Hình thành kỹ năng dạy học môn toán cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học - Pdf 13

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Nguyễn Thị Hồng thắm
Hình
Hìnhthành
thànhkỹ
kỹnăng
năngdạy
dạyhọc
họcmôn
mônhọc
học
Luận văn thạc sĩ giáo dục học
2
Vinh - 2007
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Nguyễn Thị Hồng thắm
Hình
Hìnhthành
thànhkỹ
kỹnăng
năngdạy
dạydục
dụctiểu
tiểuhọc
học
Chuyên ngành: Giáo dục học (Cấp tiểu học)
Mã số: 60 14 01
Luận văn thạc sĩ giáo dục học
Ngời hớng dẫn khoa học:
TS. Nguyễn bá minh
Vinh - 2007
LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành được luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của
bản thân, chúng tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo
hướng dẫn TS. Nguyễn Bá Minh và sự góp ý tận tình của các thầy giáo,
cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học trường Đại học Vinh, các thầy, cô
giáo phản biện, sự khích lệ động viên của học viên lớp CH13 chuyên
ngành Giáo dục học (cấp tiểu học), sự giúp đỡ nhiệt tình của các bạn SV
khoá 44 ngành GDTH và của tập thể GV các trường tiểu học trên địa
bàn huyện Can Lộc - Hà Tĩnh.
Chúng tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến
thầy giáo hướng dẫn cùng các thầy, cô giáo trong khoa, các thầy cô
giáo phản biện và các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy khoá CH13 -

1.2.3.1. Khái niệm về KNDH 10
1.2.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành KNDH
cho SV 10
1.2.3.3. Hệ thống KNDH 11
1.2.3.4. Cấu trúc của KNDH 15
1.2.3.5. Hình thành KNDH 15
1.2.4. KN dạy học môn Toán 16
12.4.1. Khái niệm 16
1.2.4.2. Cấu trúc KNDH môn Toán ở TH 16
1.2.4.3. Quá trình hình thành KNDH môn Toán của SV
ngành GDTH 17
1.3. Khái quát về môn Toán ở TH 22
1.3.1. Mục tiêu 22
1.3.2. Đặc điểm môn Toán ở TH 23
1.3.3. PPDH môn Toán ở TH 28
1.4. Ý nghĩa của việc hình thành KNDH môn Toán cho SV ngành GDTH
36
1.5. Tiểu kết chương 1 37
7
Chương 2: Thực trạng KNDH môn Toán của GVTH 39
2.1. Khảo sát thực trạng 39
2.1.1. Mục đích khảo sát 39
2.1.2. Đối tượng khảo sát 39
2.1.3. Nội dung khảo sát 39
2.1.4. Phương pháp điều tra khảo sát 40
2.2. Phân tích kết quả 40
2.2.1. Thực trạng nhận thức của GVTH về KNDH 40
2.2.2. Thực trạng nhận thức của GVTH về KNDH môn Toán 43
2.2.3. Thực trạng KNDH môn Toán của GVTH 45
2.2.4. Thực trạng rèn luyện KNDH môn Toán của SV ngành GDTH

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Việc hình thành KN sư phạm nói chung và KNDH nói riêng là một
trong những mục tiêu cơ bản của quá trình đào tạo GVTH có trình độ đại học
theo chương trình mới. Đào tạo GVTH cần kiên trì với mục tiêu lấy việc hình
thành KN của nghề dạy học làm đặc trưng nổi bật cho quá trình đào tạo ở
trường sư phạm. Tuy nhiên, mặt đào tạo này cho đến nay vẫn chưa đạt kết quả
như mong muốn, chưa tương ứng với vốn tri thức mà sinh viên được trang bị
và chưa thể hiện được sự khác biệt về chất so với các hệ đào tạo khác thấp
hơn. Nguyên nhân cơ bản của thực trạng này là do nội dung, cấu trúc, và quá
trình hình thành các KNDH ở trường sư phạm vẫn có những vấn đề chưa
tường minh. Bậc tiểu học có những đặc thù riêng, mỗi GV sẽ phải dạy tất cả
các môn học. Do vậy, trong quá trình đào tạo ở trường sư phạm, việc hình
thành KN đòi hỏi phải chi tiết, đi vào từng môn học cụ thể và có quy trình rèn
luyện riêng cho mỗi môn. Có như vậy mới cung cấp cho SV một vốn KN
nghề nghiệp cơ bản, tối thiểu cần thiết một cách chắc chắn, đạt được một
trong những chuẩn nghề nghiệp của GVTH và tương ứng với trình độ đào tạo
để họ có thể hoàn thành tốt ngay từ đầu nhiệm vụ dạy học ở trường tiểu học.
Việc hình thành KNDH môn toán cho SV ngành GDTH hiện nay cũng
không nằm ngoài quỹ đạo đó. Hầu hết các trường sư phạm vẫn chưa xây dựng
được quy trình rèn luyện KNDH môn Toán cho SV, hoạt động rèn luyện KN
của SV đang còn mang tính chất tự mò mẫm là chủ yếu. Do vậy trong quá
trình thực hiện họ còn gặp nhiều lúng túng và kết quả thu được từ hoạt động
này nói chung là chưa cao. Chính vì vậy việc xây dựng một quy trình rèn
luyện KNDH môn Toán cho SV ngành GDTH đang là một vệc làm cấp bách
để nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho SV, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới
11
phương pháp cũng như nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở cấp Tiểu
học hiện nay.
Từ những lí do trên chúng tôi quyết định đi đến chọn đề tài nghiên cứu
là: “Hình thành kỹ năng dạy học môn Toán cho sinh viên ngành Giáo dục

- Làm rõ thực trạng KNDH môn Toán của GVTH và việc hình thành
KNDH môn Toán cho SV ngành GDTH.
- Đề xuất, xây dựng quy trình rèn luyện KNDH môn Toán cho SV
ngành GDTH.
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục. Luận văn
gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
Chương 3: Quy trình hình thành KNDH môn Toán cho sinh viên ngành
GDTH.

13
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cần nhấn mạnh rằng vấn đề KNDH không phải là mới. Ngay từ những
năm 20 ở Liên Xô và các nước Đông âu đã có nhiều công trình nghiên cứu
KNDH cho SV sư phạm và đến những năm 1960 vấn đề nghiên cứu trên đã
trở thành hệ thống lí luận và kinh nghiệm vững chắc với những công trình của
N.V.Kuzmina, O.A.Abdoullina, N.V.Bondyrev vv.
Vào những năm 1970 nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức lao động
khoa học và tối ưu hoá quá trình dạy học đã được tiến hành, như công trình
của M.Ia.Côvaliôv, Iu.Kbabanxki, N.I.Bondurev. Đáng chú ý hơn cả là công
trình nghiên cứu của X.I.Kixêgôv: “Hình thành KN, kĩ xảo sư phạm trong
điều kiện giáo dục đại học”. Tác giả nêu ra hơn 100 KN nghiệp vụ giảng dạy
và giáo dục, trong đó tập trung 50 KN cần thiết được phân chia luyện tập theo
từng thời kì thực hành, thực tập sư phạm cụ thể.
O.A.Abdoullina cũng đã luận chứng và đưa ra một hệ thống các KN
giảng dạy và KN giáo dục riêng biệt và được mô tả cụ thể theo thứ bậc.

Năm 1995, một công trình nghiên cứu có giá trị về vấn đề rèn luyện
nghiệp vụ sư phạm cho SV là đề tài: “Hình thành KN sư phạm cho giáo sinh
sư phạm” của Nguyễn Hữu Dũng. Trong đề tài này tác giả đã làm sáng tỏ cơ
sở lí luận về KN sư phạm, vị trí của KN sư phạm trong việc hình thành năng
lực sư phạm cho SV.
Sau này có nhiều đề tài cấp bộ, nhiều luận án tiếp tục tìm hiểu KN sư
phạm và con đường hình thành những KN đó cho SV. Đáng chú ý là luận án
của tác giả Nguyễn Như An: “Hệ thống KN dạy học trên lớp về môn giáo dục
học và quy trình rèn luyện KN đó cho SV khoa Tâm lí - Giáo dục”. Đây là
15
công trình nghiên cứu tương đối cơ bản, có hệ thống về vấn đề luyện tập các
KN giảng dạy cho SV. Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Anh Tuấn (1996):
“Xây dựng quy trình luyện tập các KN giảng dạy cơ bản trong các hình thức
thực hành thực tập sư phạm”, cùng với việc chỉ ra các nhóm KNDH cần thiết
tác giả cũng đã hình thành quy trình rèn luyện các KN đó cho SV trong các
đợt thực hành, thực tập sư phạm.
Tác giả Nguyễn Đình Chỉnh cũng quan tâm đến việc hình thành KN
nghề nghiệp cho SV ngành GDTH. Tác giả đã xây dựng quy trình luyện tập KN
nghề nghiệp cho SV gồm hai giai đoạn: Giai đoạn luyện tập cơ bản và giai đoạn
luyện tập cũng cố hoàn thiện. Mỗi giai đoạn lại có các bước tiến hành cụ thể.
Gần đây nhất trên các số báo của Tạp chí giáo dục đã đăng một số bài
về việc hình thành KNDH ở một số môn cho SV ngành GDTH. Cụ thể, môn
Đạo đức của tác giả Phạm Minh Hùng (số 136), môn Tập đọc của tác giả Lê
Thanh Bình (số145). Các tác giả đã đưa ra quy trình hình thành KNDH cho
SV ngành GDTH ở từng môn học cụ thể. Đó là một hệ thống thao tác liên tục
với các bước cụ thể.
Việc hình thành KNDH cho SV nói chung và SV ngành GDTH nói
riêng bước đầu đã được quan tâm và đề cập tới ở một số môn học (môn Tiếng
Việt, Đạo đức, Tự nhiên xã hội). Tuy nhiên, việc hình thành KNDH môn
Toán cho SV ngành GDTH thì chưa có tác giả và tài liệu nào đề cập tới.

Trong từ điển Tâm lí học do Vũ Dũng chủ biên đã định nghĩa: “KN là
năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ
thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [7, 132].
Có thể thấy, các nhà tâm lí học theo khuynh hướng thứ hai này khi bàn
về KN lại rất chú ý tới mặt kết quả của hành động.
17
Xét về mặt bản chất hai quan niệm trên không phủ định lẫn nhau. Sự
khác biệt là ở chổ mở rộng hay thu hẹp thành phần cấu trúc của KN mà thôi.
Có thể hiểu: KN là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay
một hoạt động nào đó trong những điều kiện nhất định, bằng cách vận dụng
và lựa chọn những tri thức, kinh nghiệm đã có.
Khi bàn về KN cần lưu ý một số điểm sau đây.
- KN trước hết là mặt kĩ thuật của một thao tác hay một hành động nhất
định, không có KN chung chung, trừu tượng tách rời hành động cá nhân của
con người. Khi nói tới KN là nói tới một hành động cụ thể đạt tới mức đúng
đắn và thuần thục nhất định.
- Thành phần của KN bao gồm tri thức, kinh nghiệm đã có, quá trình
thực hiện hành động, sự kiểm soát thường xuyên trực tiếp của ý thức và kết
quả của hành động.
- Tiêu chuẩn để xác định sự hình thành và mức độ phát triển của KN là:
tính chính xác, tính thành thạo, tính linh hoạt và sự phối hợp nhịp nhàng các
động tác trong hành động. Hành động chưa thể trở thành KN nếu hành động
đó còn vụng về, còn tiêu tốn nhiều công sức và thời gian để triển khai.
1.2.1.2. Phân biệt KN và kĩ xảo
Tuy có sự khác nhau đôi chút về định nghĩa, song hầu hết các nhà
nghiên cứu đều thống nhất: “Kĩ xảo là loại hành động được tự động hoá nhờ
luyện tập. Nó có đặc điểm: Không có sự kiểm soát thường xuyên của ý thức,
động tác mang tính khái quát, không có động tác thừa, kết quả cao mà ít tốn
năng lượng thần kinh và bắp thịt” [9, 225].
Kĩ năng và kĩ xảo về bản chất đều là các thuộc tính kĩ thuật của hành

- Chốt lại kiến thức trọng tâm của bài.
- Kiểm tra lại mức độ kiến thức hiện có của HS.
19
Trên đây là các bước cơ bản đòi hỏi GV phải trải qua trong khi tiến
hành một bài dạy cụ thể. Tương ứng với mỗi bước trong cấu trúc của quy
trình DH sẽ có một hệ thống KNDH tương ứng. Chính vì vậy, đây cũng là
một trong những cơ sở để chúng tôi xây dựng hệ thống KNDH.
1.2.3. Kĩ năng dạy học
1.2.3.1. Khái niệm
Trong luận án tiến sĩ của Nguyễn Như An có đưa ra định nghĩa: “Kĩ
năng dạy học là sự thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt thao tác
phức tạp của một hành động giảng dạy, bằng cách lựa chọn và vận dụng
những tri thức, những cách thức và quy trình đúng đắn”. Tương tự như vậy
trong luận án tiến sĩ của mình tác giả Trần Anh Tuấn cũng đưa ra định nghĩa:
“Kĩ năng dạy học là sự thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt thao
tác phức hợp của một hành động giảng dạy bằng cách lựa chọn và vận dụng
những tri thức chuyên môn và nghiệp vụ cần thiết cho các tình huống dạy học
xác định” [23, 71].
Khi bàn về khái niệm KNDH tác giả Phạm Minh Hùng cho rằng:
KNDH là sự thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt thao tác phức
tạp của một hay nhiều hành động DH bằng cách lựa chọn và vận dụng những
tri thức, những cách thức, những quy trình đúng đắn, đảm bảo cho hoạt động
DH của người GV đạt kết quả cao [14, 10].
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn của chúng tôi sử dụng khái niệm
KNDH theo định nghĩa của tác giả Phạm Minh Hùng.
1.2.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành KNDH cho SV
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành KNDH cho SV. Sau
đây chúng tôi sẽ trình bày một số yếu tố cơ bản nhất.
- Hệ thống tri thức là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành KN.
Để hình thành KNDH cho SV cần trang bị cho họ các loại tri thức như: Tri

a. Nhóm KN hiểu HS
Là khả năng thâm nhập vào thế giới tâm lí của HS. Thể hiện ở việc
người GV xác định được mức độ khối lượng kiến thức đã có ở HS và mức độ
khối lượng kiến thức mới cần tổ chức cho trẻ lĩnh hội. Đồng thời, thông qua
quan sát và kiểm tra có thể xây dựng được những biểu tượng đúng đắn về
nhận thức của mỗi HS, dự đoán được những thuận lợi và khó khăn cũng như
sự căng thẳng cần thiết của các em trong quá trình học tập.
Việc hình thành KN này cho SV trong quá trình đào tạo là rất khó.
Trong trường sư phạm, chỉ bước đầu định hình KN này cho SV mà thôi. Để
có KN hiểu học sinh, người GV phải trải qua rất nhiều kinh nghiệm trong
hoạt động nghề nghiệp.
b. Nhóm KN thiết kế kế hoạch dạy học
Một đặc điểm quan trọng của giáo dục nhà trường là tiến hành có mục
đích, có nội dung, có chương trình, có kế hoạch, có phương pháp dưới sự chỉ đạo
của người GV. Do đó, người GV cần phải có KN xây dựng kế hoạch dạy học.
Nhóm KN thiết kế kế hoạch dạy học bao gồm hệ thống nhóm nhỏ KN sau:
- Nhóm KN phân tích chương trình: Phân tích mục đích yêu cầu của
chương trình bao gồm các yêu cầu tổng quát về tri thức, về KN, về thái độ.
- Nhóm KN lựa chọn phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học.
- Nhóm KN thiết kế bài soạn: Xây dựng được cấu trúc các hoạt động
dạy học, dự kiến được nội dung các hoạt động của thầy và trò, dự kiến phân
phối thời gian, trình bày hoạt động học tập của HS theo mẫu giáo án hợp lí.
- Nhóm KN chuẩn bị bài lên lớp: Đòi hỏi GV nắm vững nội dung tri
thức của bài giảng. Có óc tưởng tượng sư phạm và dự kiến được các tình
huống, cách xử lí tình huống có thể xảy ra trong tiết học.
Có thể hình thành nhóm KN này cho SV ngay từ năm thứ hai, thông
qua việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên. Chuẩn bị cho bước rèn
22
luyện cao hơn là kiến tập và thực tập sư phạm. Trong quá trình đào tạo trường
sư phạm có thể rèn luyện cho SV nhóm KN này ở mức thành thạo cơ bản.

và cách thức hành động mới.
- Nhóm KN cũng cố, tóm tắt lại bài giảng, khắc sâu những vấn đề quan
trọng, những kiến thức trọng tâm, có thể thực hiện bằng các phương pháp
như: Phát vấn; cho HS làm bài tập; sử dụng mô hình hệ thống hoá bài học; đặt
những bài tập kiểu gài bẫy cho HS.
Nhóm KN tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học chủ yếu được rèn luyện
trong quá trình SV học phương pháp giảng dạy bộ môn, rèn luyện nghiệp vụ
sư phạm thường xuyên và trong quá trình kiến tập thực tập sư phạm.
Trường sư phạm có thể hình thành nhóm KN này cho hầu hết SV ở mức
độ làm được trở lên.
d. Nhóm KN kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động dạy học
GV phải có biện pháp kiểm tra đánh giá một cách khách quan, trung
thực, phản ánh đúng thực lực học tập và tu dưỡng của từng HS. Kiểm tra đánh
giá phải toàn diện, tức phải xem xét cả ba mặt của tri thức, KN và thái độ của HS.
Trong dạy học nhóm KN này bao gồm một số KN cụ thể sau:
- KN ra đề thi, kiểm tra.
- KN lập biểu điểm, đáp án rõ ràng, chính xác.
- KN tổ chức thi, kiểm tra. Vừa phải đảm bảo tính nghiêm túc vừa đảm
bảo không khí tự nhiên thoải mái cho HS làm bài.
- KN cho điểm và đánh giá.
- KN trả và chữa bài.
Đây là một trong những KN quan trọng trong quá trình dạy học. Tuy
nhiên việc rèn luyện KN này cho SV ở các trường sư phạm còn hạn chế, chủ
24
yếu sau khi ra trường trong quá trình công tác giảng dạy GV tự mò mẫm và
học hỏi ở các đồng nghiệp có kinh nghiệm.
1.2.3.4. Cấu trúc của KN dạy học
Cấu trúc là toàn bộ nói chung những quan hệ bên trong giữa các thành
phần tạo nên một chỉnh thể [28, 128].
Khi nói đến một cấu trúc bất kì là chúng ta nghĩ ngay đến các thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status