Thực trạng kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn đạo đức lớp 4 thông qua hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁÒ DUC TIẺU HOC * •
NGUYỄN THỊ THƠM
THựC TRẠNG KIẺM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN
ĐẠÒ ĐỨC LỚP 4 THÔNG QUA HỆ THỐNG
BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC • • • •
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tâm lý giáo dục
HÀ NỘI, 2011
1
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô giáo: Th.s Ngô Thị Trang - giảng
viên tổ tâm lí giáo dục trường ĐHSP Hà Nội 2 - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận này.
Qua đây, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục
Tiểu học, các thầy cô trong tổ bộ môn Tâm lí giáo dục cùng các thầy cô giáo trường
Tiểu học Thị Trấn Sóc Sơn đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Với điều kiện, thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức còn hạn chế, chắc chắn đề
tài của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong nhận được sự đóng góp
ý kiến của quý thầy cô và các bạn để đề tài của em thực sự có chất lượng và hữu ích.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Nguyễn Thị Thơm
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên CÚ01 của tôi. Những kết quả và các số liệu
trong luận văn chưa được ai công bố dưới bất cứ hình thức nào. Tôi hoàn toàn chịu
trách nhiệm về sự cam đoan này.
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2011
rwi r ________ • 2
Tác gia

• Kiểm tra đánh giá kết quả học tập là một khâu đồng thời là một phương
pháp của quá trình dạy học. Cụ thể trong dạy học kiểm tra đánh giá tốt sẽ phản ánh đầy
đủ việc dạy của thầy và việc học của trò. Đối với thầy, kết quả của việc kiểm tra đánh
giá sẽ giúp họ biết trò của mình học như thế nào? để từ đó điều chỉnh, hoàn thiện
phương pháp dạy của mình. Đối với trò, việc kiểm tra đánh giá sẽ giúp họ tự đánh giá,
tạo động lực thúc đẩy họ chăm lo học tập. Đặc biệt kiểm tra
- đánh giá đối với hoạt động dạy và học ở bậc Tiểu học cũng có ý nghĩa thiết thực trong
việc thu và nhận thông tin phản hồi, đánh giá và điều chỉnh hoạt động của thầy và trò
một cách tích cực nhất.
• Tiểu học được coi là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân
với mục đích và nhiệm vụ là trang bị những cơ sở ban đầu quan trọng nhất của người
công dân, người lao động tương lai. Đó là những con người phát triển toàn diện có tri
thức, có tay nghề, có năng lực thực hành tự chủ, sáng tạo. Muốn đạt mục tiêu này thì nội
dung, chương trình các môn học ở Tiểu học đều hướng tới việc vừa trang bị tri thức lý
thuyết đầy đủ, vừa chú trọng rèn các kĩ năng thực hành thành thạo. Đặc biệt môn Đạo
đức ở trường Tiểu học nhằm hình thành cho học sinh có ý thức đạo đức, hành vi và thói
quen đạo đức, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành những phẩm chất, năng lực
của con người mới. Chương trình môn Đạo đức đã đưa ra những mục tiêu nhằm khơi
dậy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động của học sinh đòi hỏi việc hướng
dẫn của giáo viên phải hướng tới hoạt động tự chiếm lĩnh kiến thức và tự hình thành, rèn
luyện kĩ năng của học sinh. Do đó cần có sự đổi mới nội dung chương trình sách giáo
khoa môn Đạo đức ở Tiểu học để tăng cường các bài tập thực hành, các hình thức câu
4
hỏi đa dạng hóa và làm phong phú hơn các bài tập để kiểm tra đánh giá học sinh một
cách toàn diện và sâu sắc. Cụ thể bằng hình thức kiểm tra
- đánh giá thông qua các bài tập trắc nghiệm người giáo viên sẽ thu được những tín hiệu
ngược rất nhanh chóng và chính xác từ phía học sinh về các phẩm chất, hành vi đạo đức,
thói quen đạo đức. Từ đó, giúp học sinh rèn luyện các thói quen này một cách thường
xuyên và hiệu quả. Với những hiểu biết và ý nghĩa trên chúng tôi quyết định chọn đề tài:
“Thực trạng kiểm tra đánh giá trong dạy học môn Đạo đức lớp 4 thông qua hệ thống

khách quan ở trường Tiểu học Thị Trấn Sóc Sơn.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
• Thông qua các tài liệu, các khái niệm liên quan đến đề tài, trên cơ sở
phân tích, so sánh, khái quát để làm rõ các vấn đề về phương pháp kiểm tra, đánh giá
trong dạy học đặc biệt là môn Đạo đức lớp 4 thông qua hệ thống bài tập trắc nghiệm
khách quan.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra
• Thiết kế phiếu trưng cầu ý kiến (Dành cho giáo viên) để thu thập một số
thông tin về phương pháp kiểm tra đánh giá trong dạy học môn Đạo đức lớp 4.
6
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn, đàm thoại, trò chuyện
• Qua trò chuyện với giáo viên, các cán bộ quản lí và các em học sinh
trường Tiểu học Thị Trấn Sóc Sơn đã giúp tôi hiểu rõ hơn về nhận thức của giáo viên
trong công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. Từ đó, có những kết luận
chính xác về thực trạng kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn Đạo đức lóp 4 thông qua
bài tập trắc nghiệm khách quan.
7.2.5. Phương pháp thống kê toán học
• Dùng toán thống kê để sử lí số liệu, so sánh đối chiếu rút ra kết luận.
• NỘI DUNG Chương 1. Cơ sở lí luận
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
• Vấn đề kiểm tra đánh giá trong dạy học đóng một vai trò quan trọng
trong việc nâng cao chất lượng dạy học, được nhiều nhà nghiên cứu khoa học trong và
ngoài nước để tâm nghiên cứu. Ở đây chúng tôi xin điểm qua một vài công trình nghiên
cứu về vấn đề này:
* Nước ngoài:
• Khi nghiên cứu về nguyên tắc dạy học, nội dung dạy học, phương pháp
dạy học nhà giáo dục vĩ đại người Sec J.Acomexki (1592 - 1675) đã quan tâm đến vấn
đề kiểm tra, đánh giá tri thức học sinh như một yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả của

dục rất lớn trong điều kiện nếu như nó được giảng viên sử dụng đúng đắn.
• Vào những năm 50 đến đầu thập kỉ 70 (1950 - 1970), xuất phát từ những
nhiệm vụ nâng cao chất lượng dạy học trên cơ sở phát huy tính tích cực, độc lập của học
sinh. Việc nghiên cứu ở giai đoạn này chủ yếu nhằm hoàn thiện quá trình dạy học.
Trong đó có kiểm tra, đánh giá tri thức học sinh, các công trình này chủ yếu nghiên cứu
ở bậc phổ thông và thường tập trung làm sáng tỏ chức năng của kiểm tra, đánh giá.
Bước đầu các tác giả đã vạch rõ: tổ chức việc kiểm tra, đánh giá tri thức sẽ góp phần
phát huy tính tích cực, độc lập, hứng thú hoạt động học tập của học sinh.
• Từ những năm 1970 trở lại đây, có nhiều công trình nghiên cứu giải
quyết từng vấn đề cụ thể trong quá trình kiểm tra, đánh giá tri thức của học sinh tiêu
biểu: “Những vấn đề lí luận dạy học của việc đánh giá tri thức” của tác giả V. M.
Palonxki và “Con đường hoàn thiện việc kiểm tra tri thức kĩ năng” của X. V. Ưxôva,
các tác giả đã nghiên cứu vấn đề tiêu chuẩn, chất lượng tri thức, những yêu cầu về tri
thức từ đó xác định một cách khoa học nội dung kiểm tra và nội dung đánh giá.
• Một số tác giả khác, đi vào nghiên cứu việc nâng cao chất lượng đánh
giá, nghiên CÚ01 các nguyên tắc, quan điểm về đánh giá như: G. V. Axacliac với công
trình “Các hướng nâng cao tính khách quan trong việc đánh giá kiến thức học sinh”, A.
M. Lêvitov với cuốn “Khả năng đánh giá đúng kiến thức học sinh”
• Các nước như: Anh, Mỹ, Pháp, úc, thường sử dụng hình thức trắc
nghiệm “TEST” để đánh giá kết quả nắm tri thức của học sinh. Trắc nghiệm là hình
thức đặc biệt thường được dùng để kiểm tra, đánh giá tri thức , kĩ năng, kĩ xảo của
người học trong quá trình dạy học. Năm 1845, o. w. Calwell và s. A. Courtrs đã có kế
9
hoạch áp dụng hình thức thi, kiểm tra trắc nghiệm (TEST) để đảm bảo tính khách quan
và độ tin cậy của bài kiểm tra.
* Ở Việt Nam:
• Đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết sâu sắc về vấn đề kiểm tra,
đánh giá trong nước như:
• Những bài viết của Trần Kiều, Trang Như Lân, Nguyễn Hữu Chí, Trên
cơ sở phê phán những hình thức của kiểm tra, đánh giá đã được đưa ra một số phương

giáo viên dựa vào đó mà (cân, đo, đong, đếm) trình độ, mức độ chiếm lĩnh tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo của học sinh mình.
• Nhìn chung kiểm tra, đánh giá đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước
đề cập đến với nhiều góc độ khác nhau; các chương trình nghiên cứu, các bài viết đã
trình bày những lí luận cơ bản về kiểm tra, đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của học
sinh đã phân tích khá sâu sắc ý nghĩa, vị trí, chức năng và các quan điểm kiểm tra, đánh
giá tri thức của học sinh với góc độ lí luận dạy hoc hiện đại. Đã đề xuất đổi mới kiểm
tra, đánh giá thông qua nội dung kiểm tra, các hình thức tổ chức và phương pháp kiểm
tra, đánh giá, Xem kiểm tra, đánh giá là một khâu then chốt cuối cùng không thể thiếu
được trong quá trình dạy học. Những lí luận trên là một cơ sở quan trọng để chúng tôi
kế thừa và đi sâu nghiên cứu đề tài: “Thực trạng kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn
Đạo đức lớp 4 thông qua hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan”.
1
1
1.2. Vài nét về phương pháp kiểm tra đánh giá trong dạy học
1.2.1, Khải niệm về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
1.2.1.1. Kiểm tra
• Kiểm tra là thuật ngữ chỉ cách thức hoạt động GV sử dụng để thu thập
thông tin về biểu hiện kiến thức, kĩ năng và thái độ của học sinh trong học tập nhằm
cung cấp dữ kiện làm cơ sở cho việc đánh giá.
• Trong từ điển giáo dục: “Kiểm tra là bộ phận hợp thành của quá trình dạy
học” nhằm nắm được thông tin về trạng thái và kết quả học tập của học sinh, về những
nguyên nhân cơ bản của tình trạng đó để tiến hành biện pháp khắc phục lỗ hổng kiến
thức, đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học.
• Xét theo phương pháp và công cụ, kiểm tra có hướng: định tính và định
lượng. Định tính là thu thập thông tin về kết quả học tập và kết quả rèn luyện của học
sinh bằng quan sát và ghi nhận xét dựa trên các tiêu chí giáo dục đã định. Định lượng là
thu thập thông tin ví dụ như điểm số hoặc số lần thực hiện hành động.
1.2.1.2. Đảnh giả
• Trong giáo dục đánh giá là một bộ phận hợp thành rất quan trọng, một


• Như vậy, có thể nói kiểm tra là phương tiện, công cụ để đánh giá. Kiểm
tra đánh giá là khi đánh giá phải kiểm tra và kiểm tra để đánh giá. Đôi khi nói đánh giá
thì cũng bao gồm cả kiểm tra trong đó.
• Đánh giá kết quả học tập cùa học sinh:
• Ket quả học tập thể hiện kết quả của quá trình dạy học, nó đích thực chỉ
xuất hiện khi có những biến đồi tích cực trong nhận thức hành vi của người học. Đánh
giá kết quả học tập là quá trình thu thập, xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện
mục tiêu học tập ủa người học về tác động và nguyên nhân của tình hình đó, nhằm tạo
cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên.
• Ngày nay, xu hướng của đánh giá kết quả học tập: chuyển dần từ đánh
giá cuối cùng (sau khi giảng dạy) sang đánh giá cả quá trình ( đánh giá trước, trong và
1
4

sau khi giảng dạy). Chuyển từ việc giữ kín những tiêu chuẩn, tiêu chí sang công khai
các tiêu chuẩn, tiêu chí; từ đánh giá khả năng vận dụng riêng lẻ sang đánh giá khả năng
tổng họp, khả năng vận dụng kiến thức; từ đánh giá của giáo viên sang tự đánh giá của
học sinh.
1.2.2. Mục đích, chức năng của kiểm tra, đảnh giá kết quả học tập
• Đánh giá là phương tiện đi đến mục đích của dạy học chứ bản thân đánh
giá không phải là mục đích. Việc kiểm tra, đánh giá trong giáo dục nhằm những mục
đích:
• Đối với học sinh:
• Chuẩn đoán năng lực, trình độ người học, thúc đẩy họ khắc phục những
khó khăn để nâng cao kết quả học tập, phát huy năng lực.
• Đối vói giảo viên:
• Cung cấp thông tin để giáo viên ra những quyết định trong dạy học.
• Đối với cơ sở quản lý giáo dục:
• Cung cấp thông tin để đánh giá chất lượng, cải tiến nội dung, chương

thức đánh giá này được gọi là mô hình đánh giá thông qua tiêu chí, tiêu chuẩn. Khi đưa
ra nhận xét phải dựa trên những quy định cụ thể của chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ và
số nhận xét theo quy định.
1.2.4.2. Đánh giá động viên
1
6
• Đánh giá động viên là sử dụng điểm số, nhận xét hoặc phương tiện khác
để kích thích tinh thần, cảm xúc của học sinh. Từ đó thôi thúc các em thực hiện nhiệm
vụ kế tiếp tốt hơn, với sự phấn đấu cao hơn. Nói cách khác động viên là cách tác động
làm nảy sinh nhũng suy nghĩ tích cực và suy nghĩ cần thiết cho học sinh.
1.2.5. Những đỗi mới trong cách đảch giá kết quả học tập của học sinh trong
môn Đạo đức
- Quan tâm tới cả ba mặt: kiến thức, kĩ năng, thái độ.
- Ket quả học tập của học sinh được đánh giá thường xuyên trong quá trình học
tập trên lớp.
- Đe thực hiện cách đánh giá bằng nhận xét giáo viên phải lập kế hoạch quan sát
từng học sinh khi các em tham ra các hoạt động học tập trên lớp kết hợp các bài
kiểm tra thông thường. Với cách đánh giá này đã làm sáng tỏ kết quả và năng
lực học tập của từng cá nhân.
• -Tạo điều kiện cho các em tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau thông qua các hoạt
động học tập cá nhân, học nhóm và cả lớp.
1.3. Phương pháp xây dựng hệ thống các câu hỏi, bài tập trắc nghiệm
dùng trong kiểm tra, đánh giá
1.3.1. Trắc nghiệm tự luận
1.3.1.1. Khái niệm
• Kiểm tra viết (Trắc nghiệm tự luận) thường gọi tắt là tự luận, là hình thức
kiểm tra phổ biến, được sử dụng đồng thời với nhiều học sinh trong cùng một thời điểm,
thường được sử dụng sau khi học sinh học song một phần của chương, một chương hoặc
nhiều chương hoặc sau khi học song toàn bộ chương trình. Nội dung có thể bao quát từ
1

người, phụ thuộc tâm trạng, sự mệt mỏi, trình độ chuyên môn, nên độ tin cậy của
điểm số không cao. Trong cùng một thời gian lượng kiến thức kiểm tra được ít và hạn
chế tính tổng quát.
1.3.1.3. Lựa chọn nội dung cho trắc nghiêm tự luận
• • • O o • • •
• Dựa vào mục tiêu học tâp để lựa chọn nội dung cho bài tự luận: Quan
tâm đến những kiến thức quan trọng nhất, cơ bản nhất. Đe tìm kiến thức cơ bản, quan
trọng ta phải:
• Chia kiến thức thành những đơn vị nhỏ: nguyên tố kiến thức.
• Phân tích toàn bộ phần đảnh giả:
• Phân tích cả chương, phần chứa bài đó thậm chí phân tích toàn bộ
chương trình để thấy được tần suất sử dụng nguyên tố kiến thức đó. Điều quan trọng là
phải tập trung vào những nguyên tố kiến thức quan trọng nhất: những nguyên tố kiến
thức có tần suất xuất hiện lớn.
• Đe nâng cao chất lượng của bài tự luận phải phân tích các nguyên tố kiến
thức của bài tự luận. Thường dựa vào bảng phân loại theo mục tiêu của Bloom, Conklin,
Stiggnins.
• Conklin - Stiggnins đã nêu lên các mục tiêu:
• Nhận biết và hiếu đơn
giản Hiếu sâu và lập luận Cỏ kĩ
năng
1
9
• Sản
phẩm Tác
động
1.3.2. Trắc nghiệm khách quan
1.3.2.1. Khái niệm trắc nghiệm
• Theo Từ điển Tiếng Việt 2009 của viện Ngôn ngữ học, nhà xuất bản Trung tâm
Từ điển:

• Và cũng có ý kiến cho rằng: Trắc nghiệm khách quan là phương pháp mà
người ta dùng những bài tập ngắn có kèm theo câu trả lời để thực hiện các mục đích xác
định.
• Tuy nhiên nội dung của bài trắc nghiệm khách quan cũng phần nào có
tính chủ quan nếu nó đại diện cho sự phán xét của ai đó về bài trắc nghiệm.
• Một bài trắc nghiệm khách quan thường bao gồm nhiều câu hỏi. Mỗi câu
thường được trả lời bằng một dấu hiệu đon giản hay một cụm từ,
1.3.2.3. ưu điểm và hạn chế của trắc nghiệm khách quan
1.3.2.3.1. ưu điểm
• Trắc nghiệm cho phép trong một thời gian ngắn kiểm tra được nhiều kiến
thức cụ thể, đi vào những khía cạnh khác nhau của một kiến thức, chống khuynh hướng
học tủ.
2
1
• Trắc nghiệm tốn ít thời gian thực hiện, đặc biệt là khâu chấm bài.
• Trắc nghiệm đảm bảo tính khách quan. Khi cho điểm trong kiểm tra
truyền thống, cùng một bài làm có thể được đánh giá khác nhau, có thể điểm số chênh
lệch khá lớn tùy thuộc vào người chấm. Chấm bài trắc nghiệm sẽ tránh được sai lệch và
hạn chế đó.
• Các câu hỏi, đáp án được quy định về số lượng, nội dung và đã chuẩn
hóa nên dễ dàng sử dụng phương pháp thống kê toán học để tổng hợp và xử lý kết quả.
• Trắc nghiệm nếu được sử dụng thính họp có thể gây được hứng thú và
tính tích học tập của học sinh. Là một hình thức kiểm tra, một dạng bài tập mới, so với
các hình thức kiểm tra và dạng bài tập truyền thống trắc nghiệm có thể được nhiều học
sinh ưa thích. Việc chấm bài được nhanh gọn, học sinh có thế sớm biết kết quả làm bài
của mình, học sinh có thể tự đánh giá bài làm của mình và đánh giá bài làm của nhau.
I.3.2.3.2. Hạn chế
• Các bài tập chủ yếu rèn trí nhớ máy móc, khó phát triển tư duy và đánh
giá quá trình suy nghĩ dẫn tới kết quả làm bài trắc nghiệm. Có lẽ đây là một nhược điểm
lớn nhất của trắc nghiệm.

• -Yêu cầu khi sử dụng câu hởi: + Câu viết phải ngắn gọn, rõ ràng, câu hỏi phải
xếp chính xác là đúng hay sai.
2
3
• + Đặt ra một mệnh đề và yêu cầu người học xác định mệnh đề đó đúng hay sai,
không nên bố trí số câu đúng bằng số câu sai, không nên trích nguyên câu trong sách
giáo khoa,
• Ví dụ: Bài “ Chăm sóc cây trồng, vật nuôi ” (lớp 3)
• Viết vào □ chữ Đ trước câu trả lời đúng, chữ s trước câu trả lời sai.


I I Cho vật nuôi ăn uống.


I I Đánh vật nuôi nếu chúng ăn vụng.
□ Trèo cây, bẻ cành, hái hoa để chơi.


I I Tưới cây bón phân, làm cỏ.
□ Ngăn chặn những hành động làm tổn hại đến chúng.
I.3.2.4.2. Trắc nghiệm nhiều lựa chọn
- Trắc nghiệm nhiều lựa chọn là loại câu thông dụng nhất còn gọi là câu đa phương án.
Loại câu này gồm hai phần là phần câu dẫn và phần câu lựa chọn.
• + Phần câu dẫn là một câu hỏi hay một câu lơ lửng tạo cơ sở cho sự lựa chọn.
• + Phần lựa chọn gồm nhiều phương án trả lời. Người trả lời sẽ lựa chọn một
phương án trả lời đúng hoặc đúng nhất, hoặc không có liên quan gì đến trong số các
phương án cho trước. Những phương án còn lại là những phuơng án gây nhiễu.
- ưu điểm: độ tin cậy cao, yếu tố ngẫu nhiên, mang tính đơn giản, đảm bảo độ giá trị, có
thể đo được khả năng của người học: nhớ, thông hiểu, áp dụng, phân tích, tổng họp,
- Hạn chế: có thể khuyến khích sự đoán mò của người học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status