SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HẢI DƯƠNG
TÊN SÁNG KIẾN:
RÈN LUYỆN MỘT SỐ KỸ NĂNG
SỬ DỤNG ATLAT ĐỊA LÝ
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
MÔN: ĐỊA LÍ
KHỐI LỚP: 10, 11, 12
NHẬN XÉT CHUNG:
ĐIỂM THỐNG NHẤT
Bằng số:
Bằng chữ:
Giám khảo số 1:
Giám khảo số 2:
NĂM HỌC 2009 - 2010
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HẢI DƯƠNG
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NAM SÁCH II
TÊN SÁNG KIẾN:
RÈN LUYỆN MỘT SỐ KỸ NĂNG
SỬ DỤNG ATLAT ĐỊA LÝ
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
MÔN: ĐỊA LÍ
TÊN TÁC GIẢ: PHẠM THỊ THU HẰNG
ĐÁNH GIÁ CỦA TỔ SỬ - ĐỊA - GDCD, TRƯỜNG THPT NAM SÁCH II
(Nhận xét, xếp loại, ký, đóng dấu)
trong suốt cả cuộc đời.
Rèn luyện kỹ năng bản đồ còn là phương tiện đặc biệt quan trọng để phát
triển tư duy nói chung và tư duy địa lý nói riêng. Trong khi học tập sử dụng bản
đồ, học sinh luôn phải quan sát, tưởng tượng, phân tích đối chiếu, so sánh, tổng
hợp, khái quát hoá, xác lập các mối quan hệ địa lý, vì thế tư duy của các em luôn
luôn hoạt động và phát triển.
Trong những năm gần đây, phương pháp dạy học đang được toàn nghành
giáo dục cải tiến theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, học
sinh tự tìm tòi kiến thức, tự khám phá tri thức. Việc sử dụng và khai thác kênh hình
trong quá trình dạy học là một việc làm không thể thiếu nhất là việc sử dụng bản
đồ trong dạy và học địa lý, sử dung Atlat trong qua trình tự học của học sinh hiên
3
nay. Atlat là nguồn kiến thức địa lí khổng lồ, trong điều kiên nền kinh tế xã hội thế
giới phát triển theo xu hướng toàn cầu hoá như hiên nay, thời lượng cho môn địa lý
có hạn.
II. Mục đích của đề tài
Trong khuôn khổ của đề tài, tôi mạnh dạn trình bày quy trình hướng dẫn
học sinh sử dụng bản đồ địa lý trong quá trình học tập từ mức độ dễ đến khó dần
theo từng lớp. Nhằm khắc phục một nhược điểm phổ biến trong học sinh là không
có kỹ năng sử dụng bản đồ địa lý, đồng thời giúp các em có được phương pháp làm
việc với bản đồ một cách tích cực nhất trong quá trình học tập.
III. Phương pháp nghiên cứu:
- Khảo sát tình hình kỹ năng sử dụng bản đồ của học sinh để nắm được mức độ
hiểu biết của các em về khả năng này.
- Trên cơ sở kết quả khảo sát, phân tích đánh giá tình hình để lựa chọn những kỹ
năng cần thiết cho học sinh, lựa chọn cách hướng dẫn phù hợp với từng đối tượng
- Trong qúa trình dạy hàng ngày, thường xuyên sử dụng các kỹ năng này và chú ý
rèn luyện cho học sinh vào các giờ học, vào giờ kiểm tra bài cũ, nhất là trong các
giờ thực hành.
- Yêu cầu một số học sinh phát âm lại tên địa danh và khi cần cho phát âm tập thể
- Yêu cầu học sinh chi chép chính xác tên điạ danh vào sổ tay địa lý hoặc vở ghi.
- Hướng dẫn học sinh nhận xét hình thù đặc trưng của đối tượng địa lý trên bản đồ.
- Hướng dẫn học sinh nhận xét mối quan hệ củađối tượng với các vật khác xung
quanh ( dùng làm điểm tựa) dể sau này dễ nhận ra và tìm được đối tượng trên bản
đồ.
- Hướng dẫn cách chỉ đối tượng trên bản đồ.
5
Quy trình này được tiến hành thường xuyên trong các giờ học dần dần hình
thành ở các em kỹ năng đọc, chỉ, nhận biết đối tượng địa lý trên bản đồ.
2. Rèn luyện kỹ năng xác định phương hướng trên bản đồ:
Xác định phương hướng cũng là một kỹ năng đơn giản, được dạy ở các lớp
dưới. Nhưng qua thực tế dạy học, tôi thấy nếu không thường xuyên rèn luyện lại
kỹ năng này cho HS thì các em sẽ quên và không thể xác định phương hướng một
cách chính xác trên bản đồ.
Quy trình tiến hành rèn luyện kỹ năng xác định phương hướng trên bản đồ
có thể theo quy trình sau:
- Hướng dẫn học sinh tìm trên quả cầu địa cực bắc, địa cực nam và nhận rõ đấy là
điểm cực bắc, cực nam.
- Chứng minh tất cả các đường kinh tuyến dều dẫn đến điểm bắc và nam, tức là
đường chỉ hướng bắc và hướng nam.
Ví dụ: Xác định chí hướng ở trang 10 “tập bản đồ thế giới và các châu lục”
và trang 14 “tập bản đồ thế giới và các châu lục” và trang 19 “tập bản đồ thế giới
và các châu lục”.
- Cho học sinh nhận rõ các đường vĩ tuyến chỉ hướng tây đông và để các em chứng
minh trên quả địa cầu là không có điểm tây và cũng không có điểm đông.
Ví dụ: Xác định chí hướng ở trang 10 “tập bản đồ thế giới và các châu lục” và
trang 14 “tập bản đồ thế giới và các châu lục” và trang 19 “tập bản đồ thế giới và
các châu lục”
Ví dụ: xác định toạ độ Việt Nam, Châu Á ở các trang 9, 27, 31 “tập bản đồ thế
giới và các châu lục”.
4. Rèn luyện kỹ năng xác định khoảng cách trên bản đồ:
Việc đo tính khoảng cách trên bản đồ để đánh giá cụ thể kích thước của các
đối tượng địa lý có một ý nghĩa quan trọng về mặt khoa học cũng như về mặt hình
thành khái niệm địa lý cho học sinh.
- Để rèn luyện kỹ năng này, trước hết phải cho học sinh nắm chắc khái niệm về tỉ
lệ bản đồ. Trong khi tính toán bằng cm trên bản đồ tỉ lệ nhỏ đổi ra khoảng cách
ngoài thực tế, học sinh thường lúng túng. Giáo viên nên hướng dẫn cách quy đổi
cho các em.
- Hướng dẫn học sinh sử dụng thước tỷ lệ để tìm ra khoảng cách thực tế .
Đối với học sinh phổ thông thời gian dành cho rèn luyện kỹ năng địa lý không
7
nhiều nên giáo viên cần lấy những ví dụ với đối tượng có ranh giới rõ ràng, hình
dạng đơn giản để học sinh vận dụng.
Quy trình tiến hành như sau:
- Làm cho học sinh nắm vững khái niệm tỉ lệ bản đồ.
- Hướng dẫn học sinh đổi cm thành km.
- Hướng dẫn học sinh đo tính khoảng cách trùng hướng với đường kinh tuyến dựa
vào lưới kinh vĩ tuyến trên bản đồ.
- Cho các em biết cách chuyển đổi số vĩ độ đo được thành km.
- Hướng dẫn các em tập đo tính khoảng cách trùng hướng với vĩ tuyến và biết cách
chuyển đổi số kinh độ thành km.
Ví dụ: Xác định khoảng cách từ Hà Nội (Việt Nam) đi thủ đô các nước trong
khu vực Đông Nam Á ở các trang 9, 27, 31 “Tập bản đồ thế giới và các châu lục”.
- Hướng dẫn học sinh biết xác định các sai số toán học trên bản đồ do các phép
chiếu đồ. Các vùng có tỉ lệ đúng, những vùng có sai số lớn để đưa ra được các kết
quả sát thực tế hơn.
Ví dụ: Xác định khoảng cách từ Matxcơva → Ulanbato ở các trang 7, 9, 26
già hay trẻ, cao hay thấp, trung bình, nằm ở phần nào của lãnh thổ, tiếp cận với
những dạng địa hình nào, với biển, đại dương nào, chạy theo hướng nào, dốc về
hướng nào, bị cắt sẻ nhiều hay ít bởi các thung lũng sông, gây trở ngại gì với giao
thông vận tải, có ảnh hưởng gì đến khí hậu của địa phương.
Quy trình rèn luyện kỹ năng mô tả địa hình trên bản đồ có thể theo các bước:
- Giáo viên mô tả địa hình mẫu của một châu lục, vừa mô tả vừa hướng dẫn học
sinh cách thức, trình tự mô tả.
- Cho học sinh ghi dàn ý mô tả vào vở ghi hoặc sổ tay địa lý, khuyến khích học
sinh học thuộc dàn ý đó.
- Học sinh tập mô tả địa hình châu lục, bắt đầu từ một châu lục có địa hình đơn
giản.
- Cho học sinh mô tả địa hình theo dàn ý đã được ghi và tập mô tả địa hình một
nước nào đó.
7. Rèn luyện kỹ năng mô tả khí hậu trên bản đồ:
Để mô tả khí hậu của bất kỳ một lãnh thổ nào đều phải đề cập đến 3 yếu tố:
nhiệt độ, mưa, gió. Sau khi cung cấp cho học sinh những hiểu biết cần thiết trên,
9
giáo viên giới thiệu cho các em đàn ý, để dựa vào đấy, hướng dẫn các em tập mô tả
khí hậu trên bản đồ khí hậu.
Quy trình hướng dẫn học sinh mô tả khí hậu trên bản đồ:
- Làm cho học sinh hiểu rõ mô tả khí hậu trên bản đồ có nghĩa là mô tả những yếu
tố thành phần của nó như nhiệt độ, gió, mưa và phát hiện mối liên hệ giữa chúng
với nhau cũng như với những yếu tố tự nhiên khác.
- Giới thiệu cho các em biết cách biểu hiện các yếu tố đó trên bản đồ khí hậu.
- Cung cấp cho học sinh dàn ý mô tả khí hậu trên bản đồ
- Hướng dẫn các em dựa vào dàn ý cho sẵn để mô tả khí hậu trên bản đồ, bắt đầu
từ châu lục rồi chuyển sang một khu vực, một quốc gia.
8. Rèn luyện kỹ năng mô tả sông ngòi trên bản đồ:
Nhìn mạng lưới sông ngòi trên bản đồ một khu vực có thể biết ngay những
Những mối liên hệ giữa những hiện tượng địa lý kinh tế với nhau: Bao gồm
liên hệ giữa những ngành kinh tế, liên hệ trong phối trí sản xuất.
Những mối liên hệ giữa tự nhiên và kinh tế
- Củng cố và phát triển thêm vốn hiểu biết bản đồ học của học sinh
- Trên cơ sở vốn hiểu biết tích luỹ của học sinh, giáo viên giúp các em tự phân biệt
được các mối liên hệ địa lý thông thường và các mối liên hệ địa lý nhân quả, mang
tính quy luật.
- Hướng dẫn học sinh dựa vào bản đồ kinh tế của một số nước (hoặc khu vực) tập
đánh giá trình độ kinh tế của các nước hoặc khu vực đó.
Các bước tiến hành thường xuyên trong quá trình dạy và học sẽ dần hình
thành cho học sinh kỹ năng quan trọng nhất của môn học, giúp học sinh có thể tự
học môn địa lí bằng cách kết hợp giữa atlat và các kiến thức trên các phương tiện
thông tin đại chúng.
II. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CỦA ĐỀ TÀI:
Trong nhiều năm qua, trong quá trình giảng dạy của mình tôi đã áp dụng
sáng kiến này để rèn luyện cho học sinh. Tôi nhận thấy việc áp dụng sáng kiến
kinh nghiệm này đã mang lại những hiệu quả thiết thực.
- Khi bắt đầu vào lớp 10, học sinh hầu như không có kỹ năng đọc bản đồ, không
11
biết sử dụng bản đồ, khi làm bài thực hành hoặc bài kiểm tra có sử dụng bản đồ địa
lý, átlat thì học sinh rất lúng túng.
- Sau khi được hướng dẫn đã có những chuyển biến tích cực, các em đã biết cách
sử dụng bản đồ vào từng bài học cụ thể một cách tương đối thành thạo. Các em đã
có kỹ năng đọc bản đồ, xác định phương hướng, toạ độ, khoảng cách, xác định vị
trí địa lý trên bản đồ, kỹ năng mô tả các đối tượng địa lý. Riêng kỹ năng xác định
mối quan hệ địa lý giữa các đối tượng địa lý thì còn một bộ phận học sinh chưa sử
dụng thành thạo vì đây là một kỹ năng khó đòi hỏi học sinh phải có hiểu biết nhất
định về kiến thức địa lý và cần được rèn luyện lâu dài.
- Đến lớp 12 học sinh các lớp tôi được phân công giảng dạy, các em đều nắm được