CÁCH THỨC XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN XÉT XỬ DÂN SỰ QUỐC TẾ TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH TƯƠNG TRỢ TỦ PHÁP GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI - Pdf 26

BÀI THẢO LUẬN NHÓM 5
ĐỀ TÀI: CÁCH THỨC XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN XÉT XỬ DÂN SỰ QUỐC TẾ TRONG
CÁC HIỆP ĐỊNH TƯƠNG TRỢ TỦ PHÁP GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ
GIỚI
1.khái niệm thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế
Tố tụng dân sự là hoạt động của toà án một nước trong việc giải quyết các vụ việc phát sinh từ
các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền xét xử của toà án theo một thể
thức do luật định.
Do vậy, trong tố tụng dân sự quốc tế, thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế tức là thẩm quyền của toà
án tư pháp một nước nhất định đối với việc xét xử các vụ việc dân sự quốc tế cụ thể.
Trong thực tiễn tư pháp quốc tế, khi có một vụ án dân sự, kinh tế, hôn nhân gia đình, lao động
hoặc vụ việc khác có yếu tố nước ngoài thì đồng thời cũng làm phát sinh tình trạng có 2 hoặc
nhiều cơ quan tư pháp của các nước khác nhau có thẩm quyền giải quyết vụ việc. Đây là tình
trạng xung đột thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế.
Xung đột thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế có thể giải quyết bằng cách xây dựng các quy phạm
pháp luật thống nhất xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế hoặc bằng cách vận dụng các
quy phạm xung đột về thẩm quyền được ghi nhận trong các văn bản pháp luật trong nước hoặc
các điều ước quốc tế liên quan.
2.Cách thức xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế trong hiệp định tương trợ tư pháp giữa
Việt Nam và các nước.
Cùng với sự phát triển và xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá trên thế giới để giải quyết các vấn đề
nảy sinh trong các lĩnh vực dân sự, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình Việt Nam đã kí
các hiệp định tương trợ tư pháp xác định thẩm quyền xét xử của toà án nhằm đảm bảo lợi ích của
các bên đương sự đồng thời thúc đẩy quan hệ hợp tác của các quốc gia với nhau.
Tính đến thời điểm hiện nay, nước ta đã kí kết 15 hiệp định tương trợ tư pháp, và đang xúc tiến kí
hiệp định tương trợ tư pháp với Cămpuchia, đàm phán xong việc ký hiệp định tương trợ tư pháp
với Angiêri, triển khai rà soát sửa đổi hiệp định tương trợ tư pháp với Cộng hoà Séc.
STT TÊN NƯỚC NGÀY KÝ
1 Ba Lan 22/3/1993
2 Bê-la-rút 14/9/2000
3 Bun-ga-ri 03/10/1986

nhân trên là công dân”.
 Như vậy trong hiệp định này việc xác định thẩm quyền khi xác định các vấn đề về năng lực
hành vi dân sự thì quy tắc luật nhân thân mà cụ thể là luật quốc tịch được ưu tiên áp dụng.Quy
tắc này cũng được áp dụng cho cả trường hợp hủy bỏ việc tước, hạn chế năng lực hành vi, tuyên
bố một người mất năng lực hành vi dân sự , việc xác định công dân mất tích hay đã chết được
quy định tại điều 18 ,19 và 20 của Hiệp định:
Điều 18 khoản 1:
“1. Việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
tuân theo pháp luật và phụ thuộc vào thẩm quyền của Cơ quan tư pháp của Nước ký kết mà cá
nhân trên là công dân”.
Điều 19 khoản 1:
“Các quy định tại Điều 18 Hiệp định này cũng được áp dụng cho trường hợp huỷ bỏ quyết định
tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc huỷ bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi
dân sự”.
Điều 20 khoản 1:
“1. Việc tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết thuộc thẩm quyền của cơ quan tư pháp của
Nước ký kết mà người đó là công dân khi người đó còn sống”.
Về quy định này ta còn có thể thấy xuất hiện trong một số hiệp định tương trợ tư pháp như: Hiệp
định tương trợ tư pháp với Tiệp Khắc, với Cu Ba, với Ba Lan…
Thứ hai: Đối với quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng và ly hôn giữa vợ
chồng với nhau.
Quy tắc nơi thường trú chung (hoặc thường trú cuối cùng) của vợ chồng được kết hợp với quy
tắc luật quốc tịch của đương sự để giải quyết xung đột về thẩm quyền dân sự quốc tế. Điều này
thể hiện ở các quy định sau:
Điều 26
“1. Quan hệ pháp lý giữa vợ và chồng tuân theo pháp luật của Nước ký kết nơi vợ chồng cùng cư
trú
2. Nếu hai vợ chồng cùng một quốc tịch nhưng cư trú mỗi người ở một nước ký kết thì quan hệ
pháp lý giữa họ tuân theo pháp luật của Nước ký kết mà họ là công dân.
3. Nếu hai vợ chồng mang quốc tịch khác nhau và mỗi người cư trú ở một Nước ký kết thì quan hệ

người con và cha mẹ.
3. Nếu cả hai cha mẹ hoặc cha hay mẹ cư trú ở một Nước ký kết này, còn người con cư trú ở Nước
ký kết kia, thì quan hệ pháp lý giữa cha mẹ và con tuân theo pháp luật của Nước ký kết nơi người
con cư trú.
4. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết vấn đề được quy định tại khoản 1, khoản2 và khoản 3 của
Điều này là cơ quan của Nước ký kết nơi người con cư trú”.
Thứ tư: Đối với tranh chấp thuộc vấn đề nuôi con nuôi.
Điều 31 khoản 1 Hiệp định đã nêu:
“1. Công dân của Nước ký kết này có thể nhận trẻ em là công dân của Nước ký kết kia làm con
nuôi. Việc nhận con nuôi phải tuân theo pháp luật của Nước ký kết mà trẻ em đó là công dân”.
3. Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, việc thay đổi, chấm dứt nuôi con nuôi phải
tuân theo pháp luật của nước ký kết mà cha mẹ nuôi là công dân.
Trong trường hợp cha và mẹ nuôi là công dân của hai nước khác nhau thì phải tuân theo pháp luật
của nước ký kết nơi người con nuôi cư trú.
 Như vậy hiệp định này áp dụng quy tắc luật quốc tịch của người nhận con nuôi, trong trường
hợp cha mẹ nuôi là công dân của 2 nước khác nhau thì áp dụng nguyên tắc luật nơi con nuôi cư
trú.
Thứ năm: Đối với các tranh chấp liên quan đến việc giám hộ.
Điều 32
“1. Việc giám hộ trẻ em và người mất năng lực hành vi dân sự thuộc thẩm quyền của cơ quan có
thẩm quyền của Nước ký kết mà người được giám hộ là công dân và tuân theo pháp luật của Nước
ký kết nói trên, nếu Hiệp định này không có quy định khác”.
Hiệp định đã áp dụng quy tắc luật quốc tịch của người giám hộ để xác định thẩm quyền trong
tố tụng dân sự quốc tế. Nguyên tắc này còn được thể hiện trong các hiệp định với Liên Xô(cũ),
Tiệp Khắc…
Thứ sáu: Đối với các tranh chấp liên quan tới bồi thướng thiệt hại.
Điều 23
“1. Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định theo pháp luật về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Nước ký kết nơi xảy ra hành vi hoặc sự cố gây thiệt hại và
thuộc thẩm quyền của cơ quan tư pháp của Nước ký kết nơi xảy ra hành vi hoặc sự cố gây thiệt hại

kiện chết thuộc thẩm quyền giải quyết và theo pháp luật của bên kí kết mà người đó là công
dân khi còn sống. Cơ quan tư pháp của các bên kí kết có thẩm quyền công nhận sự chết hoặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status