Thế nào là khái niệm và phạm trù trong khoa học quản lý giáo dục Trình bày ví
dụ về 5 khái niệm trong khoa học quản lý giáo dục và xác định khả năng thực
hiện các khái niệm đó
BÀI LÀM
I. KHÁI NIỆM VÀ PHẠM TRÙ
Khái niệm: là ý nghĩa phản ánh ở dạng khái quát các sự vật, hiện tượng của hiện
thực và những mối quan hệ giữa chúng.
Phạm trù: Là khái niệm khoa học phản ánh những thuộc tính và mối quan hệ
chung, cơ bản nhất của các hiện tượng.
II. VÍ DỤ VỀ 5 KHÁI NIỆM TRONG KHOA HỌC QUẢN LÝ GIÁO DỤC
1. Quản lý
1.1. Khái niệm quản lý
Trong quá trình hình thành và phát triển loài người, con người phải luôn
luôn lao động để duy trì và phát triển nòi giống. Trong khi lao động cần sự hợp
tác của một nhóm người hoặc nhiều người, do sự hợp tác này mà xã hội xuất hiện
một loại hình lao động mới mang tính đặc thù là tổ chức điều khiển các hoạt động
lao động theo yêu cầu nhất định loại hình lao động, đó là hoạt động quản lý.
Quản lý là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm
thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra. Trong xã hội loài người,
quản lý là một hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội. Quản lý là nhân tố
không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển của xã hội. Loài người đã
trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng
trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau. Các triết gia, các nhà chính trị từ
thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát
triển của xã hội. Nó là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử
Theo Các Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung
nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ
đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung
phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí
quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một
dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[4]
- Quản lý là sự tác động có ý thức, hợp quy luật giữa chủ thể quản lý đến
khách thể quản lý nhằm đạt các mục tiêu đề ra.
- Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý
là đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất
các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều
kiện biến đổi của môi trường [13].
Từ các định nghĩ trên có thể rút ra một số điểm chung:
- Quản lý là hoạt động lao động, hoạt động này để điều khiển lao động, hoạt
động khác.
- Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lý
- Trong quản lý, bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, quan
hệ với nhau bằng những tác động quản lý. Những tác động quản lý chính là
những quyết định quản lý, là những nội dung chủ thể quản lý yêu cầu đối với đối
tượng quản lý. Các Mác so sánh một cách hình ảnh: Nhạc trưởng đối với hệ
thống nhạc công, trong đó nhạc trưởng là một chủ thể quản lý, nhạc công là chủ
thể bị quản lý (các nhạc công chịu sự tác động của nhạc trưởng) để đưa đến một
sản phẩm “kép” một sản phẩm “siêu sản phẩm” - Đó là cả chủ thể quản lý và chủ
thể bị quản lý đều phát triển (hoạt động tạo ra các chủ thể và về sự phát triển của
con người).
- Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của một quá trình lao động xã
hội. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn
tại, vận hành và phát triển.
- Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện. Điều đó cũng xác lập
rằng quản lý phải có một cấu trúc và vận hành trong một môi trường xác định.
Hiện nay quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt đến
mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng của các hoạt động (chức năng) kế
hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
1.2. Các chức năng quản lý
- Chức năng kế hoạch hoá
Peter Drucker, một trong những chuyên gia quản lý đương đại hàng đầu, đã
vật chất, về đội ngũ giáo viên, về các kết quả về hoạt động sư phạm của các năm
học trước đó, những mặt tốt và mặt tồn tại, nguyên nhân của chúng…Dựa trên
những số liệu của năm học trước rút ra kết luận cụ thể về trạng thái xuất phát của
nhà trường trong năm học mới.
Chức năng dự báo: Bao gồm việc xác định nhu cầu và các mục tiêu trên
cơ sở phân tích và căn cứ vào hướng dẫn của cấp trên về nhiệm vụ của năm học
mới để suy ra những hướng phát triển cơ bản của nhà trường, trong đó có tính tới
nhu cầu bên ngoài và bên trong của nhà trường, lựa chọn những hướng ưu tiên,
dự kiến những mục tiêu cần đạt và các tiêu chuẩn đánh giá.
Chức năng dự đoán: Bao gồm việc phác thảo các phương án chọn lựa có
tính tiềm năng của nguồn lực dự trữ và những mong muốn chủ quan.
- Chức năng tổ chức
Bamard định nghĩa tổ chức như là “ Hệ thống các hoạt động hay tác động có
ý thức của hai hay nhiều người”.
Cuốn “Cơ sở khoa học quản lý” đã xác định: “Tổ chức là hoạt động hướng
tới hình thành cấu trúc tối ưu của hệ thống quản lý và phối hợp tốt nhất giữa các
hệ thống lãnh đạo và bị lãnh đạo (chấp hành)” [9].
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
đã chỉ rõ: “Kiện toàn tổ chức và nâng cao trách nhiệm các cơ quan quản lý nhà
nước” [42; 72]. Xuất phát từ quan điểm trên, trong quản lý giáo dục, quản lý
trường trung học, điều quan trọng nhất của công tác tổ chức là phải xác định rõ
vai trò của mỗi bộ phận, cá nhân, bảo đảm các mối quan hệ ngược, sự thống nhất
và đồng bộ về tổ chức trong quản lý giáo dục ở trường trung học.
Nhờ chức năng tổ chức mà hệ thống quản lý trở nên có hiệu quả, cho phép
các cá nhân góp phần tốt nhất vào mục tiêu chung. Tổ chức được coi là điều kiện
của quản lý, đúng như V.I.Lê-nin đã khẳng định: “Chúng ta phải hiểu rằng,
muốn quản lý tốt…còn phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa” [23]. Thực chất
của tổ chức là thiết lập mối quan hệ bền vững giữa con người, giữa các bộ phận
trong hệ thống quản lý. Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn các động lực, tổ chức không
tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu quả quản lý.
chức đặc biệt, đạt tới trình độ cao, có chương trình kế hoạch, có nội dung,
phương pháp hiện đại và trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng
của xã hội loài người.
Như vậy, giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự
truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ
có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc,
nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó xã hội loài người không ngừng
tiến lên.
2.2. Khái niệm quản lý giáo dục
Nhà nước quản lý mọi hoạt động của xã hội, trong đó có hoạt động giáo
dục. Nhà nước quản lý giáo dục thông qua tập hợp các tác động hợp quy luật
được thể chế hoá bằng pháp luật của chủ thể quản lý, nhằm tác động đến các
phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất
lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ.
Đã có nhiều nghiên cứu về quản lý nói chung cho nên cũng có nhiều quan
niệm khác nhau về quản lý giáo dục.
Theo M.I.Kônđacôp: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý
thức và hướng đích của chủ quản lý ở các cấp khác nhau, đến tất cả các mắt xích
của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân
cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của
xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và
tâm lý trẻ em [21;124].
Theo P.V.Khuđôminxky (nhà lý luận Xô Viết): QLGD là tác động có hệ
thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác
nhau đến các khâu của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích bảo đảm
việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện
và hài hoà của họ.
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của
Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là nhà trường vận hành theo
nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành
phạm
- Sản phẩm của giáo dục có tính đặc thù là hình thành và phát triển nhân
cách cho người học, nên quản lý giáo dục phải chú ý phòng ngừa, ngăn chặn
những sai sót trong công việc tạo ra sản phẩm, cũng như không được phép tạo ra
“phế phẩm” trong giáo dục.
- Quản lý giáo dục gắn liền với phát triển quan điểm quần chúng, xã hội
.
- Quản lý giáo dục là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc.
3. Quản lý nhà trường
3.1. Khái niệm nhà trường
Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của xã hội, thực hiện chức năng
kiến tạo các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho mọi nhóm dân cư nhất định của xã
hội đó. Nhà trường được tổ chức sao cho việc kiến tạo nói trên đạt được các mục
tiêu mà xã hội đó đặt ra cho nhóm dân cư được huy động vào sự kiến tạo này
một cách tối ưu theo quan niệm của xã hội.
Quá trình sư phạm là quá trình kiếm tạo các điều kiện và cơ hội để cá thể
người lĩnh hội, chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội, thực hiện việc xã hội hoá nhân
cách của mình. Nhà trường thực hiện chức năng kiến tạo các kinh nghiệm xã hội
thông qua quá trình sư phạm hay nói cách khác, nhà trường là thiết chế chủ yếu
để thực hiện quá trình sư phạm.
Trong bối cảnh hiện đại, nhà trường được thừa nhận rộng rãi như một thiết
chế chuyên biệt của xã hội để giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ trở thành những công
dân có ích cho tương lai. Thiết chế đó có mục đích rõ ràng, có tổ chức chặt chẽ,
được cung ứng các nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện chức năng của mình
mà không một thiết chế nào có thể thay thế được. Những nhiệm vụ của nhà
trường cũng được đề cập đến từ nhiều khía cạnh khác nhau. Việc quản lý nhà
trường cũng có nhiều cách để tiếp cận. Bản chất giai cấp của nhà trường được
khẳng định bởi tính mục đích cũng như cách thức vận hành của nó và một điều
được khẳng định là: Khi nhà trường thực hiện chức năng giáo dục trong một xã
hội cụ thể, bản sắc văn hoá dân tộc in dấu sâu đậm trong toàn bộ hoạt động của
hiện phương hướng phát triển đó); Tác động của những chủ thể quản lý bên
trong nhà trường (bao gồm các hoạt động: Quản lý giáo viên, quản lý học sinh,
quản lý quá trình dạy học – giáo dục, quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị trường
học, quản lý tài chính trường học, quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và cộng
đồng.[13].
Như vậy, quản lý nhà trường chính là QLGD trong một phạm vi xác định,
đó là nhà trường (đơn vị giáo dục). Quản lý nhà trường là một hoạt động được
thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét
riêng mang tính đặc thù của giáo dục. Do đó quản lý nhà trường cần vận dụng tất
cả các nguyên lý chung của QLGD để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường
theo mục tiêu đào tạo.
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có
tiến lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển
mạnh mẽ các nguồn lực phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục. Mục
đích cuối cùng của QLGD là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo
lớp trẻ thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh
phúc của bản thân và của xã hội [13; 20].
Tóm lại: Nhà trường là một thành tố cơ bản của hệ thống giáo dục nên
quản lý nhà trường cũng được hiểu như là một bộ phận của QLGD. Thực chất
của quản lý nhà trường, suy cho cùng là tạo điều kiện cho các hoạt động trong
nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu, tính chất của nhà trường XHCN ở Việt
Nam.
4. Biện pháp quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt, "Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành một vấn
đề cụ thể"[41;64]
Trong quản lý giáo dục, biện pháp là tổ hợp nhiều cách thức tiến hành của chủ
thể quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý giải quyết các vấn đề trong
công tác quản lý làm cho hệ thống quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể
quản lý đã đề ra phù hợp với quy luật khách quan.
Biện pháp quản lý cũng như cách thức cụ thể để thực hiện phương pháp quản lý.
huy tốt nhất khả năng của họ.
- Phân loại người cán bộ quản lý
Người quản lý cấp thấp : Hướng dẫn, đốc thúc, điều khiển nhân viên trong
công việc hàng ngày.
Người quản lý cấp trung gian : Đưa ra các quyết định chiến thuật để thực
hiện kế hoạch và chính sách của tổ chức
Người quản lý cấp cao : Xây dựng chiến lược, kế hoạch hành động và phát
triển tổ chức.
Một cách tổng quát: Người quản lý là người có trách nhiệm phân bố nhân
lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ
chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích.
Chức năng của người quản lý
- Thiết lập cá mục tiêu cho tổ chức, quyết định nội dung của các mục tiêu
và cách thức thực hiện chúng
- Tổ chức mọi hoạt động, phân phối các nguồn lực của tổ chức, phân chia
công việc và lựa chọn người phù hợp giao phó đảm nhận công việc.
- Thức đẩy và truyền thông một cách có hiệu quả, động viên, thúc đẩy mọi
người làm việc đạt năng suất cao, biết cách thông tin có hiệu quả với các cấp
- Đo lường kết quả công việc của tổ chức
- Phát triển nguồn nhân lực của tổ chức.