Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Mơn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế
MỤC LỤC
Trang
1. CÁC NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG TRONG QUAN HỆ KTQT 2
2. BÁN PHÁ GIÁ (BẢN 1) 6
3. BÁN PHÁ GIÁ (BẢN 2) 10
4. LIÊN KẾT KINH TẾ QUỐC TẾ 16
5. TÀI TR XUẤT KHẨU 20
6. HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT MỸ (BẢN 1) 29
7. HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT MỸ (BẢN 2) 38
8. RÀO CẢN KỸ THUẬT (BẢN 1) 49
9. RÀO CẢN KỸ THUẬT (BẢN 2) 57
10. TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO (BẢN 1) 68
11. TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO (BẢN 2) 77
12. TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO (BẢN 3) 89
13. TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO (BẢN 4) 100
14. TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO (BẢN 5) 109
15. TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO (BẢN 6) 118
Trang 1
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Môn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế
CÁC NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG TRONG QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
PHÂN TÍCH CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI
VIỆT NAM THỰC THI ĐẦY ĐỦ CÁC NGUYÊN TẮC NÀY
TRONG QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
I. CÁC NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG TRONG QUAN HỆ KINH TẾ
QUỐC TẾ:
1/. Nguyên tắc “Tối huệ quốc” MFN –Most Favoured Nation:
a- Khái Niệm :
Đây là một phần của nguyên tắc “không phân biệt đối
chính phủ của quốc gia cho hưởng đòi hỏi.
+ Áp dụng chế độ tối huệ quốc không điều kiện : là nguyên tắc nước
này cho nước khác hưởng chế độ MFN mà không kèm theo điều kiện
ràng buộc nào cả.
Theo tập quán quốc tế thì nguyên tắc Tối huệ quốc là
nguyên tắc điều chỉnh các mối quan hệ thương mại và kinh tế giữa
các nước trên cơ sở các hiệp định, hiệp ước ký kết giữa các nước một
cách bình đẳng và có đi có lại cùng có lợi.
Vì vậy để đạt được chế độ “Tối huệ quốc” của một quốc
gia khác thì có 2 phương pháp thực hiện:
+ Thông qua đàm phán song phương để ký kết các hiệp định thương
mại
+ Gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO
d- Nguyên tắc chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập GSP (The
Generalized Systems Preferential)
* Khái niệm:
Là chế độ tối huệ quốc đặc biệt của các nước công nghiệp
phát triển dành cho các nước đang phát triển khi đưa hàng công
nghiệp chế biến vào các nước này.
Nội dung chính của chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập là:
+ Giảm thuế hoặc miễn thuế quan đối với hàng nhập khẩu từ các nước
đang hoặc kém phát triển.
+ GSP áp dụng cho các loại mặt hàng công nghiệp thành phẩm hoặc
bán thành phẩm và hàng loạt các mặt hàng công nghiệp chế biến.
* Bản chất :
Chế độ ưu đãi được xây dựng trên cơ sở không có sự phân
biệt và không đòi hỏi bất kỳ nghĩa vụ nào từ phía các nước đang phát
triển.
Chế độ GSP không mang tính “có đi có lại”: không buộc
các nước được nhận ưu đãi theo chế độ GSP, phải cho các nước cho
+ Các sản phẩm rất nhạy cảm ví dụ như : dệt may, quần áo
+ Các sản phẩm nhạy cảm ví dụ như sản phẩm da, giày dép
+ Các sản phẩm bán nhạy cảm ví dụ như đồ trang sức , hàng điện tử
và một số hàng da
+ Các sản phẩm không nhạy cảm vd: nội thất bằng gỗ, đồ chơi, trò
chơi, hàng thể thao
* Cơ chế hoạt động:
- Những nước đang có chế độ ưu đãi phổ cập:
+Hiện nay, có khoảng 16 chế độ ưu đãi khác nhau đang
hoạt động tại 36 nước phát triển, bao gồm 27 nước thành viên của EU.
+ EU: Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Lúc- xăm-bua, Anh,
Ailen, Đan mạch, Hylạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Áo, Thuỵ Điển,
Phần lan, Séc, Hungaria, Ba Lan, Slovakia, Slovenia, Litva, Latvia,
Estonia, Malta, Síp, Bungari và Rumani
+ Nhật, Niu - Di - Lân, Thuỵ Sĩ, Nga, Mỹ, các quốc gia
trung lập (CIS), Canada, Na - Uy, Ôx-Trây-Lia, Ru-Ma-Ni.
- Nước được hưởng GSP:
+ Bao gồm những nước đang phát triển và những nước kém phát
triển. Các nước kém phát triển thường được hưởng một chế độ đặc
biệt riêng, có nhiều ưu đãi hơn các nước đang phát triển. Đối với mỗi
quốc gia dành ưu đãi, các nước được hưởng được liệt kê trong danh
sách ban hành kèm theo chế độ GSP.
- Hàng hoá được hưởng ưu đãi:
+ Hàng hoá được hưởng ưu đãi được phân loại thành hai
nhóm: các sản phẩm công nghiệp và các sản phẩm nông nghiệp.
+ Danh mục hàng hoá được hưởng được các nước cho
hưởng ưu đãi ban hành có sửa đổi định kỳ và được xây dựng trên có
sở biểu thuế xuất nhập khẩu của nước đó.
+ Việc bổ sung hay loại bỏ một mặt hàng nào đó trong
Danh mục được các nước cho hưởng ưu đãi thực hiện dựa trên tình
đã chỉ trải qua một giai đoạn chế biến không đáng kể hoặc không ảnh
hưởng tới thành phần, bản chất của sản phẩm tại một nước được
hưởng ưu đãi, sẽ không được hưởng ưu đãi từ chế độ thuế quan GSP.
Có hai tiêu chuẩn được sử dụng để xác định hàng hóa có
thành phần nhập khẩu đã trãi qua “ quá trình gia công tái chế cần
thiết” hay chưa :
+Tiêu chuẩn gia công: những nguyên vật liệu, chi tiết hay
bộ phận nhập khẩu được coi là đã trãi qua “quá trình gia công tái chế
cần thiết” nếu như sản phẩm cuối cùng thu được nằm trong hạng mục
khác với những hạng mục của những nguyên vật liệu, chi tiết hay bộ
phận nhập khẩu sử dụng trong Biểu Thuế Quan Chung
+ Tiêu chuẩn tỷ trọng: Quy định tỷ lệ phần trăm tối thiểu
đối với lao động và nguyên vật liệu phải được sản xuất tại các nước
xuất khẩu hoặc quy định tỷ lệ phần trăm tối đa đối với nguyên vật liệu
nhập khẩu để làm hàng xuất khẩu sang nước cho hưởng GSP. Và
hàng hóa đạt được tiêu chuẩn tỷ trọng thì mới được coi là sản phẩm
thực sự sản xuất tại các nước được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi. Ở
các nước công nghiệp phát triển khác nhau, cách quy định tiêu chuẩn
về tỷ trọng có khác nhau.
Ngoài ra còn có hai quy tắc khác, đó là : Quy tắc cộng gộp và quy
tắc bảo trợ :
* Quy tắc cộng gộp theo khu vực:
- Theo hệ thống này thì những nước cho hưởng sẽ ký kết một thỏa
ước với một khối nước trong khu vực cho phép rằng một hàng hóa có
xuất xứ tại bất kỳ một nước nào đó trong khu vực, cũng được coi là có
xuất xứ một nước khác trong cùng khu vực đó.
* Quy tắc bảo trợ:
- Một số nước như Úc, Canada, Nhật Bản, NewZealand, EU áp
dụng quy tắc bảo trợ. Quy tắc này cho phép nguyên phụ liệu nhập từ
nước cho hưởng để sản xuất ra thành phẩm tại nước được hưởng sẽ có
thổ không phải là lãnh thổ của nước được hưởng xuất khẩu hoặc lãnh
thổ của EU, được coi là được vận chuyển thẳng từ nước được hưởng
đến EU, và ngược lại.
- Nhật quy định vận chuyển qua nước thứ ba phải vì lý do
địa lý hoặc vì yêu cầu của vận tải. Nhật chấp nhận, trên nguyên tắc,
việc chuyển tàu hoặc lưu kho tạm thời dưới sự giám sát của cơ quan
hải quan nước quá cảnh. Việc chuyển tàu hoặc lưu kho tạm thời phải
được thực hiện tại khu vực ngoại quan hoặc những nơi tương tự.
- Niu-Di-Lân quy định những sản phẩm của một nước
được hưởng được phép đưa vào thương mại tại một nước được hưởng
khác mà không mất tiêu chuẩn xuất xứ.
- Na-Uy không có quy định về vận tải
- Mỹ quy định:
Những sản phẩm phải đến Mỹ sau khi rời khỏi nước sản
xuất. Quy tắc riêng áp dụng cho những chuyến đi qua khu vực mậu
dịch tự do tại nước được hưởng như sau:
(a) Hàng hoá không được đưa vào buôn bán tại nước có khu vực mậu
dịch tự do đó.
(b) Hàng hoá không được trải qua bất kỳ hoạt động nào khác ngoài:
+ Lựa chọn, phân loaị, hoặc kiểm tra;
+ Đóng gói, tháo mở bao bì, thay đổi bao bì, gạn chắt hoặc
đóng gói lại vào công ten nơ khác;
+ Dán hay ghi ký hiệu, nhãn hiệu, hoặc những dấu hiệu
hay những điểm hoặc bao bì phân biệt tương tự khác, nếu mang tính
trợ giúp cho những hoạt động được phép theo những quy định đặc
biệt; hoặc
+ Những hoạt động cần thiết để bảo đảm việc bảo quản
hàng hoá trong tình trạng bình thường khi được đưa vào khu mậu dịch
tự do;
(c) Hàng hoá có thể được mua và bán lại, không phải là bán lẻ, để
Trang 3
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Môn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế
+ Canada, yêu cầu chính là lời trình bày của người xuất
khẩu trên hoá đơn hoặc làm thành bản riêng.
+ Niu-Di-Lân không đòi hỏi người xuất khẩu xuất trình
giấy chứng nhận xuất xứ hay tờ khai quy định chính thức, dù người
xuất khẩu có thể bị yêu cầu thẩm tra.
+ Nhật: Nhật chấp nhận giấy chứng nhận xuất xứ được cấp
bới cơ quan chính phủ (ví dụ: phòng thương mại)
* Chứng từ về vận chuyển thẳng:
- Đối với trường hợp xuất khẩu đến EU, Nhật, Na-Uy và Thuỵ Sĩ,
hàng hoá xuất khẩu đi qua lãnh thổ một nước thứ ba, chứng từ chứng
minh điều kiện vận chuyển thẳng đã được đáp ứng phải được trình
cho cơ quan hải quan nước nhập khẩu bao gồm:
+ Vận đơn suốt cấp tại nước xuất khẩu được hưởng, thể hiện
việc đi quan một hay nhiều nước quá cảnh; hoặc
+ Giấy chứng nhận của cơ quan hải quan của một hay nhiều
nước quá cảnh:
- Thể hiện mô tả chính xác hàng hoá;
- Ghi ngày dỡ hàng và xếp hàng hoặc ngày lên tàu hoặc
xuống tàu, ghi rõ tàu sử dụng;
- Xác nhận những tình trạng của sản phẩm trong khi đi qua
các nước quá cảnh.
+ Không có các giấy tờ trên, bất kỳ giấy tờ thay thế nào được
cho là cần thiết (ví dụ, bản sao lệnh mua hàng, hóa đơn của người
cung cấp hàng, vận đơn thể hiện tuyến đường hàng đi)
- Đối với hàng xuất sang Mỹ, người nhập khẩu có thể phải xuất trình
các giấy tờ hàng hải, hoá đơn hoặc các giấy tờ khác làm bằng chứng
chứng minh hàng hoá được nhập khẩu thẳng. Cơ quan hải quan Mỹ có
- Nội dung của Hiệp Định có thể khái quát trong 4 vấn đề cơ bản về
quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là:
Thương mại hàng hóa
Quyền sở hữu trí tuệ
Thương mại dịch vụ
Đầu Tư
* Tóm tắ́t cam kết thương mại hàng hóa của 2 phía Việt
Nam và Hoa Kỳ:
Phía Việt Nam Phía Hoa Kỳ
Hàng hóa Hoa Kỳ đưa vào Việt
Nam được hưởng Quy chế Tối
huệ quốc
Hàng hóa Việt Nam đưa vào Mỹ
được hưởng Quy chế Tối huệ
quốc
Hàng hóa Việt Nam đưa vào
Mỹ được hưởng Quy chế Tối
huệ quốc
Ngay lập tức và vô điều kiện,
Việt Nam có thể tổ chức phân
phối hàng hóa trên thị trường
Mỹ.
Việt Nam cam kết giải quyết
tranh chấp thương mại với Hoa
Kỳ theo các thông lệ quốc tế
Hoa Kỳ cam kết giải quyết tranh
chấp thương mại với Việt Nam
theo các thông lệ quốc tế
- Việc thực thi Quyền Sở hữu Trí Tuệ được đặt trên Nguyên tắc Đối
xử quốc gia
các nước thành viên đã chấp nhận khi chính thức trở thành thành viên
của WTO.
Hiện tại Tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO hiện có
khoảng 150 nước thành viên:
Tháng 7 năm 1995 Việt Nam chính thức trở thành hội viên của
ASEAN .
Hoạt động của khối ASEAN dựa trên Nguyên tắc bình
đẳng.Thông qua các chương trình hợp tác kinh tế giữa các nước
ASEAN để xây dựng ASEAN thành khu vực mậu dịch tự do AFTA
(Asean Free Trade Area).
- Bằng thực hiện kế hoạch thu thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung –
CEPT (Common Effective Preferentical on Tariff).
- Thông qua các chương trình hợp tác kinh tế giữa các nước ASEAN,
các nước trong khối ASEAN cam kết thực hiện Nguyên tắc Tối huệ
quốc dành cho nhau .
- Một sản phẩm khi xuất khẩu sang các nước trong nội bộ ASEAN,
muốn được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi theo chương trình CEPT,
thì phải đồng thời thõa mãn các điều kiện sau :
+ Sản phẩm đó phải nằm trong danh mục cắt giảm thuế
của nước xuất khẩu và nhập khẩu.
+ Sản phẩm đó phải có chương trình giảm thuế đươc Hội
đồng AFTA thông qua
+ Sản phẩm đó phải là một sản phẩm của khối ASEAN,
tức là phải thỏa mãn yêu cầu hàm lượng xuất xứ từ các nước thành
viên ASEAN( hàm lượng nội địa) ít nhất là 40%
Trang 4
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Môn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Việt Nam cam kết thực hiện lộ trình giảm thuế theo
CEPT/AFTA
thống ưu đãi thuế quan (GSP). GSP mới sẽ có hiệu lực trong 3 năm từ
1/1/2006 đến 31/12/2008. Theo đó, hàng hóa của Việt Nam tiếp tục
được hưởng GSP như trước và không có mặt hàng nào, kể cả giày
dép, bị đưa ra khỏi danh sách được hưởng GSP mới.
Ngoài chính sách ưu đãi thuế quan mới của EU, chính sách
GSP của các nước phát triển dành cho Việt Nam :
* NHẬT BẢN
+ Hệ thống ưu đãi GSP của Nhật, dựa trên thoả thuận đạt
được tại UNCTAD, nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của
các nước đang phát triển GSP của Nhật bắt đầu vào ngày 1/8/1971.
- Các sản phẩm được hưởng :
+ Sản phẩm nông nghiệp
- Nhật Bản dành ưu đãi cho một số sản phẩm hải sản và nông sản
thuộc 74 hạng mục thuế quan.
+ Sản phẩm công nghiệp:
- Ưu đãi được dành cho tất cả các sản phẩm công nghiệp bao gồm
khoáng sản và lâm sản trừ một số sản phẩm thuộc 27 hạng mục thuế
quan.
- Ưu đãi thuế quan:
- Các sản phẩm nông sản:
+ Việc cắt giảm thuế, bao gồm cả miễn thuế, được áp dụng
cho nhiều sản phẩm thuộc chế độ.
+ Các sản phẩm công nghiệp:
- Các sản phẩm công nghiệp thuộc chế độ về nguyên tắc được miễn
thuế trừ một số sản phẩm thuộc 66 hạng mục thuế quan là những sản
phẩm được cắt giảm 50% thuế so với thuế suất Tối huệ quốc.
* NAUY
+ Các nước đang phát triển (Các nước GSP), theo Na-Uy,
là những nước mà vào bất kỳ lúc nào đều được cơ quan Na-Uy công
nhận là nước đang phát triển và được liệt kê trong "Danh sách các
Hầu hết được miễn thuế.
+ Sản phẩm công nghiệp.
- Thuỵ sỹ dành ưu đãi cho tất cả các sản phẩm công nghiệp chịu thuế.
Những sản phần thuộc chế độ đều được miễn thuế trừ hàng dệt và
trang phục và tuy nhiên, đối với chúng ưu đãi là giảm 50% thuế bình
thường. Các nước kém phát triển đều được miễn thuế cho tất cả các
sản phẩm công nghiệp. Một số sản phẩm xuất xứ từ Trung Quốc, Hàn
Quốc và Macao chỉ được giảm thuế.
* NGA
- Việt Nam nằm trong danh sách được hưởng GSP của Nga
III CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI VIỆT NAM THỰC THI
VÀ HƯỞNG CÁC NGUYÊN TẮC TRONG QUAN HỆ KINH
TẾ QUỐC TẾ:
Cơ hội của Việt Nam khi thực thi và được hưởng các nguyên tắc
này
+ Quan trọng nhất là thể chế và pháp luật của Việt Nam thay đổi
theo các tiêu chuẩn chung quốc tế để tạo ra hành lang pháp lý cho sự
phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, đây được coi là cơ sở nền
tảng cho sự phát triển kinh tế có hiệu quả, tham gia hội nhập thành
công vào nền kinh tế toàn cầu.
+ Cơ chế điều hành xuất nhập khẩu, thủ tục hải quan của nước
ta tất yếu sẽ được hoàn thiện theo hướng đơn giản hóa, công khai hóa
và thuận lợi, giúp cho hoạt động xuất nhập khẩu phát triển mạnh, với
chi phí thủ tục thấp.
+ Hệ thống thuế quan của Việt Nam phải sửa đổi theo hướng
minh bạch, rõ ràng hơn (nguyên tắc dễ dự đoán) và có xu hướng giảm
giúp các doanh nghiệp có thể lập kế hoạch đầu tư và hoạt động
thương mại dài hạn.
+ Môi trường kinh doanh của Việt Nam sẽ được cải thiện theo
hướng thông thoáng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc mọi
tự chủ của Chính phủ trong quản lý nền kinh tế.
Nguyên tắc đối xử quốc gia và Nguyên tắc tối huệ quốc làm cho các hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp khó khăn
hơn khi phải cạnh tranh với các nhà đầu tư khác ví dụ như Hoa Kỳ được hưởng quyền tương tự như mình: Cơ chế một giá được xác
lập, quyền tự do đầu tư nhiều hơn, thuế tương tự
Trang 6
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Môn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế
BÁN PHÁ GIÁ & CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ - LIÊN HỆ THỰC TIỄN
I. BÁN PHÁ GIÁ:
1.Khái niệm bán phá giá:
- Pháp lệnh Giá của Việt Nam đưa ra định nghĩa : "Bán phá giá là
hành vi bán hàng hoá, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông
thường trên thị trường Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường, hạn chế
cạnh tranh đúng pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân sản xuất kinh doanh khác và lợi ích Nhà nước".
- Trong thương mại quốc tế, theo quy định tại Điều 2.1, Hiệp định
Chống bán phá giá của WTO thì :
- Một sản phẩm được coi là bị bán phá giá khi giá xuất khẩu sản phẩm
đó thấp hơn:
+ Giá có thể so sánh được trong điều kiện thương
mại thông thường ("giá trị thông thường")
+ Giá của sản phẩm tương tự khi tiêu thụ ở thị trường
nước xuất khẩu.
- WTO không đề cập đến trường hợp bán phá giá sản phẩm tương tự
trong thị trường nội địa của một nước.
+ Sản phẩm tương tự (SPTT): là sản phẩm giống hệt hoặc
có các đặc tính gần giống với sản phẩm là đối tượng điều tra.
+ Điều kiện thương mại thông thường: tuy không có định
nghĩa về điều kiện thương mại thông thường nhưng có một số trường
hoặc
Theo một thỏa thuận đền bù nào đó thì:
GXK = giá mà sản phẩm nhập khẩu được bán lần đầu tiên cho một
người mua độc lập ở nước nhập khẩu.
So sánh GTTT và GXK:
Để so sánh một cách công bằng GTTT và GXK, Hiệp định
qui định nguyên tắc so sánh như sau:
- So sánh hai giá này trong cùng điều kiện thương mại (cùng xuất
xưởng/bán buôn/bán lẻ), thường lấy giá ở khâu xuất xưởng;
- Tại cùng một thời điểm hoặc thời điểm càng gần nhau càng tốt.
Việc so sánh GTTT và GXK là cả một quá trình tính toán rất phức
tạp, vì không phải bao giờ cũng có sẵn mức giá xuất xưởng của GTTT
và GXK mà chỉ có mức giá bán buôn hoặc bán lẻ của SPTT ở thị
trường nước xuất khẩu (GTTT+) và giá tính thuế hải quan, giá hợp
đồng hoặc giá bán buôn/bán lẻ SPTT của nhà nhập khẩu (GXK+) nên
thường phải có một số điều chỉnh để có thể so sánh GTTT và GXK
một cách công bằng.
Điều chỉnh các chênh lệch trong:
- Điều kiện bán hàng
- Các loại thuế
- Số lượng sản phẩm
- Đặc tính vật lý của sản phẩm
- Và những yếu tố khác ảnh hưởng đến việc so sánh hai giá
3. Phân loại bán phá giá:
Có 3 loại bán phá giá:
Bán phá giá dai dẳng
Bán phá giá thường xuyên
Bán phá giá không thường xuyên
Trong việc bán phá giá dai dẳng, thì hàng hóa liên tục được
bán với một giá thấp hơn so với giá cả trong nước nhập khẩu. Tình
Hành vi bán phá giá phải gây thiệt hại đáng kể, hoặc
đe doạ gây thiệt hại nghiêm trọng đến ngành sản xuất
trong nước của quốc gia nhập khẩu.
Quốc gia nhập khẩu phải chứng minh được mối quan
hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại, hoặc
nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản
xuất trong nước mình.
* Xác định thiệt hại:
Định nghĩa thiệt hại:
Thiệt hại về vật chất đối với một ngành sản xuất
trong nước (thiệt hại hiện tại); hoặc
Nguy cơ gây thiệt hại về vật chất đối với một ngành
sản xuất trong nước (thiệt hại tương lai); hoặc
Làm trì trệ sự phát triển một ngành sản xuất trong
nước (không có qui định cụ thể).
Như vậy, để xác định thiệt hại cần xem xét các nhân tố sau:
(i) Khối lượng hàng nhập khẩu bị bán phá giá: có tăng một cách
đáng kể không?
(ii) Tác động của hàng nhập khẩu đó lên giá SPTT: giá của hàng
nhập khẩu đó:
- Có rẻ hơn giá SPTT sản xuất ở nước nhập khẩu nhiều không?
- Có làm sụt giá hoặc kìm giá SPTT ở thị trường nước nhập khẩu
không?
=> Khi sản phẩm thuộc diện điều tra được nhập khẩu từ nhiều nước:
đánh giá gộp tác động nếu BĐPG >= 2% GXK và khối lượng hàng
nhập khẩu từ mỗi nước >= 3% khối lượng nhập khẩu SPTT.
Việc khảo sát tác động của hàng nhập khẩu bị bán phá giá
đối với một ngành sản xuất trong nước phải xem xét tất cả các yếu tố
Trang 7
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Khả năng tăng năng lực xuất khẩu của nhà xuất khẩu
dẫn đến khả năng tăng nhập khẩu;
Tình hình hàng nhập khẩu làm sụt giá SPTT ở nước
nhập khẩu;
Số lượng tồn kho SPTT ở nước nhập khẩu
5. Chống bán phá giá, các hình thức chống bán phá
giá:
Trong thương mại quốc tế, khi hàng hóa bị xem là bán phá giá
thì chúng có thể bị áp đặt các biện pháp chống bán phá giá
(antidumping) như: thuế chống phá giá, đặt cọc hoặc thế chấp, cam
kết hạn chế định lượng hoặc điều chỉnh mức giá của nhà xuất khẩu
nhằm triệt tiêu nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước
nhập khẩu, trong đó thuế chống bán phá giá là biện pháp phổ biến
nhất hiện nay.
Về thực chất, thuế chống bán phá giá là một loại thuế nhập khẩu
bổ sung đánh vào những hàng hóa bị bán phá giá ở nước nhập khẩu
nhằm hạn chế những thiệt hại do việc bán phá giá đưa đến cho ngành
sản xuất của nước đó nhằm bảo đảm sự công bằng trong thương mại
(nói chính xác đó là một sự bảo hộ hợp lý cho sản xuất trong nước).
Thuế này đánh vào các nhà sản xuất riêng lẻ chứ không phải là thuế
áp đặt chung cho hàng hóa của một quốc gia. Nguyên tắc chung nêu
ra trong Hiệp định của WTO là không được phân biệt đối xử khi áp
dụng thuế chống phá giá, tức là nếu hàng hóa bị bán phá giá được
xuất khẩu từ những quốc gia khác nhau với cùng biên độ phá giá như
nhau thì sẽ áp đặt mức thuế chống phá giá ngang nhau. Mức thuế
chống phá giá sẽ phụ thuộc vào biên độ phá giá của từng nhà xuất
khẩu chứ không phải áp dụng bình quân (ngay cả khi các nhà xuất
khẩu từ cùng một quốc gia) và không được phép vượt quá biên độ phá
giá đã được xác định.
* Có 2 hình thức thu thuế chống bán phá giá:
trong nước, lợi nhuận sản xuất, tốc độ phát triển sản xuất, việc làm
cho người lao động, đầu tư tới các chỉ tiêu khác của ngành sản xuất
trong nước hoặc dẫn đến khó khăn cho việc hình thành một ngành sản
xuất trong nước. Bán phá giá được xác định dựa vào 2 yếu tố cơ bản
là: 1- Biên độ phá giá từ 2% trở lên; 2- Số lượng, trị giá hàng hóa bán
phá giá từ một nước vượt quá 3% tổng khối lượng hàng nhập khẩu
(ngoại trừ trường hợp số lượng nhập khẩu của các hàng hóa tương tự
từ mỗi nước có khối lượng dưới 3%, nhưng tổng số các hàng hóa
tương tự của các nước khác nhau được xuất khẩu vào nước bị bán phá
giá chiếm trên 7%).
II.VAI TRÒ VÀ TÁC HẠI CỦA BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG
BÁN PHÁ GIÁ:
Tác động lớn nhất của bán phá giá là việc gây ra tổn thất vật
chất cho ngành sản xuất trong nước. Tổn thất này rất lớn xét trên cả
góc độ vĩ mô và vi mô. Trên góc độ vĩ mô, khi một ngành sản xuất bị
đe dọa sẽ dẫn đến việc phá sản của nhiều doanh nghiệp thuộc ngành
đó. Kéo theo đó là tình trạng mất việc làm của công nhân và các tác
động “lan chuyền” sang các ngành kinh tế khác. Trên góc độ vi mô,
đối mặt với hiện tượng bán phá giá, doanh nghiệp sẽ bị mất thị trường
và mất lợi nhuận. Đây thực sự là mối lo ngại không chỉ của các nước
phát triển mà của cả các nước đang phát triển, vì lợi thế so sánh của
các nước luôn thay đổi và cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn
trên thị trường quốc tế.
Xét ở góc độ người tiêu dùng, việc hàng hóa nước ngoài được
bán phá giá sẽ mang lại những lợi ích cụ thể, trước mắt cho họ do
mua được hàng hóa với giá rẻ. Tuy nhiên, việc bán phá giá sẽ kéo
theo hàng loạt những tác động xấu cho các ngành sản xuất trong
nước. Nó dần dần bóp chết các ngành sản xuất non trẻ và thiếu sức
cạnh tranh. Ngoài ra, một khi hàng hóa bán phá giá đã chiếm lĩnh
được thị trường thì các nhà xuất khẩu chắc chắn không dừng lại ở đó
số sản phẩm công nghiệp cơ khí, v.v…
Trang 8
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Môn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Trên thực tế, các nước áp dụng thuế chống bán phá giá
thường bị nước xuất khẩu hàng hoá là đối tượng chịu thuế chống bán
phá giá khởi kiện đến WTO, cụ thể là Cơ quan Giải quyết Tranh chấp.
Các vụ việc giải quyết tranh chấp về việc chống bán phá giá luôn là
vấn đề phức tạp và gây nhiều tranh cãi. Đôi khi, kết quả thường dẫn
đến các hành vi trả đũa trong thương mại, gây ra rất nhiều mâu thuẫn,
ảnh hưởng xấu đến tình hình thương mại chung trên thế giới. Vì vậy,
các quốc gia thường rất thận trọng khi quyết định việc áp dụng thuế
chống bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu bị bán phá giá vào
nước mình.
Trong thực tiễn áp dụng thuế chống bán phá giá trên thế giới,
đã có nhiều nước áp dụng biện pháp này trước khi WTO ra đời. Căn
cứ thống kê từ năm 1990, việc áp dụng thuế chống bán phá giá hiện
nay luôn thể hiện sự tiến bộ và xu hướng phát triển của các nước đang
phát triển so với các nước phát triển. Điều này được thể hiện bằng
biểu đồ dưới đây:
Một điểm cần quan tâm là không chỉ có các nước phát triển
áp dụng thuế chống bán phá giá đối với các nước đang phát triển và
ngược lại. Các nước phát triển còn áp dụng thuế chống bán phá giá
đối với các nước phát triển khác và điều này cũng xảy ra tương tự đối
với các nước đang phát triển.
IV. THỰC TIỄN BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ Ở
VIỆT NAM. PHÂN TÍCH VỀ MỘT SỐ BÀI HỌC RÚT RA TỪ
CÁC VỤ CHỐNG PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI CÁ DA TRƠN VÀ TÔM:
1. Tình hình hàng xuất khẩu của Việt Nam bị nước ngoài điều tra
và áp dụng thuế chống bán phá giá:
da
t
rơn
không
bắ
t
đầu
vào
ngày
28
t
háng
6
năm
2002,
ngày
mà Hiệp
ITC
và
DOC
và
tuyên
bố
là
sản
phẩm
philê
cá
da
trơn
của
V
i
mộ
t
năm
t
rước
đó Vào
năm
2001,
các
nhà
sản
xuấ
t
cá
da
trơn
của
phá
t
động
thành
công
mộ
t
ch
i
ến
dịch
t
ạ
i
cả
cấp
bang
và
liên
cho các
sản
phẩm
của
m
ì
nh.
Cá
da
t
rơn
Việ
t
Nam,
vốn
rẻ
hơn
g
t
ăng
t
ừ
0,6
triệu
pao
vào
năm
1998
lên
26
tr
i
ệu
pao
vào năm
vào
ngày
10 tháng
12
năm
2001
đã
xoá
bỏ
thuế
nhập
khẩu
đố
i
vớ
i
sự
gia
t
ăng
đáng
kể
số
l
ượng
nhập
khẩu
cá
vào
Mỹ
t
ừ 12,5
t
giá
của
cá
sản xuấ
t
t
ạ
i
Mỹ
đã
g
i
ảm
xuống
50
xu
mộ
t
khoảng
30
xu
so
vớ
i
giá
cá
vào
năm
2000.
Vào
năm
2001,
CFA
đã
cá
da
trơn
nhập
khẩu
theo
ba
yếu
t
ố
sau:
(i)
đ
i
ều
k
i
ện
(iii)
sự
cạnh
tranh
không
lành
mạnh
của
các
nhà
sản
xuấ
t
V
i
ệ
t
Nam
chính
của
các
doanh nghiệp
Mỹ.
Để
chứng
m
i
nh
việc
các
nhà
sản
xuấ
t
V
i
rằng
“
chỉ
có
g
i
ống
cá
t
ạ
i
Bắc
Mỹ,
có
tên
gọ
i
là
hơn
2.000
giống
cá
da
t
rơn.
Họ
cũng
g
i
ả
i
t
hích
rằng “cá
da
trơn
Nam thuộc
về
họ
Pangasiidae,
loạ
i
cá
da
trơn
sống
t
ạ
i
Châu
Phi
và
Đông
mọ
i
hoạ
t
động
market
i
ng
và
bán
các
l
oạ
i
cá dướ
i
tên
catfish.
Những
Mississipp
i
,
Louisiana,
và
Arkansas.
Các
nhà
sản
xuấ
t
Việ
t
Nam
sau
đó
ti
ếp
có
t
ranh
chấp
về
nhãn
hiệu,
sản
l
ượng
nhập
khẩu
của
cá
basa
và
ệu
pao,
cao
hơn
hẳn
năm
2001
(26
triệu
pao).
Tỷ
l
ệ
t
ăng
trưởng
của
giá
trị
nhập
khẩu
là
127,5%.Vào
ngày
28
/
6/2002,
CFA
và
mộ
t
số
nhà
chế
l
ên
ITC
và
DOC
t
uyên
bố
rằng ngành
công
nghiệp
cá
da
t
rơn
của
Mỹ
bị
Vào
ngày
24
/
7/2002,
DOC
tuyên
bố
bắ
t
đầu
đ
i
ều
t
ra
vụ
án
chống
mà Bộ xác định được hưởng một mức riêng (Công ty Xuất nhập khẩu
Nông sản Thực phẩm An Giang (“Afiex”), Doanh nghiệp Chế biến Xuất
khẩu Súc sản và Ngư sản Cần Thơ (“CAFATEX”), Tổng Công ty Xuất
Nhập khẩu Hải sản Đà Nẵng (“Đà Nẵng”), Công ty Cá Mê Kông
(“Mekonimex”), Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Lương thực QVD
(“QVD”), và Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Hải sản Việt Hải (“Việt Hải”),
chúng tôi ấn định mức biên là 49,16%, căn cứ vào biên trung bình tính
theo trọng lượng của các bị đơn bắt buộc.
+ Các sản phẩm nhập khẩu của các nhà sản xuất/xuất khẩu
Việt Nam khác sẽ phải chịu mức chung dành cho Việt Nam là 63,88%.
+ DOC
ban
hành
phán
quyế
t
sơ
bộ
khẳng
định
việc
g
i
á
và trường
hợp
khẩn
cấp
được
sửa
đổ
i
ngày
5
và
28/5/2003.
ITC
t
về
thuế
bán
phá
g
i
á
và
t
rường
hợp
khẩn cấp
vào
ngày
23/6/2003
(68
FR
hơn. Bên cạnh đó, thông tin do các doanh nghiệp cung cấp cũng có
thể bị từ chối chấp nhận nếu cơ quan điều tra cho rằng doanh
nghiệp không hợp tác đầy đủ hoặc là không trung thực.
Hợp tác với bị đơn khác trong quá trình điều tra cũng
rất quan trọng. Cơ quan điều tra chống phá giá có thể kiểm tra chéo
các thông tin do các bị đơn cung cấp. Thông qua việc phối hợp với
các bị đơn khác, doanh nghiệp có thể tìm thấy các sai sót hoặc sai
biệt trong thông tin của mình và sửa chữa nó trước khi báo cáo cho
cơ quan điều tra.
Vận động hành lang: vụ cá da trơn cho thấy rằng vận
động hành lang đối với ngành lập pháp là rất có hiệu quả. Tuy
nhiên các nhà sản xuất nội địa bao giờ cũng có ưu thế hơn các nhà
sản xuất nước ngoài trong lĩnh vực này. Vận động hành lang đối
với ngành hành pháp có hiệu quả hạn chế. Tuy nhiên vận động là cần
thiết vì nó có thể khiến cho cơ quan chống phá giá áp dụng các biện
pháp công bằng và hợp lý trong quá trình điều tra. Tuy nhiên, vận
động hành lang cần một chiến lược với các mục tiêu và mục đích rõ
ràng. Trong vận động hành lang, chứng cứ tạo ra sức thuyết phục
mạnh hơn là chỉ tiếp cận tới các đối tượng và đưa ra những lập luận
cảm tính đối với họ. Hợp tác với báo chí, các tổ chức có quyền lợi
chung và các tổ chức phi chính phủ đóng vai trò quan trọng trong
việc giành sự ủng hộ của dư luận.
4. Các giải pháp cho các doanh nghiệp Xuất khẩu Việt Nam đẩy
mạnh xuất khẩu nhưng hạn chế bị kiện bán phá giá:
Từ vụ cá da trơn, vai trò của Hiệp Hội Doanh Nghiệp là
rất quan trọng. Hiệp hội là cơ quan điều phối mọi hoạt động liên
quan tới vụ kiện. Trước khi vụ kiện xảy ra, hiệp hội là cơ quan
theo dõi tình hình của ngành và vận hành cơ chế cảnh báo sớm.
Hiệp hội cũng chịu trách nhiệm trong việc tổ chức đào tạo cho
các thành viên để đối phó với việc điều tra chống bán phá giá cũng
giá hàng hóa nhập khẩu vào VN. Đây vừa là công cụ pháp lý bắt buộc
phải có để đối phó với hàng nhập khẩu bị bán phá giá vào Việt nam,
vừa là vũ khí tốt giúp cho đàm phán với các nước khác theo kiểu “nếu
anh điều tra phá giá với hàng của tôi thì tôi cũng sẽ điều tra phá giá
với hàng của anh”.
5. Những giải pháp khi thua kiện hoàn toàn:
* Đa dạng hóa thị trường:
Bài học đầu tiên từ vụ cá da trơn là khi ưu thế cạnh tranh
của các nhà sản xuất nội địa giảm sút, thị phần của họ suy giảm,
họ có thể sử dụng mọi biện pháp có thể để ngăn cản hàng nhập
khẩu. Chống phá giá chỉ là một trong các biện pháp mà người sản
xuất nội địa có thể sử dụng. Bài học thứ hai là: các nhà sản xuất
nội địa có nhiều ưu thế hơn các nhà sản xuất nước ngoài trong
việc vận động hành lang đối với ngành lập pháp.
Những ưu thế này là :
(i) kiến thức của họ về nền chính trị tại nước họ,
(ii) tính “địa phượng cục bộ” của nền chính trị các
quốc gia lớn như Hoa Kỳ,
(iii) sự hiểu biết và kinh nghiệm trong các hoạt động
quan hệ quần chúng (public relations) tại quốc
gia đó, và
(iv) hệ thống quan hệ của họ.
Do đó, các nhà sản xuất trong nước có nhiều cơ hội
trong việc ngăn cản hàng ngoại nhập hơn là ngược lại. Đa dạng
thị trường xuất khẩu giúp cho doanh nghiệp Việt Nam giảm thiểu
các ảnh hưởng xấu trong việc xuất khẩu sang một quốc gia bị ngăn
cản.
Thực tế năm 2007 Bộ Thủy sản cho biết sản phẩm cá tra, ba sa
đạt mức tăng trưởng nhanh nhất. Dự kiến cả năm, sản lượng cá
tra, ba sa xuất khẩu đạt 210.000 tấn, trị giá khoảng 560 triệu
THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
I. Khái niệm:
- “Bán phá giá” xảy ra khi một nhà sản xuất nước ngồi bán sản phẩm
thấp hơn giá trị thơng thường của sản phẩm đó tại thị trường của nước
nhập khẩu.
- Giá trị thơng thường có thể là giá bán tại thị trường nội địa, thị
trường của một nước thứ ba, giá trị cấu thành hay các yếu tố sản xuất
trong trường hợp quốc gia xuất khẩu là một nước có nền kinh tế phi
thị trường.
II. Ngành dệt may Việt Nam đối mặt với những đơn kiện chống
bán phá giá:
- Cuối tháng 9/2006, Chính phủ Mỹ tun bố sẽ chủ động điều tra
chống phá giá đối với Việt Nam nếu số liệu cho thấy hàng dệt may
của Việt Nam bán phá giá.
- Chính phủ Mỹ sẽ theo dõi số liệu nhập khẩu, thu thập số liệu sản
xuất từ ngành cơng nghiệp nội địa của Mỹ và kiểm tra định kỳ 6 tháng
để xác định liệu có thể khởi kiện hay khơng.
- Vì Việt Nam đã được chính thức kết nạp vào WTO từ ngày
7/11/2006, nên đợt kiểm tra số liệu đầu tiên của Chính phủ Mỹ sẽ
diễn ra vào mùa hè năm 2007.
- Số liệu bị kiểm tra sẽ bao gồm trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng
6 năm 2007
- Tất cả sản phẩm dệt (textile) và may (apparel) xuất sang Mỹ, đặc
biệt là quần, áo sơ-mi, đồ lót, đồ bơi và áo len sẽ là sản phẩm
mục tiêu.
- Đại diện Thương mại Hoa Kỳ hứa sẽ theo dõi hàng nhập khẩu từ
Việt Nam “trong thời gian của chính quyền này (chính quyền Bush)”,
tức là đến hết 2008.
III. Cơ chế giám sát hàng Dệt May Việt Nam của Hoa Kỳ (đang
lấy ý kiến, chưa thông qua):
diện bị giám sát), đặc biệt là phải tư vấn cộng đồng doanh nghiệp dệt
may VN;
+ Các thơng tin liên quan đến CTGS (từ thủ tục, phương
pháp, nguồn số liệu, báo cáo giám sát…) phải được cơng khai hố
trên Internet
IV. Những điểm chính của luật Chống Phá Giá Hoa Kỳ:
- Cho phép Chính phủ Hoa Kỳ áp đặt thuế chống bán phá giá để bù
trừ việc hàng nhập khẩu bán ở mức “khơng cơng bằng” và gây thiệt
hại cho một ngành cơng nghiệp của Hoa Kỳ
- Để áp đặt thuế chống bán phá giá, chính phủ Hoa Kỳ phải xác định
rằng hàng hố nhập khẩu:
+ đã bán ở mức “thấp hơn giá trị bình thường”
+ gây ra hoặc đe dọa gây ra “thiệt hại vật chất”
- Vai trò của Bộ Thương Mại Hoa Kỳ (DOC) và Ủy Ban Thương Mại
Quốc Tế Hoa Kỳ (ITC):
+ Thông thường Bộ Thương Mại Hoa Kỳ (DOC) bắt đầu căn
cứ vào đơn kiện của một nhà sản xuất Hoa Kỳ, một nhóm các
nhà sản xuất Hoa Kỳ, hoặc một liên đoàn lao động Hoa Kỳ
để tiến hành điều tra.
+ Trong một số rất ít trường hợp, DOC có thể “tự tiến hành”
điều tra.
- Giá bán vào Hoa Kỳ được xem là “thấp hơn giá trị bình thường” nếu
giá bán được điều chỉnh tại Hoa Kỳ thấp hơn giá so sánh:
+ Giá bán tại thị trường trong nước – khơng áp dụng
cho Việt Nam
+ Giá bán tại nước thứ ba – khơng áp dụng cho Việt
Nam
+ “Giá áp đặt” – áp dụng cho Việt Nam (thông
thường là giá từ thò trường Bangladesh và n Độ),
trong đó bao gồm:
- Bước 7: Chia tổng các biên độ phá giá cho giá trò của các đợt bán
hàng vào Hoa Kỳ để có biên độ phá giá bình quân có trọng số
chung.
- Bước 8: Xác đònh biên độ chung có lớn hơn 2% hay không; nếu
lớn hơn, thì kết luận có bán phá giá.
- Bước 9: Nếu biên độ phá giá chung do DOC tính tại quyết đònh
cuối cùng nhỏ hơn 2%, thì kết thúc điều tra nhà sản xuất.
Ví dụ:
Hoa Kỳ xem xét một sản phẩm áo dệt kim xuất xứ từ
Việt Nam, bán tại thò trường Hoa Kỳ với giá 7.50 USD/pc có bán
phá giá hay không. Kết quả theo bảng sau:
V/. Những yêu cầu đối với đơn kiện chống bán phá giá tại Hoa
Kỳ:
1/. Phạm vi:
- Khi nộp đơn, bên khiếu kiện cần mơ tả chi tiết loại hàng hố u cầu
điều tra bao gồm:
+ Các đặc điểm kỹ thuật và mục đích sử dụng của
hàng hố
+ Số phân loại hạng mục thuế quan hiện hành tại Mỹ
(số HTS)
- Đánh giá của Bộ TM về phạm vi của vụ kiện:
+ Nếu trước khi nộp đơn bên khiếu kiện có u cầu
Bộ TM tư vấn về việc nộp đơn kiện thì Bộ TM phải
đảm bảo rằng phạm vi của đơn kiện là sự phản ánh
chính xác về loại sản phẩm đang chịu thiệt hại.
+ Các bên liên quan có thể đưa ra bình luận về phạm
vi của vụ kiện trong thời hạn 20 ngày sau khi viêc
khởi xướng vụ kiện được thơng báo trên Cơng báo
của Liên bang.
2/. Sản phẩm tương tự:
Nôi dung
Giá trò
(USD/unit)
I. Chi phí đầu vào
Nguyên vật liệu A 9.26250
Chi phí điện năng B 0.04195
Nhân công trực tiếp C 1.78450
Vải vụn tái SX D 0.03293
Vật liệu đóng gói E 0.12295
Nhân công đóng gói F 0.02075
II.Giá trò thông thường
Tổng giá trò đầu vào
t/tiếp
G = A + B 9.30445
Nhân công trực tiếp C 1.78450
Đóng gói H = E + F 0.14370
Chi phí quản lý nhà
xưởng
(11.4% theo báo cáo tài
chính tương tự)
I = (G + H)*11.4% 1.07709
Chi phí sản xuất J = G + C + H + I 12.30974
Chi phí bán hàng, chi phí
chung, chí phí
hành chính (32% theo
BCTC tương tự)
K = J * 32% 3.93912
Chi phí tiền lãi (32%
nộp
20
DOC Bắt Đầu
Điều Tra
45
Quyết Đònh Sơ Bộ
của ITC
160
Ngày 210, nếu
được gia hạn
Quyết Đònh Sơ Bộ
của DOC
235
Ngày 345, nếu
quyết đònh sơ
bộ và quyết
đònh cuối cùng
đều được gia
hạn
Quyết Đònh Cuối
Cùng
của DOC
280
Ngày 390, nếu
quyết đònh sơ
bộ là quyết
đònh cuối cùng
của DOC đều
+ Phần D: Các yếu tố sản xuất.
- Thời hạn: Thời hạn trả lời thông thường là ba mươi ngày kể từ
ngày đưa ra bảng câu hỏi, có thể được gia hạn thêm hai tuần.
2/. Đối tượng xem thông tin của công ty:
- DOC và bên tư vấn của nguyên đơn.
+ Căn cứ vào lệnh bảo vệ hành chính, hoặc viết tắt là
APO, bên tư vấn của nguyên đơn được xem thông tin mật do bò đơn
cung cấp. Ngay cả khi thông tin mật được vô ý tiết lộ, bên tư vấn
của nguyên đơn vẫn được phép xem thông tin đó.
+ Bên tư vấn của nguyên đơn sẽ đệ trình ý kiến cho
DOC về các lónh vực mà họ tin là thiếu hoặc các lónh vực mà
nguyên đơn tin là bò đơn đã sử dụng phương pháp không thích hợp.
3/. Bảng câu hỏi bổ sung:
- Căn cứ vào các ý kiến của nguyên đơn, và sau khi kiểm tra độc
lập, DOC sẽ đưa ra bảng câu hỏi bổ sung.
+ Độ dài và độ dày: sẽ thay đổi căn cứ vào chất lượng
của dữ liệu do bò đơn nộp và chất lượng kiểm tra của cả nguyên
đơn và DOC.
+ Thời Hạn Trả Lời: Thông thường là hai tuần, có thể
được gia hạn thêm hai tuần nữa.
* Lưu ý: DOC có thể đưa ra nhiều bảng câu hỏi bổ sung.
4/. Thẩm tra:
- Sau khi quyết đònh sơ bộ, DOC tiến hành kiểm tra tại chỗ dữ liệu
do bò đơn nộp.
+ Mục Đích: thẩm tra tính chính xác của thông tin được
nộp và thẩm tra rằng bò đơn chưa bỏ qua bất kỳ thông tin liên quan
nào.
+ Thẩm Tra Việc Bán Hàng: Nếu việc bán hàng được
thực hiện trực tiếp đến Hoa Kỳ, thì việc thẩm tra sẽ được thực hiện
tại nhà máy xuất khẩu; nếu thông qua công ty trực thuộc tại Hoa
về thiệt hại
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Mơn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế
+ DOC thông thường sẽ tìm cách điều tra các nhà sản
xuất chiếm ít nhất 60% lượng hàng xuất khẩu vào Hoa Kỳ.
- Chọn nhóm mẫu
+ Hoặc DOC có thể lựa chọn một nhóm mẫu bao gồm
các nhà xuất khẩu, nhà sản xuất, hoặc các mặt hàng có giá trò
thống kê căn cứ vào thông tin mà DOC có được tại thời điểm lựa
chọn.
+ Cách thức này không được sử dụng thường xuyên do
sự phức tạp của việc lựa chọn đúng nhóm mẫu để tiến hành.
- Cách thức Để DOC xác Đònh Được các nhà xuất khẩu lớn nhất:
+ DOC đưa ra một bảng câu hỏi tiểu mục A.
+ Chủ yếu yêu cầu cung cấp thông tin về khối lượng và
giá trò vận chuyển mặt hàng liên quan của nhà sản xuất/nhà xuất
khẩu đến Hoa Kỳ.
- Các Nhà Sản Xuất Chưa Được Điều Tra: trong một vụ kiện đối
với nhà sản xuất thuộc nền kinh tế phi thò trường (NME), các nhà
sản xuất chưa được điều tra thường được áp dụng mức thuế chung
cho toàn quốc, mà mức thuế này thì cao:
+ Áp Dụng Các Mức Thuế Riêng: Nếu nhà sản xuất
chứng minh được rằng không có sự kiểm soát của chính phủ, thì
được áp dụng biên độ bằng với trung bình có trọng số của tất cả
các bò đơn bắt buộc (ngoại trừ biên độ tối thiểu và biên độ có thể
có trên thực tế), thường thì thấp hơn mức thuế chung cho toàn quốc.
+ Phải nộp đơn trong vòng 30 ngày kể từ ngàycó thông
báo công khai thực hiện nếu công ty muốn bảo đảm quyền điều
chỉnh đơn. Phải nộp trong vòng 60 ngày để được xem xét toàn bộ.
IX. Thông tin được sử dụng để đánh giá các yếu tố đối với nền
với mặt hàng có thể so sánh được.
+ Thông thường DOC sẽ chọn Bangladesh làm quốc gia
tương tự trong các vụ kiện liên quan đến Việt Nam.
X. Rủi ro của nhà sản xuất được điều tra:
- Thuế chống phá giá bổ sung được áp dụng đối với việc bán hàng
vào Hoa Kỳ của nhà sản xuất.
+ Mặc dù bên nhập khẩu nộp thuế chống phá giá, nhưng
rủi ro dài hạn là bên nhập khẩu sẽ gặp phải những nhà sản xuất
không bò áp thuế bổ sung hoặc nhà sản xuất được áp mức thuế thấp
nhất.
+ Tổn thất kinh doanh đối với các nhà sản xuất bò áp
mức biên độ chống phá giá cao nhất.
XI. Những khó khăn chủ yếu của cá doanh nghiệp Việt Nam khi
đối phó với các tranh chấp phá giá:
1/. Kiến thức về Luật thương mại quốc tế liên quan đến bán phá
giá:
- Hầu hết tất cả các cán bộ nhà nước chịu trách nhiệm về vấn đề này
còn thiếu kiến thức về các khía cạnh kinh tế của hiện tượng bán phá
giá và luật quốc tế điều chỉnh hành vi này. Cho đến nay, Việt Nam
chưa lần nào điều tra bán phá giá. Kinh nghiệm đối phó với hàng xuất
khẩu của ta bị điều tra phá giá còn ít. Hơn thế nữa, giới nghiên cứu
khoa học cũng chưa quan tâm đầy đủ đến vấn đề bán phá giá. Hệ
thống đào tạo về luật và thương mại chưa có chương trình và đội ngũ
giảng dạy về bán phá giá. Trong bối cảnh như vậy nên chúng ta cũng
khơng có luật sư hay nhà tư vấn nào có kiến thức đầy đủ hay có kinh
nghiệm phong phú về bán phá giá cả.
- Trong khi đó, để đối phó thành cơng ở mỗi vụ tranh chấp về bán phá
giá, sự phối hợp nhịp nhàng giữa nhiều bên liên quan là u cầu sống
còn. Chẳng hạn, phải có một cơ quan đầu mối về các tranh chấp liên
quan tới bán phá giá. Cơ quan này phải cộng tác chặt chẽ với các bộ
quan tới biện pháp chống phá giá của cơ quan hành chính có thẩm
quyền. Trong trường hợp ta chủ động áp dụng biện pháp chống bán
phá giá thì hệ thống tồ án của ta có lẽ chưa đủ điều kiện để giải quyết
khiếu kiện kiểu này, còn trong trường hợp ta phải đối phó với biện
pháp chống phá giá của các đối tác khác thì chúng ta cũng chưa có
Trang 14
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Mơn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế
kinh nghiệm sử dụng cơ chế kiện ra tồ chống lại quyết định của các
cơ quan hành chính có thẩm quyền của họ.
3/. Các biện pháp chống bán phá giá quốc tế chịu ảnh hưởng lớn bởi
quan hệ chính trị giữa các đối tác:
- Trong trường hợp hàng xuất khẩu của Việt Nam bị nước ngồi điều
tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá, chúng ta có thể gây áp lực
chính trị với họ. Nhưng với tiềm lực kinh tế, quốc phòng, khoa học kỹ
thuật, v.v của chúng ta hiện nay, chúng ta cần thấy rõ áp lực của
chúng ta khơng đủ mạnh. Ngược lại, trong trường hợp chúng ta chủ
động tiến hành điều tra áp dụng biện pháp này với hàng nhập khẩu thì
có thể dự đốn rằng một số nước có thể dùng sức mạnh chính trị để ép
chúng ta nhân nhượng họ, chẳng hạn họ có thể dùng những lá bài như
viện trợ phát triển chính thức (ODA), gia hạn qui chế đối xử tối huệ
quốc (MFN) v.v để đem ra mặc cả với ta.
4/. Chi phí gia tăng:
- Trong việc áp dụng hay đối phó với biện pháp chống bán phá giá,
chúng ta cũng khơng thể khơng tính đến nhiều chi phí cần thiết. Thật
vậy, nhiều khi chúng ta cần phải cử các nhóm cơng tác ra nước ngồi
để điều tra, thu thập các thơng tin cần thiết, hoặc phải tham dự các
cuộc gặp với các cơ quan có thẩm quyền của nước ngồi để giải trình,
cung cấp thơng tin hoặc thuyết phục họ chấm dứt điều tra, chấp nhận
biện pháp cam kết giá hay áp dụng mức thuế chống bán phá giá ở
+ Giải thích chi tiết cách thức tính toán bán phá giá
- Thu thập dữ liệu cho việc phân tích ban đầu:
+ Có được thông tin về bán hàng đối với việc bán hàng
vào Hoa Kỳ
+ Lựa chọn khối lượng sản phẩm cao nhất để phân tích
+ Xác đònh có cần thông tin về công ty Hoa Kỳ liên
quan hay không
+ Thu thập thông tin về chi phí (cước phí vận chuyển,
chi phí bán hàng, v.v…)
- Thu thập các yếu tố sản xuất
+ Xác đònh thông tin cần thiết để đánh giá các yếu tố
sản xuất
+ Xác đònh quốc gia tương tự (thường là Bangladesh đối
với các vụ kiện đối với Việt Nam)
+ Thu thập thông tin từ các nguồn công khai
+ Xác đònh có yếu tố nào được mua từ nền kinh tế thò
trường hay không
+ Xác đònh có yếu tố đầu vào nào thuộc nền kinh tế thò
trường đến từ một quốc gia mà DOC cho là có hỗ trợ về tài chính
cho các yếu tố đầu vào hay không
- Tính Biên Độ Đối Với Các Sản Phẩm Mẫu:
+ Báo cáo cho ban quản trò về dữ liệu cần phải bổ sung
để tính toán
+ Phân tích biên độ phá giá
+ Nhận diện các lónh vực rủi ro
+ Cung cấp báo cáo cho ban quản trò
+ Thảo luận các phương pháp có thể có để tối thiểu hóa
biên độ
2/. Thiết lập hệ thống kiểm soát:
- Mục đích: Thu thập thông tin chi tiết cần thiết để ước tính và
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Môn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế
- Thu thập dữ liệu từ Bangladesh và Ấn Độ; xem xét việc thuê các
nhà tư vấn hoặc liên kết với các quốc gia đó.
- Cần xem xét lại tập quán lưu trữ tài liệu của công ty vì:
+ DOC tiến hành điều tra xác minh tại chỗ đối với các nhà
xuất khẩu, một công ty sẽ được điều tra trong vòng 5 ngày làm
việc.
+ DOC xem xét các tài khoản, hoá đơn, hồ sơ hải quan,
các khoản hoàn thuế, tài liệu công ty, hồ sơ sản xuất.
+ DOC thu thập cả hàng ngàn tài liệu để xem xét.
- Làm việc với các nhà xuất khẩu của các quốc gia khác, các nhà nhập
khẩu Hoa Kỳ và các bạn bè của Việt Nam để củng cố sự hỗ trợ chính
trị cho các nhà xuất khẩu hàng dệt may vì:
+ Vụ kiện chống phá giá sẽ mang tính chính trị rất cao.
+ Các nhà sản xuất nội địa Hoa Kỳ và các phe nhóm chính
trị khác đều liên quan.
- Cần tham vấn các chuyên gia pháp luật Việt Nam người mà có thể
hỗ trợ đáp ứng các yêu cầu của DOC và bảo đảm rằng các câu trả lời
phải thống nhất với các vụ kiện chống phá giá đã xảy ra có liên quan
đến Việt Nam vì:
+ DOC yêu cầu dịch hàng ngàn tài liệu.
+ DOC yêu cầu phân tích chi tiết về luật pháp và quy định
của Việt Nam.
Trang 16
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Mơn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế
LIÊN KẾT KINH TẾ QUỐC TẾ
I- NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ QUỐC
TẾ
1/ Khái niệm :
sống khó khăn, đến nơi có điều kiện tốt hơn. Điều đó diễn ra
thưỡng xuyên và trở thành tất yếu khách quan. Mặt khác con người
phải tìm các giải pháp khắc phục tình trạng khan hiếm tài nguyên,
bằng cách giao thương trao đổi, mua bán không chỉ hàng tiêu dùng
mà cả các loại tài nguyên khoáng sản, nhằm khai thác các nguồn
lực dư thừa của các nước khác để bổ sung cho sự khan hiếm, thiếu
hụt nguồn lực phát triển của nước mình. Điều này cũng trở thành
xu thế tất yếu phục vụ cho nhu cầu phát triển của các quốc gia trên
thế giới. Bởi vì không có một quốc gia nào trên thế giới có đầy đủ
nguồn lực để tự mình xây dựng một nền kinh tế phát triển bền
vững.
Ngoài những vấn đề thương mại tài chính quốc tế, thế
giới ngày nay có qúa nhiều vấn đề chính trò- xã hội – môi trường
có ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế toàn cầu như vấn đề :
khủng bố, dòch bệnh thiên tai, môi trường… đòi hỏi phải có sự liên
kết chặt chẽ giữa các nước.
Ngày nay với sự phát triển kinh tế mang tính chất đa
phương, toàn cầu, các quốc gia trở nên phụ thuộc rất mạnh lẫn
nhau thông qua liên kết kinh tế.
II- CÁC HÌNH THỨC LIÊN KẾT KINH TẾ QUỐC TẾ
A) Liên kết kinh tế quốc tế nhà nước (Macrointergration)
a) Khái niệm:
Là những liên kết kinh tế được hình thành trên cơ sở Hiệp
đònh được ký kết giữa hai hoặc nhiều chính phủ nhằm lập ra các
liên minh kinh tế khu vực hoặc liên kết khu vực nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối ngoại.
b) Nguyên nhân hình thành.
Liên kết kinh tế nhà nước là tham gia vào qúa trình toàn
cầu hoá, nhằm tạo điều kiện tăng cường hợp tác giúp đỡ lẫn nhau
khai thác nguồn lực của nhau để cùng nhau phát triển kinh tế, dựa
và Th Điển, Phần Lan tham gia với tư cách là quan sát viên.
Năm 1992, một khu vực mậu dòch tự do ra đời đó là khu
vực mậu dòch tự do Bắc Mỹ –NAFTA bao gồm Mỹ, Canada,
Mexico. Đây là hình thức liên kết kinh tế lớn nhất hiện nay tổng
GDP đạt vào khoảng 12.000 tỷ USD.
Việt nam hiện là thành viên trong khu vực mậu dòch tự do
của các nước ASEAN , đó là AFTA – theo quy đònh mức thuế quan
sẽ giảm từ 0 đến 5% đến năm 2003 và xét theo hoàn cảnh gia nhập
cũng như trình độ phát triển kinh tế của một số nước mà việc cắt
giảm thuế sẽ được gia hạn thêm.
2/ Liên minh thuế quan ( Customs Union)
Có những điều kiện giống khu vực mậu dòch tự do nhưng
cao hơn khu vực mậu dòch tự do ở chỗ sẽ thống nhất một mức thuế
quan chung để đánh ra bên ngoài với các nước không phải là thành
viên. Các nước tham gia bò mất quyền độc lập tự chủ trong quan hệ
buôn bán với nước ngoài khối.
Thoả thuận xây dựng chung về cơ chế hải quan thống
nhất áp dụng chung cho các nước thành viên.
Tiến tới xây dựng chính sách ngoại thương thống nhất.
Cộng đồng kinh tế châu âu (EEC) là một ví dụ đặc trưng
cho hình thức liên hiệp thuế quan, được thành lập vào năm 1957
bao gồm 6 thành viên đó là :Tây đức, Pháp, Ý, Bỷ, Luých Xăm
Bua và Hà Lan.
3/ Thò trường chung. (Common Market)
Hình thức này thể hiện trình độ liên kết cao hơn so với
liên hiệp thuế quan vì nó cho phép di chuyển tự do lao động và tư
bản giữa các nước thành viên. Từ năm 1992, EEC đã trở thành thò
trường chung Châu âu (ECM).
4/ Liên minh kinh tế (Economic Union)
Trang 17
chung, tiến tới thực hiện liên minh về chính trò.
Tuy mức độ liên kết khác nhau nhưng tất cả các hình thức
liên kết trên đây đều đưa đến kết quả là gia tăng khối lượng mậu
dòch, sử dụng tài nguyên tốt hơn và nâng cao mức sống của nhân
dân với mức độ ngày càng chặt chẽ hơn
BẢNG TỔNG HP CÁC HÌNH THỨC LIÊN KẾT KINH TẾ
Các hình thức
liên kết
Xoá
bỏ
hàng
rào
thuế
quan
và phi
thuế
quan
giữa
các
thành
viên
Hệ
thống
thuế
và phi
thuế
chung
cho
bên
ngoài
Có Có Có Có Không
Monetary
Union
Có Có Có Có Có
B/ Liên kết kinh tế quốc tế tư nhân (Microintergration)
a) Khái niệm:
- Liên kết kinh tế quốc tế tư nhân là hình thức liên kết kinh tế quốc
tế ở tầm vi mô để lập ra các công ty quốc tế.
b) Cơ sở hình thành và vai trò của các công ty quốc
tế.
- Cơ sở hình thành.
Xu thế quốc tế hoá lực lượng sản xuất, hình thành các
công ty xuyên quốcsgia xu hướng sát nhập các công ty có quy mô
nhỏ thành các công ty khổng lồ để tăng khả năng cạnh tranh, nhằm
độc chiếm vai trò chi phối thò trường quốc tế đang tăng nhanh.
Nhằm tránh sự rủi ro bất ổn của chu kỳ kinh doanh nội đòa,
mở rộng thò phần ra nước ngoài, cũng như nhằm chống lại chính
sách bảo hộ mậu dòch ở các nước, ở các khối liên kết kinh tế đang
gia tăng. Sự gia tăng nhu cầu trên thò trường thế giới về sản phẩm,
dòch vụ công ty cung cấp.
Chiến lược “ theo sau cạnh tranh”để bảo vệ thò phần, giảm
chi phí, đa nguồn cung để giảm rủi ro, thu thập kiến thức, vượt qua
hàng rào thuế quan.
Sử dụng lợi thế kỹ thuật chuyên môn bằng sản xuất trực
tiếp hơn là license và đặc biệt là nhằm phân khúc thò trường để
phục vụ khách hàng quan trọng.
- Vai trò của các công ty quốc tế :
Các công ty đa quốc gia là những công ty mà việc sở hữu,
điều hành quản lý sản xuất tiến hành ở nhiều quốc gia. Công ty đa
quốc gia là một hình thức di chuyển vốn quốc tế nhằm đem lại hiệu
Công ty đa quốc gia có những ưu điểm hơn so với các công ty quốc
gia thuần tuý ở những điểm sau:
+ Mở rộng thò trưòng mỗi liên kết dọc, ngang giữa các
công ty mẹ và con đã hình thành một thò trường xuyên suốt giữa
các quốc gia. Ví dụ: các Công ty lữ hành quốc tế tổ chức các tua
du lòch theo hệ thống khách sạn, dòch vụ của mình.
+ Công ty đa quốc gia có nhiều vốn và dễ tiếp cận với các
thò trường vốn quốc tế, cho nên có đủ điều kiện để thực hiện các dự
án đầu tư đòi hỏi quy mô lớn.
+ Các công ty đa quốc gia có thể huy động nguồn vốn
nước sở tại.
+ Đủ điều kiện tài chính để nghiên cứu và phát triển công
nghệ mới tiên tiến.
Trang 18
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Mơn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế
+ Các công ty đa quốc gia có thể kích thích nguồn vốn
viện trợ.
+ Các công ty có điều kiện thu thập thông tin toàn cầu, do
vậy có khả năng đánh giá đầy đủ, chính xác các tình huống thuận
lợi, khó khăn của thò trường thế giới, tạo điều kiện cho công ty có
những chiến lược và sách lược cụ thể để đối phó. Chính vì vậy mà
hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn, hàng hoá phù hợp
với thò hiếu của khách hàng hơn.
Các công ty quốc tế góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế của
các nước, thay đổi thể chế chính sách kinh tế của một quốc gia và
bằng hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp các công ty quốc tế
đã cung cấp một số lượng vốn khổng lồ cho các nước đang phát
triển.
Giúp đỡ các nước nghèo phát triển kinh tế, trình độ khoa
Enterprise – MNC or MNE) là công ty được thành lập do vốn của
nhiều nước đóng góp
+ Công ty toàn cầu : (Global Company- GC) là công ty
tiêu chuẩn hoá các hoạt động toàn cầu trên mọi lónh vực.
+ Công ty xuyên quốc gia : ( Transnational Corporation-
TNC) là MNC hoặc GC
- Phân loại theo phương thức hoạt động :
+ Trust – Tổ chức độc quyền quốc tế liên kết 1 số lượng
lớn các xí nghiệp của một ngành hay những ngành gần nhau trong
1 số nước.
+ Consotium – Hình thức liên kết số 1 lớn các xí nghiệp
của các ngành khác nhau trong 1 số nước.
+ Syndicat – Hiệp đònh thống nhất về tiêu thụ sản phẩm
của một số Trust và Consotium
+ Cartell- Hiệp đònh độc quyền liên minh giữa các nhà tư
bản trong một ngành nào đó.
- Đặc điểm phát triển của Công ty quốc tế :
Các Công ty quốc tế chuyển dòch dần hướng đầu tư sang
các lónh vực quan trọng đòi hỏi trình độ, chất xám, vốn lớn như :
lónh vực nghiên cứu, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, dòch vụ thương
mại, bất động sản
Ngày nay các công ty xuyên quốc gia có tầm ảnh hưởng
rất lớn đến sự phát triên kinh tế toàn cầu, và ngày càng có nhiều
công ty ra đời và đang khẳng đònh được vò thế chỗ đứng và mở rộng
sự bành trướng ở khắp các châu lục. Muốn tồn tại và phát triển tất
cả các Công ty xuyên quốc gia các nước đều phảigia tăng thực lực
kinh tế của mình và lấy đó là điểm tựa chính để mở rộng khả năng
tham dự vào cuộc cạnh tranh ngày càng quyết liệt trên phạm vi
toàn cầu, mặt khác cuộc cạnh tranh quốc tế lấy thực lực kinh tế
làm cốt lõi có xu hướng ngày càng quyết liệt đó cũng khiến cho
đều phải cam kết loại bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản.
- Với sản phẩm phi nông nghiệp, trợ cấp được
chia thành ba nhóm lớn. Nhóm đèn đỏ là trợ cấp bị
cấm sử dụng, bao gồm trợ cấp xuất khẩu (lấy xuất
khẩu làm tiêu chí để cho hưởng trợ cấp). Theo SCM,
trợ cấp xuất khẩu không chỉ là trợ cấp dựa trên kết
quả xuất khẩu mà còn bao gồm cả trợ cấp dựa trên
mục tiêu hoặc tiềm năng xuất khẩu. Các loại trợ cấp
này đều bị cấm bất kể chúng được quy định trong luật
hay không (theo luật định - de jure hoặc trên thực tế -
de facto) và trợ cấp thay thế nhập khẩu (trợ cấp để
khuyến khích sử dụng đầu vào trong nước, khuyến
khích nội địa hóa). Nhóm đèn vàng là trợ cấp riêng
biệt cho một ngành hoặc một vùng, gây lệch lạc
thương mại, tuy không bị cấm sử dụng nhưng có thể
bị “trả đũa” (bị đánh thuế chống trợ cấp hoặc bị kiện
ra WTO). Nhóm đèn xanh là trợ cấp được coi là ít gây
lệch lạc cho thương mại (trợ cấp R&D, trợ cấp phát
triển vùng khó khăn ), được phép áp dụng mà không
bị “trả đũa”. Tuy nhiên, WTO đưa ra những tiêu chí rất
chặt chẽ cho trợ cấp loại này.
- Với cả trợ cấp nông nghiệp và phi nông nghiệp,
WTO đều có ngoại lệ dành cho các nước chậm và đang
phát triển. Thí dụ, với trợ cấp phi nông nghiệp, Hiệp
định SCM liệt kê một số thành viên có GNP bình quân
đầu người dưới 1.000 đô la Mỹ/năm và cho phép họ
được duy trì trợ cấp xuất khẩu (trong danh sách này có
cả Ấn Độ, Indonesia và Philippines). Hiệp định cũng cho
phép các thành viên là nền kinh tế chuyển đổi được xóa
bỏ dần trợ cấp bị cấm trong vòng bảy năm, kể từ 1-1-
Aicraft, và Brazil - Aicraft; Ban phúc thẩm giải thích thế
nào là "món lợi": (a) Món lợi phải tạo ra từ sự khác biệt
cụ thể dựa trên lợi thế so sánh với thị trường, ví dụ nếu
doanh nghiệp nhận được khoản vay với điều kiện như
mọi doanh nghiệp khác trên thị trường, thì nó không bị
coi là trợ cấp ngay cả khi nó mang lại lợi nhuận cho
doanh nghiệp; (b) Nếu DNNN trước đây được trợ cấp,
nay tư nhân hoá theo đúng giá thị trường, thì khoản trợ
cấp trước kia không bị gán cho doanh nghiệp mới (no
pass - through of subsidies); (c) Về thời điểm để xác
định có trợ cấp hay không, nếu doanh nghiệp đã nhận
được cam kết pháp lý của chính phủ về khoản trợ cấp
thì đó đã được coi là thời điểm nhận trợ cấp, ngay cả
khi trên thực tế doanh nghiệp chưa nhận được xu nào.
- Tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét cụ thể hơn trợ
cấp xuất khẩu. Đây là dạng trợ cấp bị cấm trong WTO,
vì thế nó còn được gọi là trợ cấp "đèn đỏ". Trợ cấp xuất
khẩu là dạng trợ cấp phụ thuộc vào hoạt động xuất
khẩu, tức là doanh nghiệp muốn nhận trợ cấp này thì
phải sử dụng nó cho mục đích xuất khẩu (Điều 3.1 HĐ
SCM). Phụ lục I của HĐ SCM cũng cung cấp danh sách
tham khảo những trợ cấp nào thì bị liệt vào trợ cấp
xuất khẩu.
- Trợ cấp xuất khẩu có thể là chính thức (de jure),
cũng có thể là trên thực tế (de facto). Trong vụ Canada
-Automotive Industry, Ban phúc thẩm giải thích rằng,
một cách chính thức, "phụ thuộc vào hoạt động xuất
khẩu" có nghĩa là "điều kiện để nhận trợ cấp được thể
hiện thành câu chữ trong văn bản liên quan; hoặc điều
kiện đó được thể hiện rõ, dù gián tiếp, trong chính sách
XVI và VI của Hiệp định GATT 1994 (gọi tắt là GATT
1994), và Hiệp định của WTO về trợ cấp và các biện
pháp đối kháng 1995 (gọi tắt là HĐ SCM). Ngoài ra,
Hiệp định về nông nghiệp (HĐ NN) cũng nói đến dạng
trợ cấp này.
- Ngoài ra, còn có "luật án lệ" (case law) do các
bạn hội thẩm (panel) và Ban phúc thẩm (Appellate
Body) của WTO phát triển qua thực tiễn phán xét các
tranh chấp giữa các quốc gia thành viên. Chúng ta sẽ
thấy vai trò của "luật án lệ" này trong khi xem xét các
quy định thành văn của WTO, cụ thể trong bài này là
các quy định về trợ cấp xuất khẩu.
- Các tranh chấp về trợ cấp xuất khẩu có thể giải
quyết theo hai kênh: đa phương và song phương. Đa
phương trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và
song phương khi tự quốc gia đó tiến hành điều tra và
áp dụng các biện pháp thuế đối kháng.
* Đa phương: Đưa ra WTO
Nếu một quốc gia thành viên WTO (tạm gọi là
A) tin rằng quốc gia thành viên khác (B) áp dụng trợ
cấp xuất khẩu, trước hết A có quyền yêu cầu tham vấn
với B. Nếu trong vòng 30 ngày (hoặc lâu hơn tuỳ theo
thoả thuận đôi bên), các cuộc tham vấn vẫn không
đem lại giải pháp thích dáng, bất cứ bên nào cũng có
quyền yêu cầu Hội đồng giải quyết tranh chấp (Dispute
Settlement Body-DSB) của WTO thành lập một ban hội
thẩm 3 người để xem xét vụ việc. Trong vòng 90 ngày
kể từ khi thành lập, ban hội thẩm phải xem xét và công
bố bản báo cáo cuối cùng cho tất cả các nước thành
viên. Ban này có thể tự mình quyết định liệu có trợ cấp
ví dụ trong vụ Brazil-Aircraft.
* Song phương: Các biện pháp thuế đối kháng
Trợ cấp xuất khẩu nếu gây thiệt hại cho nền
công nghiệp của nước nhập khẩu cũng có thể bị kiện
theo cơ chế song phương và có thể bị áp thuế đối
kháng theo quy trình chung về áp dụng các biện pháp
thuế đối kháng khác. Muốn vậy, trước hết nước nhập
khẩu phải chứng minh 3 điều kiện : (a) xác định được
đó là có trợ cấp xuất khẩu như đã trình bày ở phần thứ
nhất; (b) xác định được có thiệt hại xảy ra đối với
ngành sản xuất mặt hàng tương tự của nước nhập
khẩu; (c) xác định được mối liên quan giữa hai yếu tố
trên, đồng thời thiệt hại do các yếu tố khác gây ra
không được quy cho trợ cấp xuất khẩu.
Tiếp theo, các điều 11 đến 13 của HĐ SCM
quy định cụ thể quy trình khởi xướng và tiến hành điều
tra về trợ cấp và áp dụng các biện pháp chống trợ cấp.
Quy trình này phải đảm bảo tính minh bạch, mọi bên
liên quan phải có cơ hội bảo vệ quyền lợi của mình, cơ
quan có thẩm quyền phải giải trình rõ tại sao họ lại
phán quyết như thế này chứ không như thế kia.
Cơ quan có thẩm quyền ở nước nhập khẩu có
thể áp dụng một trong 3 dạng biện pháp sau đây: (a)
Sau khi điều tra sơ bộ ít nhất được 60 ngày, áp dụng
các biện pháp đối kháng tạm thời không quá 4 tháng;
(b) Nếu nước xuất khẩu tự nguyện huỷ bỏ hoặc hạn
chế trợ cấp, hoặc xem xét lại giá nhập khẩu khiến cho
cơ quan có thẩm quyền đồng ý rằng thiệt hại sẽ không
còn xảy ra, thì cuộc điều tra sẽ được tạm dừng hoặc
chấm dứt mà không áp dụng các biện pháp tạm thời
Trợ cấp xuất khẩu nói riêng và những kiện
tụng khác liên quan đến thương mại quốc tế nói chung
trong WTO đòi hỏi một vốn tri thức khổng lồ và cặn kẽ
về pháp luật, kinh tế, chính trị và cả các chuyên ngành
khác. Nó cũng cần thứ tiếng Anh tuyệt hảo để tranh cãi
trước các ban hội thẩm và Ban phúc thẩm, trước cơ
quan nước ngoài, để ra phán quyết tâm phục khẩu
phục với đại diện các nước. Ngoài ra, nó cần những kỹ
năng chuyên sâu như hùng biện, ngoại giao Những
điều kiện này trước hết tối cần thiết cho những chuyên
viên của Bộ Thương mại và có thể là Bộ Ngoại giao, Bộ
Tư pháp sẽ thay mặt chính phủ trực tiếp hầu kiện ở
WTO.
Như đã thấy, cơ chế giải quyết tranh chấp
trong WTO chịu ảnh hưởng lớn từ luật án lệ của hệ
thống Anh - Mỹ. Cách giải thích luật ở đấy rất giống với
cách thẩm phán Mỹ hoặc Anh giải thích luật: họ không
chỉ vận dụng các điều khoản được trực tiếp quy định
trong các Hiệp định của WTO, mà còn viện dẫn đến cả
những nguồn khác như luật tập quán quốc tế, lịch sử
của hiệp định, ý đồ của nhà soạn thảo. Ngay cả khi
viện dẫn câu cú của luật, họ cũng có thể giải thích khá
rộng, có khi ngược với ý đồ ban đầu của văn bản. Biết
và hiểu được tư duy này để: thứ nhất, không bị ngã
ngửa khi nghe lập luật và phán quyết; thứ hai, để sống
chung với nó, lựa theo nó để lập luận tốt nhất cho
mình. Cùng một mức độ về chứng cứ, con người, cứ ai
lập luận thuyết phục hơn thì họ nghe. Thứ ba, khi cần
tìm hiểu luật của WTO, không thể bỏ qua các bản báo
cáo của các ban hội thẩm và Ban phúc thẩm. Các bản
vụ ngoài cơ sở hạ tầng chung hay mua hàng hoá.
4/Chính phủ tài trợ cho một cơ chế cấp vốn. Tuy vậy,
không phải mọi hoạt động trợ cấp đều bị WTO loại bỏ.
Theo Hiệp định SCM có thể phân ra các loại trợ cấp như
sau: 1/Trợ cấp bị cấm vận hoàn toàn (hay có thể gọi là
“trợ cấp đèn đỏ”) bao gồm trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp
khuyến khích sử dụng hàng nội so với hàng nhập khẩu.
2/ Trợ cấp không bị cấm nhưng có thể là đối tượng của
các biện pháp đối kháng (gọi là ềtrợ cấp đèn vàngể).
3/Trợ cấp không bị cấm và cũng không là đối tượng của
các biện pháp đối kháng (gọi là “trợ cấp đèn xanh”).
- Theo Hiệp định SCM thì tín dụng hỗ trợ xuất khẩu
của Quỹ Hỗ trợ Phát triển là một hình thức trợ cấp xuất
khẩu. Vấn đề đặt ra ở đây là khi gia nhập WTO, tín
dụng hỗ trợ xuất khẩu có tiếp tục duy trì được hay
không và nếu còn tồn tại thì sẽ có biến đổi gì? Hiện nay
SCM hầu như không còn ngoại lệ dành cho nước phát
triển hoặc những nền kinh tế chuyển đổi nữa vì thế tất
cả các ềtrợ cấp đèn đỏể đều bị hạn chế hoặc nếu nó
Trang 22
Trường ĐHKT TPHCM Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Võ Thanh Thu
Lớp K2004 TPHCM (Ngoại Thương) Môn: Quan hệ Kinh tế Quốc tế
vẫn được duy trì sử dụng thì đương nhiên sẽ trở thành
đối tượng của các biện pháp đối kháng (điển hình là áp
mức thuế cao vào sản phẩm được trợ cấp ). Dẫu vậy
thì WTO vẫn ưu ái hơn tới các nước đang phát triển khi
có thể cho phép một số nước có thời gian quá độ 8 năm
để từng bước loại bỏ trợ cấp xuất khẩu và có thời gian
5 năm chuyển tiếp để cắt giảm các trợ cấp khuyến
khích sử dụng hàng nội so với hàng nhập khẩu.
nghiệp rất cần đối với doanh nghiệp Việt Nam trong
tương lai.
- Vì vậy, tính từ thời điểm này thì tín dụng hỗ trợ
xuất khẩu chỉ còn được tối đa là 10 năm nữa để duy trì
và cắt giảm dần dần theo đúng lộ trình mà đoàn đàm
phán gia nhập WTO có thể thương lượng đạt được.
Đồng thời trong quãng thời gian đó hoạt động tín dụng
này cũng cần có sự chuyển biến cho phù hợp hoặc
thậm chí có thể ch m dứt hoàn toàn. Tuy nhiên, khi mà
hầu như không một quốc gia thành viên nào của WTO
lại không duy trì trợ cấp thì Việt Nam cũng sẽ phải
nghiên cứu để duy trì trợ cấp phù hợp nhất. Quan trọng
là hình thức trợ cấp này nên thuộc loại “đèn xanh” và
cũng có thể là “đèn vàng”, nhưng có thể được bỏ qua
không sử dụng các biện pháp đối kháng hay biện pháp
đối kháng sử dụng có thể chấp nhận được.
- Mặt khác, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế,
mong muốn trở thành thành viên của WTO trở thành
hiện thực thì trợ cấp có còn nữa hay không? Thực tế tất
cả các nước thành viên WTO đều duy trì trợ cấp cho
doanh nghiệp, đó là loại ềđèn xanhể hay “đèn vàng”
chấp nhận được: ví dụ như trợ cấp cho hoạt động
nghiên cứu và phát triển (R&D); trợ cấp phát triển khu
vực; Trợ cấp bảo vệ môi trường.
- Cùng với lộ trình cắt giảm dần dần hoạt động hỗ
trợ xuất khẩu trong đó có tín dụng hỗ trợ xuất khẩu thì
Chính phủ và Quỹ Hỗ trợ phát triển cũng nên nghiên
cứu xem xét mở rộng sang các hoạt động tín dụng ưu
đãi cho các hoạt động “đèn xanh” trên mà đặc biệt là
hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) hay hoạt
các nước khác được bán trên thị trường của nước áp
dụng biện pháp trợ cấp. Cũng giống như trường hợp
trên, khi ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại bởi
hàng nhập khẩu được trợ cấp, thuế chống trợ cấp có
thể được áp dụng đối với hàng nhập khẩu
- Hiệp định công nhận rằng trợ cấp có thể đóng một vai trò
quan trọng ở các nước phát triển cũng như trong việc chuyển
đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang các nền kinh tế thị
trường.
4/ Những điểm chính (hiệp định) của WTO về
chống tài trợ trong lĩnh vực công nghiệp,
nông nghiệp
- Một trong những nội dung mà cả Quỹ Hỗ trợ phát
triển, các tổ chức tín dụng ưu đãi của Nhà nước đến các
doanh nghiệp xu t khẩu quan tâm tìm hiểu để có những
bước chuyển biến phù hợp với tiến trình Việt Nam gia
nhập WTO là: Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối
kháng - Agreement on Subsidies and Countenrvailing
Measures (SCM). SCM là một trong rất nhiều Hiệp định
của WTO mà mục đích chung của các Hiệp định này là
ngăn cấm hoặc hạn chế các ảnh hưởng xấu tới hoạt
động thương mại giữa các nước thành viên WTO, nhằm
tạo ra một sân chơi chung bình đẳng cho mọi thành
viên của Tổ chức này.
- Theo Hiệp định SCM thì tín dụng hỗ trợ xuất khẩu
của Quỹ Hỗ trợ Phát triển là một hình thức trợ cấp xuất
khẩu. Vấn đề đặt ra ở đây là khi gia nhập WTO, tín
dụng hỗ trợ xuất khẩu có tiếp tục duy trì được hay
không và nếu còn tồn tại thì sẽ có biến đổi gì? Hiện nay
SCM hầu như không còn ngoại lệ dành cho nước phát
định. Các biện pháp được xếp vào Hộp Hổ phách có thể
là hỗ trợ giá, trợ cấp gắn với sản xuất, tức là tất cả
biện pháp hỗ trợ trong nước mà không nằm trong Hộp
Xanh lá cây và Xanh lơ. Theo qui định của hiệp định
nông nghiệp, tổng mức hỗ trợ gộp cho phép đối với
nước đang phát triển là 10% giá trị sản lượng của sản
phẩm nếu là hỗ trợ cho sản phẩm cụ thê, và là 10%
giá trị sản xuất nông nghiệp cả nước nếu là hỗ trợ
không
5/ Vài nét về cam kết của Việt Nam về việc gia
nhập WTO về tài trợ xuất khẩu, nêu lộ trình
bỏ tài trợ xuất khẩu
- Việt Nam cũng đã cam kết xóa bỏ trợ cấp xuất
khẩu nông sản kể từ ngày gia nhập WTO và ràng buộc
trợ cấp xuất khẩu nông sản ở mức 0 trong Biểu cam
kết về hàng hóa. Đối với trợ cấp bị cấm theo quy định
của Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng
của WTO, Việt Nam cam kết xóa bỏ trợ cấp theo tỷ lệ
nội địa hoá hoặc yêu cầu sử dụng nguyên liệu trong
nước và trợ cấp trực tiếp từ ngân sách theo thành tích
xuất khẩu từ thời điểm gia nhập WTO.
Đối với một số trợ cấp xuất khẩu bị cấm dưới hình thức
ưu đãi đầu tư đã cấp cho các dự án sản xuất hàng xuất
khẩu được cấp phép trước khi gia nhập, Việt Nam đề
nghị được áp dụng giai đoạn chuyển đổi 5 năm để xóa
bỏ từng bước các trợ cấp này nhằm bảo đảm tôn trọng
cam kết của Chính phủ với các nhà đầu tư hiện tại và
ổn định môi trường kinh doanh trong nước.
- Với nông sản, cũng như các thành viên mới gia
khẩu (ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê
đất, tiền sử dụng đất ) đã cấp cho các dự án từ trước
ngày gia nhập WTO (nhưng không bao gồm các dự án
dệt-may). Các hình thức hỗ trợ khác cho sản xuất nông
nghiệp và công nghiệp, nếu không gắn với xuất khẩu
hoặc khuyến khích thay thế hàng nhập khẩu, vẫn tiếp
tục được duy trì.
+ Giai đoạn quá độ năm năm là ngoại lệ chưa
từng có kể từ ngày WTO được thành lập. Trước yêu cầu
kiên trì và chính đáng của Việt Nam, một nước đang
phát triển ở trình độ thấp và đang trong quá trình
chuyển đổi, các thành viên WTO đã phải nhân nhượng.
Tuy chưa được như mong muốn nhưng kết quả đàm
phán này đã phần nào giúp các doanh nghiệp của ta có
thêm thời gian để tự điều chỉnh, tránh được sự thay đổi
đột ngột.
* Tác động tới doanh nghiệp:
+ Việc bãi bỏ trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội
địa hóa chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới một số doanh
nghiệp. Để đánh giá mức độ ảnh hưởng, cần xem xét
các khía cạnh như đối tượng và quy mô được hưởng trợ
cấp, hiệu quả thực tế của trợ cấp, mối quan hệ giữa trợ
cấp với nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng
của Nhà nước trong việc chuyển đổi từ trợ cấp thuộc
diện phải bãi bỏ sang các hình thức trợ cấp khác được
WTO cho phép.
+ Về quy mô, không có nhiều số liệu để phân
tích. Tuy nhiên, với ngân sách còn hạn chế như hiện
nay (và trong nhiều năm tới), có thể khẳng định con số
là rất khiêm tốn. Chế độ thưởng theo kim ngạch xuất
toàn bộ trợ cấp xuất khẩu đối với hàng nông sản ngay
khi gia nhập; với các khoản hỗ trợ trong nước được duy
trì ở mức 10% giá trị sản lượng như các nước đang
phát triển khác trong WTO. Tuy nhiên, theo Bộ Tài
chính thì mức hỗ trợ trong nước thực tế hiện nay đang
thấp hơn 10%.
Trong công nghiệp, xóa bỏ từ thời điểm gia
nhập các khoản trợ cấp bị cấm như trợ cấp xuất khẩu
và trợ cấp thay thế hàng nhập khẩu; những khoản trợ
cấp chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước. Các khoản trợ
cấp bị cấm dưới hình thức ưu đãi đầu tư cho xuất khẩu
và thay thế hàng nhập khẩu sẽ phải bỏ sau 5 năm từ
thời điểm gia nhập đối với các dự án đã đi vào hoạt
động. Tuy nhiên các ưu đãi này không được áp dụng
với các dự án mới thành lập từ sau khi gia nhập. Riêng
các khoản trợ cấp bị cấm đang áp dụng với ngành dệt
may sẽ phải bỏ ngay từ thời điểm gia nhập.
- Những trợ cấp khác mà WTO không cấm thì
chúng ta vẫn được sử dụng. Một số thông tin gần đây
có đăng gia nhập WTO chúng ta sẽ bỏ hết trợ cấp, điều
đó không phải. Chúng ta chỉ bỏ những trợ cấp bị cấm,
còn những trợ cấp không cấm thì vẫn được duy trì và
thực hiện. Còn đối với trợ cấp trong các lĩnh vực khác
liên quan dệt may, chúng ta có Quyết định 55 của Thủ
tướng Chính phủ. Khi những người dịch lại cho các cơ
quan nước ngoài, phiên dịch không chuẩn. Trong Quyết
định số 55, chúng ta nói hỗ trợ các doanh nghiệp để
sản xuất hàng dệt và may để xuất khẩu. Nhưng, từ hỗ
trợ không có nghĩa là cho không (nhiều người dịch là
subsidize - cho không) dẫn đến có sự hiểu lầm. Chúng
chuyển đổi, nên có lộ trình giảm thuế, lộ trình chuyển
đổi thị trường. Lộ trình giảm thuế lấy mức thuế hiện
hành bắt đầu giảm trong vòng 3-5 năm sẽ xuống mức
14%. Tất nhiên, từng mặt hàng có mức cắt giảm khác
nhau: xe máy phân khối lớn theo lộ trình chúng ta cắt
xuống còn 45% (hiện nay 60%); ô-tô tùy loại mức cắt
giảm xuống còn 52% hoặc 47% hoặc 50%. Chúng ta
áp mức thuế bảo hộ cho ngành ô-tô, xe máy khá cao.
Cho nên trên thực tế mức đó không phù hợp lắm, nếu
chỉ bảo vệ cho người sản xuất, thì người tiêu dùng Việt
Nam hiện nay chịu mức giá ô-tô cao nhất thế giới. Vì
vậy, chúng ta phải giảm thuế, một mặt phải bảo vệ
người sản xuất, mặt khác phải cân đối lại lợi ích của
người tiêu dùng. Hơn nữa, thực tế các tập đoàn đa
quốc gia phân vùng, phân khu vực thành thị trường,
cho nên đó cũng là điều kiện. Một số ngành sản xuất
trong nước của Việt Nam hiện nay cũng đã phát triển.
Cho nên, những ngành đó trong thời gian qua đã thay
thế được phần lớn các mặt hàng lâu nay vẫn nhập
khẩu. Khi chúng ta mở cửa thị trường, các nhà sản xuất
trong nước có sản phẩm rồi. Muốn hay không họ phải
giảm chi phí, nâng cao khả năng cạnh tranh để tồn tại
và phát triển. Như thế, chúng ta sẽ có điều kiện đó. Thí
dụ, phân đạm chúng ta đã có nhà máy phân đạm, nếu
thuế có cao thì nhà máy phân đạm trong nước đã có
khả năng cung cấp cho thị trường. Toàn bộ ngành bia,
có mở nữa cũng coi như toàn bộ các công ty bia của
Việt Nam vẫn cạnh tranh được; hoặc vật liệu xây dựng,
xi-măng, thép (chủ yếu thép xây dựng, bắt đầu có đầu
tư thép cao cấp), điều kiện kinh tế của Việt Nam bây
bò và thịt lợn, thuế nông nghiệp. Chúng tôi phải chấp
nhận điều kiện với Hoa Kỳ là cao hơn so với Australia
và New Zealand. Sau này cân đối lại biểu thuế sẽ có sự
điều chỉnh. Các mức thuế sẽ áp dụng MFN cho nên các
nước đều hưởng mức thuế như nhau. Cuối cùng Ban
Thư ký sẽ tổng hợp lại.
- Ðàm phán song phương là những cuộc đàm phán
căng thẳng. Tất cả các đối tác yêu cầu đàm phán đông
vì các lý do: họ cho rằng Việt Nam là một thị trường
tương lai hứa hẹn, vì Việt Nam có số dân đông thứ 13
thế giới, lao động hơn 40 triệu người, lao động trẻ hơn
30 triệu người. Việt Nam có vị trí thuận lợi cả trên bộ,
trên biển, hàng không, là điều kiện cho phát triển
Trang 25