺ TỰ KỶ 3 - 4 TUỔI TRONG LỚP HỌC
HÕA NHẬP Ở TRƢỜNG MẦM NON

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

ThS. LÊ THỊ NGUYÊN

HÀ NỘI, 2017


LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin đƣợc gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo, Th.S Lê Thị
Nguyên - giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học, trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà
Nội 2 - ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực
hiện và hoàn thành khóa luận.
Tác giả cũng xin đƣợc gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo
trong khoa Giáo dục Mầm non, trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ,
tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập tại nhà trƣờng.
Xin đƣợc gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các thầy cô giáo ở trƣờng
mầm non Hoa Hồng (T.x Phúc Yên - Vĩnh Phúc) đã tạo điều kiện cho tác giả
điều tra, khảo sát các vấn đề thực tiễn có liên quan đến phạm vi nghiên cứu

1.1. Một số vấn đề về hội chứng tự kỷ........................................................... 5
1.1.1. Lịch sử xuất hiện ...................................................................................... 5
1.1.2. Khái niệm tự kỷ ........................................................................................ 7
1.1.3. Phân loại tự kỷ ......................................................................................... 8
1.1.4. Ngu n nhân gâ tự ỷ .......................................................................... 10
1.1.5. hu n oán ánh giá trẻ tự kỷ.............................................................. 12
1.1.6.

i m

trẻ tự ỷ lứa tuổi mầm non ............................................ 15

1.2. Phát triển kĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ ..................................................... 19
1.2.1. á

hái niệm......................................................................................... 19

1.2.2. Ý nghĩ
1.2.3. á h thứ

a hoạt ộng hơi ối với trẻ tự kỷ ....................................... 21
hơi và tiếp cận trẻ tự kỷ ..................................................... 22

1.3. Phát triển kĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ trong lớp học hòa nhập ở trƣờng
mầm non ....................................................................................................... 24


1.3.1. Phương thứ giáo dụ hò nhập ở mầm non ....................................... 24
1.3.2. Mụ


ảm bảo tính tổng th và toàn diện .................................. 39

2.1.2. Ngu n tắ

ảm bảo tính á nhân hó ................................................. 39

2.1.3. Ngu n tắ

ẳm bảo tính

2.1.4. Ngu n tắ

ảm bảo tính phù hợp với nhu cầu và hả năng c a trẻ . 40

2.1.5. Ngu n tắ

ảm bảo tính thự hành, lu ện tập ................................... 41

dạng và linh hoạt ................................... 40

2.2. Biện pháp phát triển kĩ năng chơi cho trẻ tự kỷ 3-4 tuổi trong lớp học
hòa nhập mầm non ....................................................................................... 41
2.2.1. Sử dụng á

ĩ thuật rèn lu ện ĩ năng hơi ........................................ 41

2.2.2. Một số bài tập bổ trợ

phát tri n ĩ năng hơi ho trẻ tự kỷ 3-4 tuổi



The International Clasification of Disease – world Helth Oragnization:
Bảng phân loại bệnh quốc tế của Tổ chức Y tế Thế giới.

KHCTCN Kế hoạch can thiệp cá nhân
RLPTK

Rối loạn phổ tự kỷ

TTK

Trẻ tự kỷ


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xã hội hiện đại, “rối loạn tự kỷ” không còn là một thuật ngữ xa
lạ đối với mỗi ngƣời. Hiện nay số lƣợng TTK tăng lên nhanh chóng ở tất cả
các quốc gia trên thế giới, bao gồm tất cả các chủng tộc, màu da, các dân tộc
và nền kinh tế xã hội khác nhau. Theo số liệu thống kê năm 2012 của trung
tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kì, hiện cứ 68 trẻ có một trẻ
đƣợc xác minh với RLPTK (ASD – Autism Spectrum Disorder); tỷ lệ trẻ trai
mắc chứng tự kỷ cao gấp 5 lần so với bé gái. Ở Việt Nam, con số này cũng
tăng lên nhanh chóng qua các năm. Những năm 1980, tỉ lệ đƣợc phát hiện là
3-4/1000 trẻ; những năm 1990 là 10-20/10000 trẻ. Sau năm 2000 là
62,6/100000 trẻ. Dù chƣa có một số liệu thống kê cụ thể nhƣng sự gia tăng
về số lƣợng trẻ mắc chứng RLPTK đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết trong công
tác chăm sóc cũng nhƣ giáo dục trẻ ở trƣờng mầm non.
Tự kỷ là một hội chứng do rối loạn thần kinh gây ảnh hƣởng đến chức
năng hoạt động của não bộ. Tự kỷ có thể xảy ra ở bất cứ cá nhân nào, không

2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất biện pháp nhằm phát triển kĩ năng chơi cho TTK 3 - 4 tuổi
trong lớp học hòa nhập ở trƣờng mầm non.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc phát triển kĩ năng chơi cho TTK trong
lớp học hòa nhập mầm non.
- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của việc phát triển kĩ năng chơi cho TTK
trong lớp học hòa nhập mầm non.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển kĩ năng chơi cho TTK 3-4
tuổi.

2


4. Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Các biện pháp phát triển kĩ năng chơi cho TTK
3-4 tuổi trong lớp học hòa nhập mầm non.
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình phát triển kĩ năng chơi cho TTK 3-4
tuổi trong lớp học hòa nhập mầm non.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu các biện pháp phát triển kĩ năng chơi cho TTK 3 - 4 tuổi đƣợc đề
xuất phù hợp với TTK sẽ hình thành đƣợc ở trẻ kĩ năng chơi, phát triển các
mặt nhƣ ngôn ngữ, hành vi, trẻ tự tin hơn khi tiếp xúc với mọi ngƣời; góp
phần nâng cao hiệu quả việc chăm sóc, giáo dục cho TTK nói chung cũng nhƣ
việc phát triển kĩ năng chơi cho TTK 3 - 4 tuổi nói riêng.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp phát triển kĩ năng
chơi cho TTK 3-4 tuổi đang học trong lớp học hòa nhập ở trƣờng mầm non.
Đề tài đƣợc tiến hành điều tra, khảo sát thực tế và tổ chức thực nghiệm
ở một trƣờng mầm non có TTK học hòa nhập thuộc khu vực Thị xã Phúc Yên

Bleuler (1857 – 1940) đƣa ra năm 1919 để mô tả giai đoạn bắt đầu của rối
loạn thần kinh ở ngƣời lớn, đây là hiện tƣợng mất nhận thức thực tế của ngƣời
bệnh khi cách ly với đời sống thực tại hằng ngày và nhận thức của ngƣời bệnh
có xu hƣớng không thống nhất với kinh nghiệm thông thƣờng của họ.
Cho đến năm 1943, bác sỹ tâm thần ngƣời Mỹ là Leo Kanner mô tả
trong một bài báo với nhan đề “Autism Disturbance of Effective Contract”.
Ông cho rằng TTK là trẻ thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với ngƣời
khác; cách thể hiện các thói quen hằng ngày rất giống nhau, tỉ mỉ và có tính
rập khuôn; không có ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ nói thể hiện sự bất thƣờng
rõ rệt (nói nhại lời, nói lí nhí, không nhìn vào mắt khi giao tiếp); rất thích
xoay tròn các đồ vật và thao tác rất khéo; có khả năng cao trong quan sát
không gian và trí nhớ “nhƣ con vẹt”; khó khăn trong học tập ở những lĩnh vực
khác nhau; thích độc thoại trong thế giới riêng của mình, khó khăn trong việc
thực hiện các trò chơi đóng vai theo chủ đề nhƣ cho búp bê ăn, nói chuyện
điện thoại, bác sỹ tiêm bệnh nhân; chỉ hiểu nghĩa đen của câu nói, thích tiếng
động và vận động lặp đi lặp lại đơn điệu: giới hạn đa dạng các hoạt động tự
phát, mặc dù vẻ bề ngoài nhanh nhẹn, thông minh. Kanner nhấn mạnh triệu
chứng tự kỷ có thể phát hiện đƣợc ngay khi trẻ ra đời hoặc trong khoảng 30
tháng đầu. Công trình khoa học của Kanner đã đánh dấu một bƣớc ngoặt

5


trong lịch sử giáo dục TTK, ngày nay là cơ sở của nhiều công trình nghiên
cứu tại nhiều nƣớc thế giới.
Năm 1944, một bác sỹ tâm thần ngƣời Áo là Han Asperger (1906 – 1980)
sử dụng thuật ngữ Autism trong khi mô tả những vấn đề xã hội trong nhóm trẻ
trai mà ông làm việc. Mô tả của ông nhƣ sau: ngôn ngữ của trẻ phát triển bình
thƣờng, tuy nhiên trong cách diễn tả và cách phát âm nhiều cung điệu lên
xuống không thích hợp với hoàn cảnh; có những rối loạn trong cách sử dụng

nào.
Thứ 3, rối nhiễu này gắn với các vấn đề thể chất nào đó hoặc với khuyết
tật khác về phát triển.
Qua khảo sát này, năm 1979, Lorna Wing đƣa ra thuật ngữ “RLPTK” để
khái quát hiện tƣợng phức tạp này kèm theo các dấu hiệu chủ yếu của TTK.
1.1.2. Khái niệm tự kỷ
Trong những thập niên vừa qua trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu
và kết luận khác nhau về tự kỷ. Những khái niệm về hội chứng này rất đa
dạng và thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, ngƣời nghiên cứu xin đƣợc trích
dẫn một số khái niệm sau:
Theo cuốn Sổ tay ch n oán và thống

những rối nhiễu tâm thần IV

(DSM-IV) định nghĩa: tự kỷ nằm trong nhóm các rối loạn phát triển lan tỏa
(Pervasive Developmental Disorders), là một nhóm hội chứng ượ
bởi su

trưng

ém n ng nề và l n tỏa trong những lĩnh vự phát tri n gồm: Tương

tá xã hội, giao tiếp và ó những hành vi rập huôn.
Theo ICD-10: Tự kỷ là một dạng rối loạn lan tỏa sự phát tri n, ượ xá
ịnh bởi một sự phát tri n hông bình thường hay giảm sút bi u hiện trước 3
tuổi và bởi một hoạt ộng bất thường

trưng trong b lĩnh vự : tá

ộng

diện rộng” với 5 dạng rối loạn chính. Theo DSM – V, “rối loạn phổ tự kỷ”
đƣợc sử dụng thay cho tên gọi “rối loạn phát triển diện rộng”, cũng không còn
xu hƣớng phân chia các dạng “tự kỷ” mà thay vào đó là một tên gọi chung và
tiêu chí chẩn đoán chung cho “rối loạn phổ tự kỷ”.
Trên cơ sở phân tích các khái niệm và những thuật ngữ có liên quan
ngƣời nghiên cứu chọn khái niệm tự kỷ do Liên hợp quốc đƣa ra làm cơ sở lí
luận cho đề tài nghiên cứu.
1.1.3. Phân loại tự kỷ
Những nghiên cứu về TTK vẫn tồn tại rất nhiều vấn đề chƣa đƣợc thống
nhất. Do sự đa dạng về phạm vi, mức độ năng nhẹ, khởi phát và tiến triển của
triệu chứng nên sự phân loại TTK cũng rất khác nhau. Theo cuốn Phục hồi
chứ năng TTK của Bộ Y tế Việt Nam thì TK đƣợc phân loại theo ba tiêu chí
sau: Theo thời i m mắc tự kỷ, theo chỉ số thông minh và theo mứ

ộ.

* Theo thời điểm mắc tự kỷ:
Tự kỷ i n hình - hay tự kỷ b m sinh: triệu chứng tự kỷ xuất hiện dần
dần trong 3 năm đầu.
Tự kỷ hông i n hình: trẻ phát triển về ngôn ngữ và giao tiếp bình

8


thƣờng trong 3 năm đầu, sau đó triệu chứng tự kỷ xuất hiện dần dần và có sự
thoái triển về ngôn ngữ-giao tiếp.
* Theo chỉ số thông minh:
Tự kỷ ó hỉ số thông minh

o và nói ược: Trẻ không có những hành vi

Mứ

ộ n ng: Trẻ không giao tiếp bằng mắt, không giao tiếp với ngƣời

ngoài và không nói đƣợc.

9


1.1.4. Ngu n nhân gâ tự ỷ
Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu về nguyên nhân gây ra hội chứng tƣ
kỷ, nhƣng vẫn chƣa có một nguyên nhân nào đƣợc coi là nguyên nhân chính
thức gây ra chứng bệnh này. Vấn đề này vẫn tiếp tục đƣợc các nhà khoa học
nghiên cứu.
* Di truyền:
Đa số các tác giả cho rằng tự kỷ là do nguyên nhân di truyền. Tuy nhiên,
chƣa tìm ra đƣợc gen hay tổ hợp gen nào gây ra bệnh này. Có thể đây là một
gen tổ hợp, một biến dị gen hoặc tƣơng tác gen nào đó, vì đại đa số các trƣờng
hợp TTK có bố mẹ hoàn toàn bình thƣờng. Một số hội chứng về di truyền có
liên quan tới bệnh tự kỷ nhƣ hội chứng đứt gãy gen X …
Nghiên cứu trên các trƣờng hợp sinh đôi hay di truyền phả hệ, ngƣời ta
nhận thấy rằng có mối tƣơng quan cao của kiểu hình tự kỷ (30%).
* Bất thường về phía mẹ (các bệnh lý mẹ mắc phải trước, trong thời ỳ
mang thai):
Mắ Virus Rubell : việc mắc rubella trong thai kỳ có tỷ lệ lớn phát sinh
quái thai. Bên cạnh đó, việc kết hợp giữa kháng thể của mẹ (IgG) và Protein
não của thai nhi có thể làm cho não thai nhi kém phát triển, gây ra bệnh tự kỷ.
Ngoài ra, mắc virus rubella trong thai kỳ còn tăng nguy cơ mắc các bệnh lý
tâm thần khác ở trẻ, đặc biệt là chứng tâm thần phân liệt.
Bệnh lý tu ến giáp: sự thiếu hụt tyroxin của ngƣời mẹ trong tuần 8 – 12

nhƣ sau:
Kí h thướ não bộ trong thời kỳ thai nghén và lúc mới đẻ: nghiên cứu
trên các trẻ sơ sinh non tháng và có trọng lƣợng mới sinh thấp, những trẻ có
khối lƣợng/kích thƣớc não bộ bất thƣờng dẫn tới nguy cơ cao gấp 3 lần so với
trẻ nhẹ cân non tháng có khối lƣợng/kích thƣớc não bình thƣờng.
Bất thường về á vùng

não, đặc biệt là vùng chịu trách nhiệm về

cảm xúc và quan hệ xã hội. Một số tác giả cho rằng vùng này nằm ở hai nhóm
nơron hình quả hạch nằm sâu bên trong não (có thể đo bằng MRI).

11


* Bất thường chức năng của não:
Nhiều tác giả nhận thấy việc tăng cao nồng độ các chất dẫn truyền thần
kinh, cụ thể là serotonin - một hóa chất có tác dụng chuyển tải các thông điệp
của não. Các công bố mới nhất về bệnh tự kỷ chỉ ra việc thiếu năng lƣợng của
các tế bào não, đây là hệ quả của việc rối loạn chức năng ty lạp thể - đơn vị
cung cấp năng lƣợng (ATP) cho não bộ. Hiện tại, những nghiên cứu dựa trên
giả thuyết này áp dụng trên điều trị trên động vật thực nghiệm đã cho những
kết quả tốt. Chất trung gian APT này có thể chữa triệu chứng tự kỷ ở các con
vật thí nghiệm, thậm chí ngay cả khi việc điều trị đƣợc bắt đầu sau khi triệu
chứng bệnh đã bùng phát mạnh mẽ. Loại thuốc này phục hồi lại 17 loại triệu
chứng bất thƣờng, bao gồm việc bình thƣờng hóa cấu trúc khớp thần kinh
não, tín hiệu giữa các tế bào, hành vi xã hội, phối hợp hệ thần kinh vận động
và bình thƣờng hóa quá trình trao đổi chất của ty lạp thể. Tuy nhiên, hiện tại
thuốc này chƣa đƣợc áp dụng trên ngƣời.
Tuy nguyên nhân gây ra chứng tự kỷ rất phức tạp, nhƣng chắc chắn là

(1) Giảm khả năng định tính trong tƣơng tác xã hội thể hiện ở ít nhất
trong số các biểu hiện sau:
a, Giảm khả năng rõ rệt trong việc sử dụng các hành vi phi ngôn ngữ đa
dạng nhƣ ánh mắt, nét mặt, các tƣ thế của cơ thể và các cử chỉ để tạo ra sự
liên hệ mang tính chất xã hội.
b, Không có khả năng xây dựng các mối quan hệ với bạn đồng trang lứa
phù hợp với mức độ phát triển.
c, Thiếu sự đòi hỏi tự nhiên đối với việc chia sẻ niềm vui, sở thích, các
mối quan tâm hay các thành tích đạt đƣợc với những ngƣời khác (ví dụ nhƣ
không bao giờ mang hay chỉ cho ngƣời khác xem những thứ mình thích).
d, Thiếu sự trao đổi qua lại về tình cảm xã hội.
(2) Giảm khả năng định tính trong giao tiếp thể hiện ở ít nhất một trong
số các biểu hiện sau:
a, Chậm hoặc hoàn toàn không phát triển kĩ năng nói (không có ham
muốn bù đắp lại hạn chế này bằng cách giao tiếp khác, ví dụ nhƣ những cử
chỉ điệu bộ thuộc kịch câm).
b, Với những cá nhân có thể nói đƣợc thì lại suy giảm khả năng thiết lập
và duy trì đối thoại.

13


c, Sử dụng ngôn ngữ trùng lặp và rập khuôn hoặc sử dụng những ngon
ngữ khác thƣờng.
d, Thiếu nhƣng hoạt động/ cách chơi đa dạng, trò chơi đóng vai, hoặc
hoạt động/ cách chơi bắt chƣớc mang tính xã hội.
(3) Những kiểu hành vi, những mối quan tâm và hoạt động lặp đi lặp lại
hoặc rập khuôn thể hiện ở ít nhất một trong các biểu hiện sau:
a, Quá bận tâm đến một hoặc một số những mối quan hệ có tính chất rập
khuôn và bó hep với một mức độ tập trung hoặc cƣờng độ bất thƣờng.

trƣờng khác nhau.
5. Hành vi của trẻ tùy thuộc vào việc trẻ đang làm với ai. Với ngƣời có
kinh nghiệm trẻ thƣờng ít bộc lộ hành vi hơn khi làm việc với ngƣời ít kinh
nghiệm hoặc trong một nhóm không đƣợc tổ chức tốt.
Ngoài ra, còn một số công cụ chuẩn đoán và phát hiện hội chứng đƣợc
sử dụng khá phổ biến nhƣ: M-CHAT bảng kiểm sàng lọc tự kỷ ở trẻ nhỏ
(Checklist for Autism Toddlers), thang chuẩn đoán tự kỷ CARS (Childhood
Autism Rating Scale), ADOS: Bảng quan sát chẩn đoán tự kỷ (The Autism
Diagnostic Observation Schedule)….
1.1.6.

c điểm của trẻ tự ỷ lứa tuổi mầm non

Qua nghiên cứu, ngƣời nghiên cứu thấy đƣợc TTK có những đặc điểm,
biểu hiện khác thƣờng trong các vấn đề nhƣ: các vấn đề tƣơng tác xã hội, các
vấn đề giao tiếp ngôn ngữ, những hành vi kỳ lạ, lặp đi lặp lại, các vấn đề về
vận động, nhạy cảm quá mức, các vấn đề cảm giác, các hành vi tự gây thƣơng
tích hay các vấn đề an toàn. Dƣới đây là một số đặc điểm nổi bật của trẻ tự kỷ
lứa tuổi mầm non:
* Về tương tác xã hội
Trong cuốn TTK của Nguyễn Xuân Giang có viết về sự tƣơng tác xã hội
của trẻ TK nhƣ sau: TTK Cách ly xã hội và không có khả năng liên hệ với

15


ngƣời khác. Ví dụ: trong những tình huống mặt đối mặt, TTK nặng sẽ không
nhìn vào mặt bạn, thậm chí còn tránh khỏi bạn.
Có 3 kiểu suy kém về tƣơng tác:
- Nhóm trẻ có khuynh hƣớng tách rời: Trẻ tách ly và nằm trong vỏ bọc

công cụ chơi của mình.
Từ những đặc điểm đã nêu trên, có thể thấy TTK gặp khó khăn trong
việc tƣơng tác xã hội, vì vậy, trẻ khó tƣơng tác với giáo viên, với bạn khi chơi
* Về ngôn ngữ - giao tiếp
Thƣờng là ở mức độ nặng, khoảng một nửa TTK là ở dạng câm, tức là
chƣa bao giờ học nói, phần còn lại là trẻ có âm ngữ không giao tiếp
(noncommunicative speech) ví dụ nhƣ: nhại lời tức là trẻ lập lại một cách
chính xác những từ hay câu nói của ngƣời khác mà không có cố gắng để hiểu
đƣợc ý nghĩa của câu nói, nói chuyện theo một kiểu riêng biệt nhƣ nói một
câu không phù hợp với tình huống. Ngôn ngữ của TTK cũng thƣờng theo
nghĩa đen. Dùng đại từ nhân xƣng ngƣợc: “Bạn” thay vì “ tôi”, chẳng hạn khi
trẻ muốn ra ngoài trẻ sẽ nói: Bạn muốn ra ngoài! Sử dụng tên thay vì dùng đại
từ tôi hay em hay con.
TTK khó khăn trong việc hiểu và sử dụng ngôn ngữ và các công cụ phi
ngôn ngữ, đặc biệt trong các tình huống giao tiếp.ví dụ, không hiểu ý nghĩa
của cử chỉ, điệu bộ, điều kiện nét mặt, ngữ điệu giọng nói, và lời nói của
ngƣời khác. Cũng gặp khó khăn trong việc bắt đầu hoạc duy trì cuộc hội
thoại. Dùng từ không có nghĩa hay sử dụng ngôn ngữ lặp đi lặp lại (Giáo trình
GDHN, Bùi Thị Lâm – Hoàng Thị Nho).
Trẻ bị suy giảm nhiều trong tƣơng tác qua lại với mọi ngƣời, hầu hết TTK
biểu hiện sự cô lập, thích chơi một mình, tránh giao tiếp với các bạn. Số đông
phụ huynh có con tự kỷ cho rằng trong năm đầu tiên trẻ rất ngoan, yên tĩnh,
thích chơi một mình, không thích giao tiếp mắt, không có dấu hiệu dang tay khi
ai muốn bế bồng, không biết chỉ ngón chỏ và nhìn theo hƣớng chỉ tay của

17


ngƣời khác, không sợ ngƣời lạ và cũng không thân thiện với ngƣời chăm sóc,
không biết cƣời ở tháng thứ 3, không biết khóc hay biểu hiện sợ hãi ở tháng thứ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status