LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình do chính tôi nghiên cứu
và soạn thảo. Tôi không sao chép từ bất kỳ một bài viết nào đã đƣợc công bố
mà không trích dẫn nguồn gốc. Nếu có bất kỳ một sự vi phạm nào tôi xin chịu
hoàn toàn trách nhiệm.
Sơn La, ngày 10 tháng 10 năm 2016
Học viên
Đỗ Thu Trang
i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS. TS. Đặng Quang
Việt, PGS. TS. Nguyễn Triệu Sơn, những ngƣời Thầy đã giúp đỡ, chỉ dẫn tôi
tận tình trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin cảm ơn các thầy, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp trong khoa
sƣ phạm Tiểu học - Mầm non, những ngƣời đã luôn động viên, nhiệt tình chỉ
bảo tôi trong từng bƣớc đƣờng làm khoa học và đã tạo điều kiện cho tôi về
thời gian công tác để hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo
trƣờng Tiểu học Chiềng Sinh, tập thể sinh viên hai lớp Cao đẳng Tiểu học
K52A và K52B đã hợp tác và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực nghiệm.
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................... ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU………………………………………………...vii
NHIÊN ........................................................................................................ 33
2.1. Cấu trúc cơ bản của những biện pháp rèn luyện kĩ năng dạy học Toán ở
Tiểu học cho sinh viên.................................................................................. 33
2.2. Biện pháp 1: Rèn luyện kĩ năng phân tích nội dung chƣơng trình.............. 33
2.2.1. Hệ thống các thao tác: ........................................................................ 34
2.2.2. Quy trình tổ chức thực hành ............................................................... 39
2.2.3. Ví dụ minh họa ................................................................................... 41
2.2.4. Đánh giá kết quả rèn luyện kĩ năng phân tích nội dung chƣơng trình .. 46
2.3. Biện pháp 2: Rèn luyện kĩ năng sử dụng đồ dùng, phƣơng tiện dạy học 46
2.3.1. Hệ thống các thao tác .......................................................................... 47
2.3.2. Quy trình thực hành ............................................................................ 48
2.3.3. Ví dụ minh họa ................................................................................... 49
2.3.4. Đánh giá kết quả rèn luyện kĩ năng sử dụng đồ dùng và phƣơng tiện
dạy học ......................................................................................................... 52
2.4. Biện pháp 3: Rèn luyện kĩ năng xây dựng, lựa chọn, khai thác và tổ chức
dạy học hệ thống bài tập ............................................................................... 52
2.4.1. Hệ thống các thao tác .......................................................................... 53
2.4.2. Quy trình tổ chức thực hành ............................................................... 53
2.4.3. Ví dụ minh họa ................................................................................... 56
2.4.4. Đánh giá kết quả rèn luyện kĩ năng xây dựng, lựa chọn, khai thác và tổ
chức dạy học hệ thống bài tập ...................................................................... 62
2.5. Biện pháp 4: Rèn luyện kĩ năng tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học
tập ................................................................................................................ 63
iv
2.5.1. Hệ thống các thao tác.......................................................................... 63
2.5.2. Quy trình thực hành ............................................................................ 64
2.5.3. Ví dụ minh họa ................................................................................... 65
2.5.4. Đánh giá kết quả rèn luyện kĩ năng tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả
HS
Học sinh
GV
Giáo viên
KN
Kĩ năng
KNDH
Kĩ năng dạy học
PPDH
Phƣơng pháp dạy học
SGK
Sách giáo khoa
SV
Sinh viên
vi
về Số học chiếm thời lƣợng lớn, chủ yếu dạy cho HS về hệ thống số, đặc biệt
nội dung dạy học số tự nhiên trong môn Toán ở Tiểu học đóng vai trò cốt lõi,
là nền tảng để HS tiếp thu các tri thức toán học khác.
Để có những bài giảng hay, những hoạt động dạy học hấp dẫn và hiệu
quả đòi hỏi ngƣời GV phải có KT và KN chuyên môn cần thiết. Những KT,
KN này có đƣợc qua trao đổi, học hỏi ở bạn bè, thầy cô, đồng nghiệp…; qua
thực tế giảng dạy ở các trƣờng Tiểu học; qua kinh nghiệm giảng dạy của bản
thân; đặc biệt, các KT và KN cơ bản hầu hết đƣợc hình thành trong quá trình
học tập tại các trƣờng Cao đẳng, Đại học… Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay,
sau khi ra trƣờng, nhiều SV tỏ ra lúng túng, thiếu tự tin khi đứng trƣớc HS,
thậm chí còn mắc phải những lỗi cơ bản về KT và KN. Vì vậy, công tác đào
tạo GV Tiểu học cần đƣợc quan tâm hơn, cần có biện pháp bồi dƣỡng nghiệp
vụ sƣ phạm, rèn luyện các kĩ năng dạy học (KNDH) cơ bản cho SV nhằm
nâng chất lƣợng đào tạo đội ngũ GV Tiểu học.
Vấn đề KNDH không phải là vấn đề mới. Đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu khoa học về KNDH. Ngay từ những năm 20, ở Liên Xô và các
nƣớc Đông Âu đã có nhiều công trình nghiên cứu về KNDH cho SV sƣ phạm,
đến những năm 60, vấn đề nghiên cứu trên đã trở thành hệ thống lí luận và
kinh nghiệm vững chắc với những công trình của N.V. Kuzmina,
O.A.Aboullina, N.V.Bondyrev,…
Vào những năm 70, nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức lao động
khoa học và tối ƣu hóa quá trình dạy học đã đƣợc tiến hành, nhƣ công trình
của M.Ia.Coovaliôv, Iu.Kbabanxki, N.V.Bondyrev. Đáng chú ý hơn cả là
công trình nghiên cứu của X.I.Kixêgôv: “Hình thành KN, kĩ xảo sƣ phạm
trong điều kiện giáo dục đại học”. Tác giả nêu ra hơn 100 KN nghiệp vụ
giảng dạy và giáo dục, trong đó tập trung 50 KN cần thiết đƣợc phân chia
luyện tập theo từng thời kì thực hành, thực tập sƣ phạm cụ thể.
3
Cũng có rất nhiều bài báo đã đăng về việc rèn luyện KNDH ở một số
môn cho SV ngành GDTH. Hầu hết các tác giả đã đƣa ra đƣợc quy trình rèn
luyện KNDH với hệ thống thao tác và các bƣớc cụ thể.
Với lí do trên, với mong muốn đƣợc đóng góp một phần vào việc rèn
luyện KN nghề nghiệp cho SV, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Rèn
luyện một số kĩ năng dạy học Toán cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học
tại trường Cao đẳng Sơn La thông qua dạy học số tự nhiên”
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề xuất một số biện pháp rèn luyện KNDH Toán cho SV ngành GDTH
thông qua dạy học số tự nhiên, giúp SV có kiến thức về KN và thực hành
đƣợc các KN một cách thành thạo, góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo GV
Tiểu học tại trƣờng Cao đẳng Sơn La, đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tƣợng nghiên cứu: Các KNDH Toán ở Tiểu học
- Phạm vi nghiên cứu: SV ngành GDTH tại trƣờng Cao đẳng Sơn La
- Khách thể nghiên cứu: Chƣơng trình, nội dung dạy học Toán ở Tiểu
học, đặc biệt là nội dung dạy học số tự nhiên; Việc rèn nghề cho SV tại Tổ
Tiểu học, Khoa sƣ phạm Tiểu học – Mầm non, trƣờng Cao đẳng Sơn La.
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu chƣơng trình môn Toán ở Tiểu học, đặc biệt là nội dung dạy
học số tự nhiên ở Tiểu học.
- Các KNDH cơ bản trong môn Toán ở Tiểu học, đặc biệt là những
KNDH số tự nhiên.
- Tìm hiểu thực trạng việc rèn luyện các KNDH Toán của SV ngành
GDTH, Khoa sƣ phạm Tiểu học – Mầm non, Trƣờng Cao đẳng Sơn La.
- Đề xuất một số biện pháp góp phần rèn luyện KNDH Toán cho SV
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số vấn đề về kĩ năng dạy học môn Toán ở Tiểu học
1.1.1. Kĩ năng dạy học
* Kĩ năng
Để xây dựng đƣợc một đội ngũ GV có chất lƣợng đòi hỏi phải tích hợp
rất nhiều yếu tố: chất lƣợng đào tạo tại các trƣờng sƣ phạm, tuyển dụng, đạo
đức nghề nghiệp, tài chính, kiến thức chuyên môn, KNDH,… trong đó,
KNDH là vấn đề rất cần đƣợc quan tâm và cũng đƣợc chỉ rõ trong các văn
bản của Đảng, chính phủ Việt Nam, Bộ Giáo dục Việt Nam.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về KN. Những định nghĩa này
thƣờng bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của ngƣời viết.
Có tác giả quan niệm: KN là sự biểu hiện kết quả thực hiện hành động
trên cơ sở kiến thức đã có. KN là tri thức trong hành động.
Có ngƣời lại cho rằng: KN là năng lực hay khả năng chuyên biệt của
một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó đƣợc sử dụng … để giải
quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống.
Về mặt chiết tự, theo Từ điển Tiếng Việt:
+ Kĩ: sự khéo léo (kĩ thuật, kĩ nghệ,..)
+ Năng: khả năng, sự có thể
Nên có thể hiểu: KN là sự khéo léo vận dụng kiến thức, lí thuyết nào đó
vào hoạt động thực hành.
Cũng theo Từ điển Tiếng Việt, KN là khả năng vận dụng kiến thức đã
thu nhận đƣợc trong một lĩnh vực nhất định vào thực tế.
Nhƣ vậy, hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng KN đƣợc hình thành khi
chúng ta vận dụng KT vào thực tiễn.
Do đó có thể thấy:
6
nghiệm sƣ phạm trong quá trình học tập và rèn luyện trong những điều kiện
khác nhau để thực hiện có hiệu quả hoạt động sƣ phạm.
- Phân loại:
KN sƣ phạm cũng là một hệ thống các thao tác, hành động phức hợp,
KN thành phần. Chúng có quan hệ mật thiết, đan xen, hỗ trợ và làm tiền đề
cho nhau.
Tuy nhiên, nếu phân loại theo chức năng của ngƣời GV thì KN sƣ
phạm bao gồm:
+ KN tổ chức các hoạt động dạy học
+ KN tổ chức các hoạt động giáo dục
Trong đó KN tổ chức các hoạt động dạy học là quan trọng vì nó thể
hiện chức năng cơ bản của ngƣời GV là dạy học.
* Kĩ năng dạy học
KNDH là một trong những KN sƣ phạm của ngƣời GV Tiểu học, có thể
nói đây là KN quan trọng nhất. Bởi lẽ, đã là GV, đã đi dạy học thì cần có
KNDH. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều GV còn xem trọng KT chuyên môn,
dẫn đến hạn chế về KN này.
Theo nhƣ trên, ta cũng có:
Quan niệm: KNDH là hệ thống các thao tác, hành động phức hợp, vận
dụng KT và kinh nghiệm sự phạm trong những điều kiện khác nhau nhằm
thực hiện có hiệu quả hoạt động dạy học.
+ KNDH là khả năng của ngƣời dạy thực hiện có kết quả công việc của
mình để đạt đƣợc mục đích dạy học đã xác định bằng cách lựa chọn và sử
dụng những cách thức hành động phù hợp với ngƣời học, điều kiện, hoàn
cảnh và phƣơng tiện nhất định.
+ KNDH là những KN đảm bảo cho hoạt động dạy học của ngƣời GV
đem lại hiệu quả cao.
8
9
đích, có nội dung, có chƣơng trình, có kế hoạch, có phƣơng pháp dƣới sự chỉ
đạo của ngƣời GV. Do đó, ngƣời GV cần có KN xây dựng kế hoạch dạy học.
Nhóm KN thiết kế kế hoạch dạy học bao gồm hệ thống nhóm nhỏ
KN sau:
- Nhóm KN phân tích chƣơng trình: Phân tích mục đích, yêu cầu của
chƣơng trình bao gồm các yêu cầu tổng quát về KT, về KN, về thái độ.
- Nhóm KN lựa chọn phƣơng pháp, phƣơng tiện và hình thức dạy học.
- Nhóm KN thiết kế bài soạn: xây dựng đƣợc cấu trúc các hoạt động
dạy học, dự kiến đƣợc nội dung các hoạt động của thầy và trò, dự kiến phân
phối thời gian, trình bày hoạt động học tập của HS theo mẫu giáo án hợp lí.
- Nhóm KN chuẩn bị bài lên lớp: đòi hỏi GV hiểu rõ nội dung tri thức
của bài giảng. Có óc tƣởng tƣợng sƣ phạm và dự kiến đƣợc các tình huống,
cách xử lí tình huống có thể xảy ra trong tiết học.
Có thể hình thành và rèn luyện nhóm KN này cho SV ngay từ năm đầu
, thông qua việc rèn luyện nghiệp vụ sƣ phạm thƣờng xuyên. Chuẩn bị cho
bƣớc rèn luyện cao hơn là kiến tập và thực tập sƣ phạm. Trong quá trình đào
tạo trƣờng sƣ phạm có thể rèn luyện cho SV nhóm KN này ở mức độ thành
thạo cơ bản.
* Nhóm kĩ năng tổ chức thực hiện kế hoạch
Việc tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học và giáo dục về cơ bản là hoạt
động chủ yếu của ngƣời GV, có tác dụng quyết định đối với chất lƣợng hiệu
quả của giáo dục và dạy học. Vì vậy, đây là nhóm KN cơ bản nhất cần rèn
luyện cho SV trong quá trình đào tạo. Các KN cụ thể của nhóm này bao gồm:
- KN ổn định tổ chức lớp: là bƣớc chuẩn bị những điều kiện khách
quan, chủ quan cho việc dạy học.
- Nhóm KN tổ chức các hoạt động học tập của HS: nhóm KN này bao
gồm một số KN sau:
trong quá trình SV học phƣơng pháp giảng dạy bộ môn, rèn luyện nghiệp vụ
11
sƣ phạm thƣờng xuyên và trong quá trình kiến tập, thực tập sƣ phạm. Trƣờng
sƣ phạm có thể hình thành nhóm KN này cho hầu hết SV ở mức độ làm đƣợc
trở lên, một số KN thuộc nhóm này có thể rèn luyện cho SV ở mức thành thạo
cơ bản.
* Nhóm kĩ năng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động dạy học
GV phải có biện pháp kiểm tra đánh giá một cách khách quan, trung
thực, phản ánh đúng thực lực học tập và tu dƣỡng của từng HS. Kiểm tra đánh
giá phải toàn diện, tức phải xem xét cả ba mặt của KT, KN và thái độ của HS.
Trong dạy học nhóm KN này bao gồm một số KN cụ thể:
- KN ra đề thi, kiểm tra
- KN lập biểu điểm, đáp án rõ ràng, chính xác
- KN tổ chức thi, kiểm tra. Vừa phải đảm bảo tính ngiêm túc vừa đảm
bảo không khí tự nhiên thoải mái cho HS làm bài
- KN cho điểm và đánh giá
- KN trả và chữa bài
Đây là một trong những KN quan trọng trong quá trình dạy học. Tuy
nhiên việc rèn luyện KN này cho SV ở các trƣờng sƣ phạm còn hạn chế, chủ
yếu sau khi ra trƣờng, trong quá trình công tác giảng dạy SV phải tự mò mẫm,
học hỏi ở đồng nghiệp có kinh nghiệm.
1.1.3. Đặc điểm môn Toán ở Tiểu học
1. Chƣơng trình môn Toán đƣợc xây dựng theo quan điểm tích hợp.
Các mạch kiến thức đƣợc sắp xếp xen kẽ và bổ trợ cho nhau, trong đó nội
dung số học và mạch kiến thức cơ bản, nó chi phối và quyết định việc lựa
chọn những nội dung toán học ở các mạch kiến thức khác để dạy ở mỗi lớp.
2. Trọng tâm môn Toán ở Tiểu học là số tự nhiên, phân số, số thập
các lớp dƣới nên số lƣợng hình vẽ, tranh ảnh, minh họa cũng giảm so với các
lớp 1, 2, 3. Các hình ảnh minh họa trong SGK toán 4, 5 đã đƣợc tập thể tác
giả cân nhắc, lựa chọn sao cho chúng hỗ trợ đúng mức với sự nhận thức và
13
phát triển tƣ duy của HS.
Trong chƣơng trình Toán ở Tiểu học, nội dung dạy học về số tự nhiên
chiếm thời lƣợng lớn, từ lớp 1 đến kì 1 của lớp 4, là cơ sở, tiền đề để HS tiếp
thu các tri thức khác trong môn Toán nói chung và Toán Tiểu học nói riêng.
Nhƣ vậy, hệ thống các KNDH Toán cũng sẽ đƣợc thể hiện rõ qua các KN dạy
học nội dung số tự nhiên. Trƣớc tiên, ta sẽ đi tìm hiểu chi tiết nội dung dạy
học số tự nhiên ở Tiểu học.
Nội dung dạy học số tự nhiên ở Tiểu học gồm các vấn đề:
+ Dạy các khái niệm ban đầu về số tự nhiên (hình thành biểu tƣợng số
tự nhiên, đọc, viết, phân tích cấu tạo thập phân của các số tự nhiên)
+ So sánh, sắp thứ tự các số tự nhiên bất kì
+ Bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia các số tự nhiên bất kì
+ Tính chất của các phép tính trên số tự nhiên
+ Tính chất của dãy số tự nhiên
1.1.4. Kĩ năng dạy học môn Toán ở Tiểu học
Trong từng môn học, để dạy tốt GV vừa phải có các KN chung, vừa
phải có những KN riêng theo đặc trƣng của môn học đó. Có thể phân loại:
KNDH Toán ở Tiểu học, KNDH Tiếng Việt ở Tiểu học,… Với mỗi nội dung
của môn học, ta cũng có những KN tƣơng ứng để dạy tốt nội dung đó.
Trên cơ sở xây dựng khái niệm về KN và KNDH, chúng tôi đi đến xây
dựng khái niệm về KNDH môn Toán:
KNDH môn Toán là sự thực hiện có kết quả một số thao tác hay một
loạt các thao tác phức tạp của một hay nhiều hành động dạy học môn Toán
Cụ thể:
1. Kĩ năng phân tích nội dung dạy học số tự nhiên
Đây là KN rất quan trọng, bởi muốn thực hiện đƣợc mục tiêu dạy học
số tự nhiên, SV cần phải biết mục tiêu đó đƣợc thể hiện thông qua nội dung
nhƣ thế nào. Với KN này, trƣớc một chƣơng, một lớp hay một bài học trong
15
SGK Toán Tiểu học, SV có khả năng phân tích đặc điểm cấu trúc, những yêu
cầu về chuẩn KT và KN của HS khi học toán ở thời điểm dạy học những bài
đó. Quan trọng hơn nữa là: SV biết xác định mục tiêu, cấu trúc một bài lên
lớp để đảm bảo dạy học đúng mục tiêu, nội dung đầy đủ, chính xác, vừa sức,
không dạy quá nội dung yêu cầu.
Ví dụ: Để dạy HS có biểu tƣợng về những số mới, đặc biệt là các số lớn
(các số trong phạm vi 10 000 trở đi), SGK thƣờng có 2 tới 3 tiết dạy. Phân
tích ra, SV sẽ thấy mục tiêu của 3 tiết học này hoàn toàn khác nhau:
Tiết 1: Giúp HS biết đọc, viết số có nhiều chữ số (trƣờng hợp các chữ
số ở các hàng đều khác 0)
Tiết 2: Giúp HS biết đọc, viết số có nhiều chữ số (trƣờng hợp các chữ
số ở một hay một số hàng là 0)
Tiết 3: Giúp HS nắm đƣợc cấu tạo thập phân của các số có nhiều chữ số
thông qua việc viết các số có nhiều chữ số thành tổng giá trị các hàng và
ngƣợc lại
Đây là những mục tiêu cụ thể khi dạy học hình thành khái niệm số mới
có nhiều chữ số cho học sinh, nhƣng nếu đặt cả ba mục tiêu này trong một bài
thì nội dung bài học quá dài, không phù hợp với thời lƣợng học tập của HS
tiểu học và cũng quá khả năng nhận thức của các em. Nhƣ vậy việc biên soạn
thành 3 tiết học là hoàn toàn phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh.
2. Kĩ năng xây dựng kế hoạch bài học
giáo án điện tử hay những thiết bị trình chiếu…
6. Kĩ năng lựa chọn, vận dụng phối hợp các phƣơng pháp dạy học và
hình thức tổ chức dạy học theo định hƣớng đổi mới
Đây là KN lựa chọn và sử dụng phối hợp hợp lí các phƣơng pháp và
hình thức tổ chức dạy học để tạo nên một phƣơng pháp học tập tối ƣu trong
bài dạy. Phƣơng pháp tối ƣu đó là phƣơng pháp mà GV chỉ có vai trò định
17
hƣớng, tổ chức, điều khiển các hoạt động học tập nhƣng lại phát huy đƣợc tối
đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS.
7. Kĩ năng giao tiếp, ứng xử tình huống sƣ phạm
Quá trình dạy học là quá trình tƣơng tác hoạt động giữa GV và HS, HS
với HS nên sẽ nảy sinh những tình huống giao tiếp. GV phải làm gì để giải
quyết các tình huống sƣ phạm nảy sinh trong quá trình dạy học là một biện
pháp nghệ thuật, đòi hỏi GV phải có KN giao tiếp, ứng xử tình huống sƣ phạm.
8. Kĩ năng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Đây là kĩ năng GV tiến hành tổ chức các hoạt động kiểm tra, làm thi
sau mỗi giai đoạn học tập của HS. Phân tích các kết quả của bài kiểm tra giúp
SV nắm bắt đƣợc tình hình học tập của HS, những cái đƣợc và cái chƣa đƣợc;
nhận đƣợc những thông tin phản hồi từ phía ngƣời học về quá trình dạy và
học để có những điều chỉnh phù hợp
9. Kĩ năng tổ chức các hoạt động ngoại khóa
Bên cạnh những hoạt động chính khóa thì việc dạy học Toán HS Tiểu
học còn đƣợc tiến hành qua những hoạt động ngoại khóa. Các hoạt động
ngoại khóa về Toán đƣợc GV tổ chức trong lớp học hoặc cũng có thể do ban
giám hiệu nhà trƣờng tổ chức trong phạm vi nhà trƣờng, có thể ở những cấp
cao hơn thì thị xã, thành phố, tỉnh do Phòng Giáo dục và Đào tạo hay Sở Giáo
dục và đào tạo tổ chức. Thông qua những hoạt động ngoại khóa này, HS tiếp
thức đƣợc thành lập vào tháng 5 năm 2001, gồm 2 tổ chuyên môn là Tổ Giáo
dục Tiểu học và Tổ Giáo dục mầm non.
Tổ Giáo dục Tiểu học đến này có 15 giảng viên đều đã hoặc đang đƣợc
đào tạo trình độ Thạc sĩ. Đội ngũ giảng viên nhiệt tình trong công tác giảng
dạy và rèn nghề.
Đối tƣợng học sinh sinh viên của Tổ Giáo dục Tiểu học chủ yếu là học
sinh tại các vùng khó khăn, đa số là ngƣời dân tộc thiểu số, mức độ nhận thức
còn hạn chế và không đồng đều.
19