SKKN Kinh nghiệm dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 - Pdf 26

PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tầm quan trọng của đề tài.
Tiếng có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ. Tiếng là
đơn vị trung tâm của ngôn ngữ. Câu là đơn vị có thể thực hiện chức năng
giao tiếp. Vai trò của tiếng trong hệ thống ngôn ngữ quyết định tầm quan
trọng của dạy học luyện từ và câu ở bậc Tiểu học.
Dạy Luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hoá làm phong phú vốn
từ của học sinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về cấu tạo của
tiếng, rèn cho học sinh kĩ năng dùng âm, vần để ghép thành tiếng đặt câu và
sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời có
khả năng hiểu và sử dụng các kiểu câu của người khác nói ra trong hoàn cảnh
giao tiếp nhất định. Luyện từ và câu có vai trò hướng dẫn học sinh trong việc
nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ trí tuệ.
Tuy nhiên trong thực tế ở nhưng nơi vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc
thiểu số có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, việc dạy học Luyện từ và
câu gặp rất nhiều khó khăn vì các em học sinh trước khi bước vào ngưỡng
cửa của nhà trường phổ thông thì hầu hết các em chưa biết hoặc chưa có thể
nói được tiếng phổ thong một cách thành thạo như các vùng khác. Chính vì
vậy khi tiến hành dạy học đòi hỏi người giáo viên trước khi dạy chữ cho các
em là phải tiến hành dạy cho học sinh biết nghe, nói trước rồi mới dạy đọc và
viết. Việc dạy Luyện từ và câu là dạy cho các em hiểu những gì người khác
nói ra, viết ra và trước khi mình nói, viết ra một điều gì đó thì câu văn đó
phải có đầy đủ ý nghĩa, có chủ, có vị, tuy vậy ở nhưỡng nơi này các em học
sinh thường nói năng mang tính chất tự do nghĩ sao nói vậy, cho nên thường
khi nói câu nói thường hay sai lỗi chính tả.
Luyện từ và câu là một khái niệm mới đối với các em nên khi dạy người
1
thầy giáo phải thiết kế bải giảng hết sức công phu từ hệ thống câu hỏi, nội
dung bài tập đêu phải thiết kế làm sao đơn giản hơn, gọn nhẹ và dễ hiểu nhất

trình môn Tiếng Việt nói chung cũng như phân môn Luyện từ và câu nói
riêng. Trật tự các khái niệm được đưa ra “Liều lượng” kiến thức và phương
pháp của giờ học Luyện từ và câu đều bị chi phối bởi quan điểm này;
- Nguyên tắc giao tiếp (hay cũng chính là sự vận dụng của nguyên tắc
thực hành của lý luận dạy học vào dạy học tiếng mẹ đẻ nên còn gọi là nguyên
tắc thực hành) trong dạy học Luyện từ và câu không chỉ được thể hiện trên
phương diện nội dung mà cả phương pháp dạy học. Về phương pháp dạy
học, trước hết, các kĩ năng Tiếng Việt phải được hình thành và phát triển
thông qua hệ thống bài tập mang tính tình huống phù hợp với những tình
huống giao tiếp tự nhiên. Chính vì vậy, trong Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu
học, phần thực hành nhiều, lượng lý thuyết ít và khái niệm được hình thành ở
phần lý thuyết cũng như ở dạng đơn giản nhất. Như vậy, nguyên tắc giao tiếp
trong dạy học Luyện từ và câu đòi hỏi học sinh phải tiến hành hoạt động
ngôn ngữ thường xuyên, đó là việc yêu cầu thực hiện những Bài tập miệng,
bài viết trình bày ý nghĩ, tình cảm, đọc, ứng dụng tri thức lý thuyết vào bài
tập, vào việc giải quyết các nhiệm vụ cụ thể của ngữ pháp, tập đọc, chính tả,
tập làm văn,…;
- Quán triệt nguyên tắc giao tiếp trong dạy học Luyện từ và câu chính là
hướng đến xây dựng nội dung dạy học dưới hình thức dạy học các bài tập
Luyện từ và câu, để hướng dẫn học Luyện từ và câu, thầy giáo phải tạo ra hệ
thống nhiệm vụ và hệ thống câu hỏi nhằm hướng dẫn học sinh thực hiện.
Thứ hai, ngôn ngữ văn bản của dạy từ cần được xem là kinh nghiệm
sống của cá nhân học sinh và những quan sát thiên nhiên, con người, xã hội
của các em. Việc làm giàu vốn từ, dạy từ phải gắn với đời sống, gắn với việc
làm giàu những biểu tượng tư duy, bằng con đường quan sát trực tiếp và
thông qua những mẫu lời nói. Phải thiết lập được quan hệ đúng đắn giữa hình
ảnh bằng lời (từ ngữ) với những biểu tượng của trẻ em về đối tượng. Mọi quy
3
luật cấu trúc và hoạt động của từ và câu chỉ được rút ra trên cơ sở nghiên cứu
lời nói sinh động, những kinh nghiệm lời nói và kinh nghiệm sống của các

trang bị quy tắc viết hoa cho học sinh.
Nguyên tắc tích hợp.
- Không có vốn từ phong phú, không hiểu nghĩa và đặc điểm ngữ pháp
của từ thì không thể đặt câu đúng, đồng thời nếu không nắm vững quy tắc đặt
câu thì dù có vốn từ phong phú, dù nắm chắc nghĩa của từ vẫn không trình
bày được ý kiến của mình một cách đúng đắn, mạch lạc, rõ rang. Vì vậy
luyện từ và luyện câu không thể tách rời. Bên cạnh đó các bộ phận của
chương trình Luyện từ và câu như từ, cấu tạo từ, từ loại, câu, các thành phần
câu, các kiểu câu và liên kết câu cũng phải được nghiên cứu trong sự gắn bó
thống nhất;
- Mặt khác ta đã biết lượng từ, mẫu câu và các câu nói cụ thể học sinh
thu nhận được trong các giờ học khác, các hoạt động ngoài giờ lên lớp, cũng
như rất nhỏ so với vốn từ, vốn câu cần có của các em. Do đó không thể dạy
từ và câu bó hẹp trong tiết Luyện từ và câu mà cần đề ra nguyên tắc tích hợp
trong dạy từ, câu. Nguyên tắc này đò hỏi việc dạy Luyện từ và câu phải được
tiến hành ở mọi nơi, mọi lúc, trong tất cả các môn học, trong tất cả các giờ
học khác của phân môn Tiếng việt;
- Không phải chỉ trong giờ học Tiếng việt mà trong tất cả các hoạt động
khác và trong các giờ học khác, giáo viên cần chú ý điều chỉnh kịp thời
những cách hiểu từ sai lạc, những cách nói, viết câu không đúng ngữ pháp
của học sinh, kịp thời loại ra khỏi vốn từ tích cực của học sinh những từ ngữ
không văn hoá.
- Tất cả các môn học và các phân môn Tiếng việt đều có vai trò to lớn
trong việc Luyện từ và câu. Chúng mở rộng sự hiểu biết về thế giới, con
người, góp phần làm giàu vốn từ và khả năng diễn đạt tình cảm, ý tưởng của
học sinh. Để nắm bất kỳ môn học nào: Toán, TNXH, Đạo đức,… Học sinh
phải nắm vốn từ và mẫu câu tối thiểu của môn học đó. Đó là những từ ngữ và
5
cách trình bày có tính chất chuyên ngành. Chúng sẽ bổ sung cho vốn tiếng
mẹ đẻ của học sinh. Người giáo viên khi dạy tất cả các môn học đều phải có

giờ dạy Luyện từ và câu còn được hiểu là sử dụng những ngữ liệu (lời nói)
trực quan - những bài văn, những câu, những từ;
- Trong các giai đoạn khác nhau của dạy Luyện từ và câu, cần phải sử
dụng trực quan với mục đích khác nhau: giai đoạn đầu, khi cho học sinh tiếp
xúc với các dấu hiệu của khái niệm, trực quan phải được sử dụng với mục
đích truyền đạt rõ rang những dấu hiệu của hiện tượng nghiên cưu trong sự
biểu hiện cụ thể của nó trong lời nói. Phải chọn tài liệu trực quan sao cho
chúng thể hiện rõ đặc điểm ngữ pháp của hiện tượng được nghiên cứu. Có
như vậy trực quan mới giúp học sinh có khả năng trừu tượng hoá dấu hiệu
của khái niệm, nhận diện ra hiện tượng nghiên cứu giữa những hiện tượng
khác tương tự chúng. Khi ngữ liệu không tiêu biểu, nghĩa là không truyền đạt
rõ ràng dấu hiệu của hiện tượng nghiên cứu thì bị xem là không đảm bảo
nguyên tắc trực quan. Ví dụ, khi dạy hai thành phần câu có trạng ngữ , khi
dạy trạng ngữ lại đưa cả ví dụ câu có thành phần biệt lập hoặc phân tích trên
một trường hợp ngoại lệ không tiêu biểu như dạy động từ đưa ngay động từ
tồn tại “có”, dạy khái niệm câu đưa ngay câu đặc biệt;
- Sau khi học sinh đã nắm khái niệm, trực quan có mục đích giúp học
sinh củng cố, hệ thống hoá lại các kiến thức ngữ pháp. Đó là những bảng số
liệu, sơ đồ thường dùng trong các giờ ôn tập. Bảng biểu, sơ đồ có tác dụng
tiết kiệm thời gian giảng giải, gây ấn tượng giúp đưa kiến thức đã biết vào
một trật tự nhất định, dễ nhớ, giúp cho học sinh có một cái nhìn bao quát, hệ
thống, dễ nhận ra lo gic của vấn đề. Ngoài ra, bảng biểu, sơ đồ trong giờ ôn
tập Luyện từ và câu còn tăng cường rèn luyện tư duy lo gic cho học sinh, có
thể sử dụng bảng biểu, sơ đồ có sẵn, cũng có thể để học sinh tự xây dựng
bảng biểu, như vậy học sinh sẽ tích cực làm việc với tài liệu, dễ dàng nghi
nhớ các dấu hiệu của khái niệm, vừa nắm được quá trình tạo ra cấu trúc của
bảng biểu;
7
- Ngoài các nguyên tắc chung trong dạy học Luyện từ và câu còn có
những nguyên tắc đặc thù . Đó là nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống của từ,

dạy học từ ngữ (luyện từ)”. Nguyên tắc này đòi hỏi việc “luyện từ” phải tính
đến đặc điểm của từ trong hệ thống ngôn ngữ, có nghĩa là trong sự tương ứng
với những đặc điểm đã nêu của từ, khi dạy từ cần phải:
+ Đối chiếu từ với hiện thực (vật thực hoặc vật thay thế) trong việc giải
nghĩa từ (nguyên tắc ngoài ngôn ngữ).
+ Đặt từ trong hệ thống của nó để xem xét, nghĩa là đặt từ trong các lớp từ,
trong các mối quan hệ đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, đồng âm,cùng chủ đề
… (nguyên tắc hệ hình).
+ Đặt từ trong mối quan hệ với những từ khác xung quanh nó trong văn
bản với mục đích làm rõ khả năng kết hợp của từ (nguyên tắc cú đoạn).
+ Chỉ ra việc sử dụng từ trong một phong cách xã hội (nguyên tắc chức
năng). Hai việc làm đầu cần thiết cho dạy nghĩa từ, hai việc làm sau cần thiết
cho việc dạy sử dụng từ.
Cũng như vậy, việc dạy câu: Hiểu nghĩa câu, nói, viết câu phải đặt trong
ngữ cảnh, trong văn cảnh để luyện tập, để đánh giá đúng/ sai hay/ dở. Chú ý
đến đặc điểm của từ, câu trong hệ thống được xem là nguyên tắc quan trọng
trong dạy học luyện từ và câu.
Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa nội dung và hình thức ngữ
pháp trong dạy học luyện từ và câu.
Khái niệm ngữ pháp mang tính trừu tượng và khái quát cao. Dạy học
phải chỉ ra được nội dung của khái niệm, ý nghĩa, chức năng, lý do tồn tại của
khái niệm trong hệ thông - bởi vì đó là bản chất của khái niệm, là lẽ sống còn
của nó. Nhưng nội dung ngữ pháp bao giờ cũng trừu tượng, nhất là đối với
học sinh nhỏ. Ví dụ, những cách nói “Danh từ chỉ sự vật hiện tượng”, “từ có
nghĩa, tiếng có thể không có nghĩa”,… rất khó nắm bắt, nhận dạng. Đây là
nguyên nhân của những khó khăn của học sinh nhỏ trong quá trình hình thành
khái niệm. Để nắm bắt khái niệm ngữ pháp, cần có trình độ tư duy lô gíc nhất
9
định.
Quá trình hình thành khái niệm cũng đồng thời là quá trình học sinh

ý nghĩa của chúng, hình thức và ý nghĩa của câu, hình thức và chức năng của
các kiểu câu. Cần triệt để sử dụng các câu hỏi để phát hiện ra các dấu hiệu
hình thức của hiện tượng nghiên cứu, ví dụ câu hỏi xác định thành phần câu,
câu hỏi xác định từ loại.
Cơ sở thực tiễn của việc dạy học Luyện từ và câu.
Luyện từ và câu ở lớp 4 có 2 tiết mỗi tuần (Chưa kể các tuần ôn tập).
Phân môn luyện từ và câu có nhiệm vụ làm giàu vốn từ cho học sinh và trang
bị cho các em một số kiến thức về từ, câu. Ở lớp 4 các kiến thức lí thuyết
được học thành tiết riêng. Đó là các nội dung như từ và cấu tạo từ, biện pháp
tu từ (so sánh, nhân hoá ), các lớp từ đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, từ loại,
câu, các kiểu câu, thành phần câu, dấu câu, biện pháp liên kết câu. Ngoài ra,
chương trình còn cung cấp cho học sinh một số kiến thức ngữ âm – chính tả
như tiếng, cấu tạo tiếng. Ở lớp 4 học sinh được học thêm khoảng 500 – 550 từ
ngữ (kể cả thành ngữ, tục ngữ và một số yếu tố gốc Hán thông dụng) theo các
chủ đề: Nhân hậu – Đoàn kết; Trung thực - Tự trọng; Ước mơ – Ý chí - Nghị
lực; Trò chơi - Đồ chơi; Tài năng - Sức khoẻ - Cái đẹp – Dũng cảm – Khám
phá – Phát minh; Du lịch – Thám hiểm; Lạc quan.
Các mạch kiến thức và kĩ năng về từ và câu ở lớp 4 học:
- Cấu tạo từ: Từ đơn, từ phức, từ ghép, từ láy.
- Từ loại: Danh từ, danh từ chung, danh từ riêng, động từ, tinh từ.
- Các kiểu câu: Câu hỏi và dấu chấm hỏi, dùng câu hỏi với mục đích
khác, giữ phép lịch sự khi đặt câu hỏi. Câu kể, câu kể Ai làm gì, câu kể Ai
thế nào, Câu kể Ai làm gì. Luyện tập câu kể Ai làm gì. Câu khiến. Cách đặt
câu khiến. Giữ phép lịch sự khi bày tỏ yêu cầu, đề nghị, câu cảm.
- Cấu tạo câu (Thành phần câu): Vị ngữ trong câu kể Ai làm gì, Chủ
ngữ trong câu kể Ai làm gì, Vị ngữ trong câu kể Ai thế nào, Chủ ngữ trong
câu kể Ai thế nào, Vị ngữ trong câu kể Ai là gì, Chủ ngữ trong câu kể Ai là gì,
11
Thêm trạng ngữ cho câu. Thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn cho câu. Thêm trạng
ngữ chỉ thời gian cho câu. Thêm trạng chỉ nguyên nhân cho câu. Thêm trạng

dưới dạng các bài tập. Vì vậy, việc mô tả nội dung dạy học Luyện từ và câu
không tách rời với việc chỉ ra những nhóm, dạng bài tập.
- Dựa vào nội dung bài học các bài tập Luyện từ và câu được chia thành
hai mảng lớn là mảng bài tập làm giàu vốn từ và mảng bài tập theo các mạch
kiến thức, kĩ năng về từ và câu.
Bài tập làm giàu vốn từ được chia thành 3 nhóm: Bài tập dạy nghĩa, bài tập
hệ thống hoá vốn từ và bài tập dạy sử dụng từ (tích cực hoá vốn từ). Bài tập
theo các mách kiến thức, kĩ năng về từ và câu được thành các nhóm: Bài tập
luyện từ (bài tập về các lớp từ, về biện pháp tu từ, cấu tạo từ, từ loại), bài tập
luyện câu (các kiểu câu, cấu tạo câu, dấu câu, biện pháp liên kết câu). Ngoài
ra còn có nhóm bài tập về cấu tạo tiếng và quy tắc viết hoa.
- Dựa vào nội dung dạy học, cũng có thể phân loại các bài tập Luyện từ và
câu theo một cách khác: Các bài tập được chia làm hai mảng lớn là bài tập
luyện từ và luyện tập luyện câu. Bài tập luyện từ bao gồm cả bài tập làm giàu
vốn từ và bài tập theo các mạch kiến thức, Kĩ năng về từ. Bài tập về câu là cá
bài tập theo các mạch kiến thức, Kĩ năng về câu.
- Dựa vào đặc điểm hoạt động của học sinh, các bài tập có thể được chia
thành hai mảng lớn: Những bài tập có tính chất nhận diện, phân loại, phân
tích (Bài tập ngôn ngữ) và những bài tập có tính chất xây dựng tổng hợp
(bài tập lời nói). Trong các bài tập nhận diện, phân loại các đơn vị từ, câu các
đơn vị ngôn ngữ và các kiểu loại đơn vị ngôn ngữ có thể nằm trong câu,
đoạn. Lúc này việc vạch đường danh giới từ là rất quan trọng. Nếu các từ
được để rời, đường danh giới từ đã được vạch sẵn thì cần lưu ý những trường
hợp đồng âm đa nghĩa. Nguyên tắc tích hợp được thể hiện rất rõ trong các bài
tập luyện từ và câu nên việc phân loại các bài tập nhiều lúc chỉ có tính tương
đối. Nhiều khi, một bài tập cụ thể vừa có mục đích làm giàu vốn từ vừa luyện
tập củng cố một kiến thức ngữ pháp nào đó; thực hành về từ, câu không tách
13
với lí thuyết về từ, câu; luyện từ không tách rời với luyện câu; cả hai bình
diện sử dụng ngôn ngữ là tiếp nhận và sản sinh cũng không tách rời nên có

* Với những khó khăn đã nêu như ở trên sau đây đề tài xin đưa ra nội dung
giáo án và những vấn đề cần điều chỉnh làm minh chứng cho các điều đã nêu
ở trên.
Luyện từ và câu:
TIẾT 2: LUYỆN TẬP VỀ CẤU TẠO CỦA TIẾNG
I MỤC TIÊU:
- Củng cố kiến thức về cấu tạo của tiếng gồm 3 bộ phận: âm đầu, vần
và thanh.
- Phân tích đúng cấu tạo của tiếng trong câu.
- Hiểu thế nào là 2 tiếng bắt vần trong thơ
II - ĐỒ DÙNG DẠY HỌC:
- Giáo viên: Giáo án, sgk, bảng phụ vẽ sẵn cấu tạo của tiếng, bộ xếp
chữ HVTH hoặc bảng cấu tạo của tiếng việt ra giấy khổ lớn để hs làm bài
tập.
- Học sinh: Sách vở, đồ dùng bộ môn.
III - PHƯƠNG PHÁP:
Giảng giải, đàm thoại, luyện tập, thực hành.
IV - CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC - CHỦ YẾU:
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY HOẠT ĐỘNG CỦA TRÒ
1) Kiểm tra bài cũ:
- Yêu cầu 2 hs lên bảng phân
tích cấu tạo của tiếng trong các
câu: Lá lành đùm lá rách.
- GV kiểm tra vở bài tập về nhà
của một số hs.
- GV nhận xét bài làm của 2 hs
lên bảng và ghi điểm.
2) Dạy bài mới:
a) Giới thiệu bài:
- Hs lên bảng làm bài, cả lớp làm vào

- Y/c hs tự làm bài.
- Gọi hs nhận xét và chốt lại lời
giải đúng.
- Hs ghi đầu bài vào vở.
- 2 HS đọc trước lớp.
- Hs nhận đồ dùng học tập.
- Hs làm bài trong nhóm.
- Nhóm nào làm xong trước lên dán trên
bảng, các nhóm khác bổ xung để có lời
giải đúng.
- 1 hs đọc trước lớp.
- Câu tục ngữ được viết theo thể thơ
lục bát.
- Hai tiếng: ngoài - hoài bắt vần với
nhau, giống nhau cùng có vần oai.
- 1 hs đọc to trước lớp.
- Hs tự làm bài vào vở, 2 hs lên bảng
làm.
- Nhận xét, lời giải đúng là:
+ Các cặp tiếng bắt vần với nhau: loắt
choắt - thoăn thoắt, xinh xinh - nghênh
nghênh.
16
Tiếng Âm đầu Vần Thanh
Khôn kh ôn ngang
ngoan ng oan ngang
đối đ ôi sắc
đáp đ ap sắc
người ng ươi huyền
ngoài ng oai huyền

những em giải nhanh, đúng.
3. Củng cố - dặn dò:
- Tiếng có cấu tạo như thế nào?
những bộ phận nào nhất thiết
phải có? nêu ví dụ?
- Nhận xét giờ học, dăn hs về
nhà làm bài và tra từ điển để
nắm nghĩa các từ trong bài tập 2
+ Các cặp có vần giống nhau hoàn toàn:
choắt, thoắt
+ Các cặp có vần giống nhau không hoàn
toàn: xinh xinh, nghênh nghênh.
- Hai tiếng bắt vần với nhau là 2 tiếng có
phần vần giống nhau hoàn toàn hoặc
không hoàn toàn.
- Vài em nhắc lại.
Là trầu khô giữa cơi trầu
Truyện Kiều gấp lại trên đầu bấy nay
Nắng mưa từ những ngày xưa
Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan.
- 1 hs đọc to trước lớp.
- Hs tự làm bài.
- HS lắng nghe.
- Hs thi giải đúng, giải nhanh câu đó
bằng cách viết ra giấy, nộp ngay cho
giáo viên khi viết xong.
Lời giải:
Dòng 1: chữ “bút” bớt đầu thành chữ út.
Dòng 2: đầu, đuôi bỏ hết chữ “bút” thành
chữ ú (mập)

7 Hà Văn Thực Tốt
8 Lường Thị Nguyệt Tốt
9 Đinh Thị Đức Tốt
10 Hà Thị Thương Tốt
PHẦN KẾT THÚC
- Với việc không ngừng nghiên cứu học hỏi của bản thân và sự giúp đỡ
có hiệu quả của tập thể giáo viên trong nhà trường tôi tự nhận thấy việc
nghiên cứu của tôi là thực sự cho hiệu quả tốt, việc điều chỉnh lại một số câu
hỏi sẽ giúp học sinh tiếp thu bài tốt hơn, việc học của các em cảm thấy nhẹ
nhàng hơn và nhớ kiến thức kĩ và lâu hơn.
- Tuy nhiên để tạo điều kiện cho giáo viên có thời gian hơn trong quá
trình nghiên cứu nội dung bài giảng và đưa ra được nhưng sang kiến cũng
như những điều chỉnh làm sao cho phù hợp với đối tượng học sinh theo vung
18
miền thì:
+ Cần tăng cường khuyến khích giáo viên tham gia nghiên cứu khoa
học và thường xuyên mở các đợt hội thảo chuyên đề giáo viên có thể tự do
nêu ý kiên và trao đổi kinh nghiệm với các giáo viên khác cùng ngành.
+ Cần đầu tư đủ cơ sở vật chất như đủ số lượng phòng học và các trang
thiết bị cần thiết giúp cho giáo viên có đủ điều kiện tham gia nghiên cứu
cũng như giảng dạy đạt kết quả tốt.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Sách giáo khoa
- Sách giáo viên
- Tài liệu phát triển giáo viên Tiểu học
- Sách bồi dưỡng chu kì III
- Bộ phương pháp giảng dạy môn Tiếng việt
- Báo Giáo dục thời đại
19
PHỤ LỤC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status