Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa:Ng©n hµng
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong nền kinh tế thị trường hiện nay
ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng của mình đối với sự phát triển
kinh tế đất nước. DNNVV là loại hình doanh nghiệp có những ưu thế đặc trưng
về tính năng động, khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi của thị trường.
Một trong những vai trò quan trọng của loại hình doanh nghiệp này đối với
không chỉ riêng mỗi quốc gia nào mà với toàn bộ nền kinh tế khác nhau trên thế
giới, đó là các DNNVV giải quyết một lượng công ăn việc làm lớn.
Hiện nay trong tổng số các doanh nghiệp đang hoạt động ở Việt Nam thì số
lượng các DNNVV chiếm tỷ trọng lớn. Đây là loại hình doanh nghiệp nòng cốt,
tuy nhiên các DNNVV luôn gặp phải vấn đề khó khăn về vốn cho hoạt động sản
xuất kinh doanh, đặc biệt là các nguồn vốn trung và dài hạn.
Trong điều kiện thực tế nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa
đất nước nên vấn đề đáp ứng nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp là vấn đề cấp
thiết hơn bao giờ hết.Với vai trò là trung gian tài chính, ngân hàng là ngành chủ
yếu làm cho cung cầu tiền tệ gặp nhau. Hệ thống ngân hàng với các ngân hàng
thương mại ngày một lớn mạnh, là lực lượng chủ yếu trong việc thu hút và cung
cấp nguồn vốn. Tuy nhiên các DNNVV nước ta lại ít được tiếp cận với nguồn
vốn vay từ ngân hàng, điều đó dẫn đến một thực tế là không ít các DNNVV đã
bị đảo thải ra khỏi nền kinh tế do thiếu vốn, nhất là trong điều kiện nền kinh tế
khủng hoảng như hiện nay. Trước thực tế cấp thiết đó cũng như qua thời gian
thực tập tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và phát triển Cầu giấy, em đã chọn đề
tài “ Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa
tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu giấy’’ làm đề tài tốt
Ng« ThÞ Kim Thoa Líp: NHK – K9
1
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa:Ng©n hµng
nghiệp cho mình. Nhằm đóng góp những ý kiến trong phạm vi kiến thức của em
về vấn đề nghiên cứu trên.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1-Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường .
1.1-Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)
Tại Việt Nam theo nghị định số 90/2001/NĐ-CP ban hành ngày 23/11/2001
qui định: “ DNNVV là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh doanh
theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động
trung bình hàng năm không quá 300 người ” bao gồm các doanh nghiệp Nhà
nước, doanh nghiệp thành lập theo Luật doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh tế cá
thể. Căn cứ vào tình hình kinh tế -xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong
quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng
đồng thời cả hai chỉ tiêu về vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.
1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Là một doanh nghiệp nhưng với quy mô nhỏ và vừa nên bên cạnh những đặc
điểm cơ bản của một doanh nghiệp thông thường, DNNVV còn có một số đặc
điểm riêng biệt sau:
- DNNVV tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh tế bao gồm các loại
hình doanh nghiêp như: Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty
TNHH, Doanh nghiệp tư nhân.
- Các DNNVV chỉ cần lượng vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi
vốn nhanh:Vì thế mà đã hấp dẫn nhiều cá nhân, tổ chức ở mọi thành phần kinh
tế đầu tư vào khu vực này.
- DNNVV có tính năng động, linh hoạt, tự do sáng tạo trong kinh doanh. So
với doanh nghiệp lớn, DNNVV năng động hơn, trước những thay đổi liên tục
của thị trường.
Ng« ThÞ Kim Thoa Líp: NHK – K9
3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa:Ng©n hµng
- Các DNNVV dễ dàng và nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghiệp, thích
ứng với cuộc cách mạng Khoa học- Cộng nghệ hiện đại: DNNVV với yêu cầu
biến động bên ngoài doanh nghiệp mình như: nguyên liệu, mặt hàng, trình độ
công nghệ, đối thủ cạnh tranh… Nguồn vốn tài chính có hạn, không đủ kinh phí
để mua sắm các thiết bị phục vụ công tác thông tin nhanh chóng, kịp thời nói
riêng và chi phí cho hoạt động tiếp cận, thu nhập, xử ly thông tin nói chung.
- Thị trường DNNVV thường nhỏ bé và không ổn định, lại chia sẻ với
nhiều doanh nghiệp khác. Trong nhiều trường hợp thường bị động vì phụ thuộc
vào hướng phát triển của các doanh nghiệp lớn và tồn tại như một bộ phận của
doanh nghiệp lớn. Một trong những khó khăn không nhỏ của các DNNVV Việt
Nam hiện nay chính là thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Như vậy, với đăc điểm ưu thế của mình, định hướng chiến lược ngắn hạn,
trước mắt của các DNNVV là tập trung vào các thị trường nhỏ và lẻ, địa phương
và đặt trọng tâm vào những sản phẩm hàng hóa có giá trị thấp. Nếu có định
hướng chiến lược dài hạn thì cần phải chú ý tới thị trường của các địa phương
khác và thị trường quốc tế. Những hạn chế về vốn, trình độ công nghệ, phương
thức quản lý dẫn đến khả năng cạnh tranh, tiếp cận thị trương của doanh nghiệp
thấp. Đây chính là những yếu tố tiềm ẩn gây rủi ro cho ngân hàng khi cho vay
để quan hệ tín dụng được thiết lập. Do vậy, doanh nghiệp cần khắc phục những
hạn chế đó và Ngân hàng cần thẩm định kĩ khách hàng trước khi cho vay.
1.3 Vài trò của DNNVV trong nền kinh tế.
Sự phát triển của các DNNVV trong nền kinh tế thị trường góp phần quan
trọng trong việc giải quyết những mục tiêu kinh tế - xã hội ở một số mặt:
- DNNVV tạo công ăn việc làm cho một số lượng lớn lao động, góp phần ổn
định xã hội. DNNVV với ưu thế là dễ dàng thành lập với số vốn ban đầu lớn, dễ
thích nghi với sự thay đổi của thị trường do có sự phân bố rộng khắp tại các
vùng miền trong cả nước nên tuy sử dụng ít công nhân hơn so với các DN lớn
nhưng số lượng các DNNVV là rất lớn, vì vậy theo quy luật các DNNVV tạo ra
một khối lượng công việc làm lớn trong xã hội.
Ng« ThÞ Kim Thoa Líp: NHK – K9
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa:Ng©n hµng
thành những doanh nghiệp lớn. Đây là lực lượng rất cần thiết góp phần thúc đẩy
sản xuất kinh doanh ở những nước đang phát triển như Việt Nam.
- Tạo ra môi trường cạnh tranh, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển có
hiệu quả cao hơn: Sự tham gia của rất nhiều các nhà DNNVV vào sản xuất
kinh doanh, làm cho số lượng và chủng loại sản phẩm sản xuất tăng lên rất
nhanh. Kết quả là làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường, tạo sức ép buộc các
nhà doanh nghiệp thường xuyên đổi mới mặt hàng, giảm chi phí, tăng chất
lượng để thích ứng với môi trường mới để doanh nghiệp tiếp tục tồn tại và phát
triển. Những yếu tố đó có tác động lớn làm cho nền kinh tế năng động và hiệu
quả hơn.
- Các DNNVV có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy quá trinh phát triển và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Sự phát triển của các DNNVV ở nông thôn đã thúc
đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho công nghiệp phát triển
mạnh đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại, dịch vụ phát triển.
- Các DNNVV góp phần đáng kể vào việc thực hiện đô thị hóa phi tập trung:
hệ thống DNNVV ở nông thôn sẽ thu hút những lao động thiếu hoặc chưa có
việc làm và có thể thu hút số lượng lớn lao động thời vụ trong các kỳ nông nhàn
vào hoạt động sản xuất kinh doanh, rút dần lực lượng lao động làm nông nghiệp
chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ nhưng vẫn sống tại quê nhà, không
phải đi xa. Đồng thời hình thành các khu cơ sở sản xuất ngay tại nông thôn, hình
thành các đô thị nhỏ đan xen giữa những làng quê, thực hiện quá trình đô thị hóa
phi tập trung.
2- Chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với DNNVV
2.1-Tín dụng Ngân hàng:
2.1.1. Khái niệm:
“ Tín dụng là một giao dịch về tài sản( tiền và hàng hóa) giữa bên cho
vay (ngân hàng) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác),
trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời
Ng« ThÞ Kim Thoa Líp: NHK – K9
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa:Ng©n hµng
Theo điều 49 luật các tổ chức tín dụng thì: “ Các tổ chức tín dụng được cấp
tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức: cho vay, chiết khấu thương
phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh cho thuê tài chính và các hình thức khác
theo quy định của ngân hàng nhà nước”. Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các
khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Việc phân
loại tín dụng có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích
hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Người ta có thể dựa trên
những tiêu chí khác nhau để phân loại tín dụng:
- Căn cứ vào thời hạn cho vay:
+ Cho vay ngắn hạn: loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và được sử
dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của doanh nghiệp và các nhu cầu chi
tiêu ngắn hạn cả cá nhân.
+ Cho vay trung hạn: theo quy định hiện nay của Ngân hàng nhà nước Việt
Nam, cho vay trung hạn có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm để đầu tư mua sắm
TSCĐ, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, cộng nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh,
xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Bên cạnh
đầu tư cho TSCĐ, cho vay trung và dài hạn cũng là nguồn hình thành vốn lưu
động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp mới
thành lập.
+Cho vay dài hạn : loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có
thể lên đến 20-30 năm, một số trường hợp cá biệt có thể lên đến 40 năm. Loại
tín dụng này thường cung cấp để đáp ứng cho nhu cầu dài hạn như : xây dựng
nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp
mới.
- Căn cứ các mục đích cho vay:
+ Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây
dụng bất động sản nhà ở, đất đai, bất đông sản trong lĩnh vực công nghiệp,
thương mại dịch vụ.
Ng« ThÞ Kim Thoa Líp: NHK – K9
Ng« ThÞ Kim Thoa Líp: NHK – K9
10
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa:Ng©n hµng
+ Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm
cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của
bản thân khách hàng.
- Căn cứ vào xuất xứ tín dụng:
+ Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng
người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
+Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại
khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.
2.1.4. Sự cần thiết của tín dụng ngân hàng đối với DNNVV.
Trong cơ chế cạnh tranh hiện nay,khi mà tất cả các loại hình doanh nghiệp
đang phát huy hiệu quả kinh doanh ở mức cao nhất thì các DNNVV lại càng
phải nỗ lực hơn để đáp ứng những yêu cầu mới về sản phẩm, về thiết bị công
nghệ, máy móc và tất yếu vốn phải cần nhiều hơn. Vì vậy, vốn vẫn là điều kiện
tiên quyết quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp, nên tín dụng
ngân hàng ngày càng quan trọng hơn, cần thiết hơn, đặc biệt đối với các
DNNVV được thể hiện:
- Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy cho nền kinh tế hỗ trợ sự ra đời và phát triển
các DNNVV. TDNH tác động điều tiết sự di chuyển vốn đầu tư làm bình quân
hóa tỷ suất lợi nhuận, thúc đẩy sự phát triển của DNNVV. Tín dụng ngân hàng
luôn chuyển hướng đầu tư vào những doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận cao, hạn
chế hoặc không đầu tư vào những doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuân thấp. Qua
đó nó làm thay đổi quan hệ cung - cầu hàng hóa và thay đổi cơ cấu ngành kinh
tế.
- Tín dụng ngân hàng góp phần bổ sung nguồn vốn, nâng cao khả năng cạnh
tranh của các DNNVV. Các DNNVV huy đông vốn chủ yếu nhờ nguồn tín dung
ngân hàng. Khi vốn được giải ngân, sức mạnh tài chính doanh nghiệp tăng lên
Ng« ThÞ Kim Thoa Líp: NHK – K9
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa:Ng©n hµng
Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng (người
vay tiền), phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm sự tồn tại, phát
triển của ngân hàng.
- Trước hết dưới góc độ xã hội :
Chất lượng tín dụng phải được đánh giá từ hiệu quả kinh tế- xã hội, có
nghĩa là phải xem xét nó có phục vụ chính sách phát triển kinh tế của Chính phủ
và địa phương không? Tác động của chinh sách tín dụng trong việc tăng trưởng
và phát triển kinh tế, tăng cường cơ sở vật chất, kĩ thuật. Nhu cầu của thị trường
đối với với sản phẩm hàng hóa ra sao? Số lượng lao đông thu hút vào hoạt động
tín dụng là bao nhiêu? Nếu số lượng lao động thu hút vào càng lớn thì giải quyết
tốt về mặt xã hội. Số lượng lao đông này không chỉ giới hạn ở số lượng nhân
viên ngân hàng mà cả số lao động có việc làm khi tổ chức kinh tế này được vay
vốn. Ngoài việc xem xét về hiệu quả xã hội, người ta còn đánh giá về hiệu kinh
tế như: Lợi nhuận mang lại cho xã hội, vòng quay của vốn, một phần đặc biệt
quan trọng đó là các khoản thuế nộp cho ngân sách nhà nước, thực hiện cho vay
và sử dụng phải theo đúng quy định của pháp luật
- Xét dưới góc độ khách hàng:
Xuất phát từ nhu cầu vay vốn của khách hàng, vốn đó phải được sử dụng
nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh, nhập hàng hóa. Trên cơ sở tính toán để sao
cho chi phí cơ hội lớn nhất. Chất lượng tín dụng với khách hàng có thể hiểu dưới
vài khía cạnh:
+Vốn vay phải mang lại hiệu quả trong kinh doanh.
+Việc cấp vốn phải kịp thời.
Mức vốn được cấp phải đảm bảo cho nhu cầu doanh nghiệp. Điều này cũng có
nghĩa nếu hạn chế mức tín dụng thấp sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp không
nhỏ.
Thời gian trả vốn và lãi của khách hàng cho ngân hàng phải hợp lý để phù
hợp với chu kì kinh doanh. Ngân hàng không nên quá cứng nhắc khi gia hạn trả
Ng« ThÞ Kim Thoa Líp: NHK – K9
14
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa:Ng©n hµng
hạn hay không? Lòng tin và sự rủi ro luôn tồn tại trong quan hệ tín
dụng.
- Khả năng sinh lời của ngân hàng do hoạt động tín dụng mang lại:
Chất lượng tín dụng tốt góp phần tăng dư nợ tín dụng, từ đó tăng lãi thu được
từ hoạt đông tín dụng. Hiện tại tín dụng là hoạt động chủ yếu tạo ra lợi nhuận
cho ngân hàng thương mại nên chất lượng tín dụng góp vai trò quyết định trong
việc tăng khả năng sinh lời cho ngân hàng.
Chất lượng tín dụng tốt góp phần nâng cao uy tín ngân hàng trên thị trường,
giúp ngân hàng thu hút ngày càng nhiều khách hàng, tăng khả năng huy động
vốn cũng như tăng dư nợ tín dụng, tăng thu nhập từ hoạt động tín dụng và các
dich vụ đi kèm như: chuyển tiền thanh toán quốc tế và ngoại hối
Như vậy chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh mức
độ thích nghi của NHTM với sự thay đổi của môi trường bên ngoài và thể hiện
sức mạnh của một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại. Do đó việc
tăng cường quản lý chất lượng tín dụng, hạn chế rủi ro trong hoạt động tại các
NHTM luôn là một yêu cầu bức xúc, là điều kiện sống còn cho bản thân mỗi
ngân hàng cũng như cho cả hệ thống ngân hàng và nền kinh tế quốc dân. Đánh
giá chất lượng hoạt tín dụng thông qua chỉ tiêu nợ: Nợ quá hạn, thu nhập từ hoạt
đông cho vay, tổng dư nợ.
2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng:
2.2.2.1- Nợ quá hạn:
Nợ quá hạn trong kinh doanh tín dụng là hiện tượng tới thời hạn thanh toán
khoản nợ, người đi vay không có khả năng thực hiện ngay nghĩa vụ của mình
đối với khoản vay.
Đối với các hoạt động ngân hàng, bất kì khoản nợ quá hạn nào cũng dẫn
đến rủi ro ứ đọng vốn, làm ngân hàng không thu hồi được vốn và lãi đúng thời
hạn. Nó còn gây hậu quả làm giảm khả năng thanh toán, thậm chí làm mất khả
trước, thấu chi và cho thuê tài chính, các khoản chiết khấu, tái chiết khâu, bao
thanh toán và các hình thức tín dụng khác) thành 5 nhóm với mức độ rủi ro khác
Ng« ThÞ Kim Thoa Líp: NHK – K9
16
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa:Ng©n hµng
nhau, nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 được coi là nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư
nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng.
_Với Quyết định 493, Ngân hàng Nhà nước hy vọng các khoản nợ xấu sẽ bộc
lộ rõ trong bảng cân đối kế toán, trên cơ sở đó từng tổ chức tín dụng và toàn
ngành sẽ có hướng xử lý rủi ro tín dụng, đảm bảo cho hoạt động của hệ thống
lành mạnh.
2.2.2.3- Thu nhập từ hoạt động cho vay DNNVV:
Đối với ngân hàng thương mại nói chung thì hiện nay cho vay vẫn là nghiệp
vụ chủ yếu và thu nhập từ nghiệp vụ này chiếm tỷ trọng rất cao, thông thường
chiếm từ 70 đến 80% trong tổng thu nhập. Thu nhập từ hoạt động cho vay là số
tiền dôi ra mà ngân hàng thu được do hoạt động cho vay đem lại’’.
Thu nhập từ khoản mục này chịu tác động của quy mô khoản mục cho vay và
các chi phí phục vụ cho nó (lãi suất, các chi phí khác). Nếu quy mô cho vay lớn,
chi phí nhỏ thì thu nhập cao và ngược lại nếu quy mô cho vay lớn mà chi phí lại
cũng lớn thì thu nhập của hoạt động này thấp. Khi đánh giá chỉ tiêu này ta phải
kết hợp song song giữa thu nhập từ hoạt động cho vay với chi phí bỏ ra từ hoạt
động đó.
Tỷ lệ này được tính bằng:
Thu nhập từ hoạt động cho vay
___________________________
Chí phí cho hoạt động cho vay
Nếu tỷ lệ trên >1: Hoạt động kinh doanh tín dụng có lãi
Nếu tỷ lệ trên =1: Hoạt động kinh doanh tín dụng hòa vốn
+ Chính sách tín dụng:
Chính sách tín dụng phải phù hợp với đường lối phát triển của Chính phủ
đồng thời đảm bảo kết hợp hài hòa quyền lợi của người gửi tiền, người đi vay và
của chính bản thân ngân hàng. Đối với NHTM, chính sách tín dụng đúng đắn
phải đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng, trên cơ sở phân tán rủi
Ng« ThÞ Kim Thoa Líp: NHK – K9
18
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa:Ng©n hµng
ro, tuân thủ pháp luật và đường lối chính sách của Nhà nước, đồng thời đảm bảo
được tính cân bằng.
+ Hiện nay các NHTM đã nhìn nhận một cách đúng đắn về việc cho vay
các DNNVV. Việc cho vay các DNNVV được coi là một chính sách quan trọng
trong việc mở rộng khách hàng cũng như tăng trưởng tín dụng.
+ Mặc dù vậy quan điểm kinh doanh của Ngân hàng đối với DNNVV còn
nhiều vấn đề cần giải quyết như tâm lý e ngại rủi ro, mức thu lãi thấp, khoản vay
quá nhỏ, chi phí nghiệp vụ cao hơn so với việc xét duyệt cho các DN qui mô lớn
lên không hấp dẫn ngân hàng.
+ chính sách, thể lệ, chế độ tín dụng ngân hàng đối với DNNVV đôi khi
chưa chặt chẽ, rõ ràng nên hưởng tới chất lượng tín dụng. Do đó một số kẻ lừa
đảo lợi dụng sơ hở thể chế để chiếm đoạt vốn vay hoặc chây ì trong việc trả nợ
vay ngân hàng.
+ Tình hình huy động vốn:
Muốn nâng cao chất lượng tín dụng thì nguồn vốn huy động đóng vai trò rất
quan trọng. Nguồn vốn huy động của ngân hàng là một trong những nhân tố ảnh
hưởng đến hoạt động tín dụng. Nếu vốn của ngân hàng dồi dào đáp ứng đủ nhu
cầu vay vốn của các khách hàng thì sẽ góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân
hàng, qua đó nâng cao được chất lượng tín dụng. Nguồn huy động gồm tiền gửi
giao dịch, tiền gửi phi giao dich, tiền đi vay và vốn tự có của ngân hàng. Đối với
cho vay trung và dài hạn thì nguồn đáp ứng phải tương đối ổn định, lãi suất phải
hợp lý, một mặt để cạnh tranh với ngân hàng khác, một mặt đảm bảo bù đắp
cũng như những quy định về điều kiện, thủ tục cho vay ở từng ngân hàng. Trong
bước chuẩn bị cho vay thì khâu thẩm định chiếm vị trí rất quan trọng. Trong
việc thẩm định các dự án trước khi cho vay thì các ngân hàng mà trực tiếp là cán
bộ tín dụng phải thu thập thông tin về hồ sơ pháp lý, hồ sơ tài chính, hồ sơ dự
án, phương án vay của khách hàng để từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá
chính xác trước khi quyết định cho vay. Ngân hàng xem xét, đánh giá xem
phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng có khả thi hay không? Khả năng
Ng« ThÞ Kim Thoa Líp: NHK – K9
20
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa:Ng©n hµng
sinh lời của dự án, năng lực tài chính, trình độ quản lý, uy tín trong kinh doanh
của khách hàng.
Trước khi quyết định cho vay cần cân nhắc các mặt sau:
- Sự an toàn của vốn vay và khả năng hoàn trả vốn vay khi đến hạn.
- Khả năng sinh lời của vốn tín dụng
- Sự phù hợp giữa cấp vốn tín dụng với tình hình kinh tế hiện tại
Trong khâu quản lý và giám sát liên quan dến việc kiểm tra sổ sách và thực tế
triển khai công việc kinh doanh xem xét có đúng mục tiêu và tiến độ không?
Từ đó giải ngân một cach hợp lý.
Thu nợ, thanh toán nợ là khâu quan trọng quyết định sự tồn tại vững chắc
của ngân hàng cho nên phải nhạy bén, kịp thời phát hiện những điều kiện bất lợi
xảy ra.
+ Thông tin tín dụng:
Thông tin tín dụng là yếu tố cơ bản trong quản lý theo nghĩa rộng.Nhờ có
thông tin tín dụng,người quản lý có thể đưa ra ngững quyết định cần thiết có liên
quan đến cho vay, theo dõi và quản lý cho vay.
Thông tin tín dụng càng nhanh, càng chính xác và toàn diện thì khả năng xảy
ra rủi ro trong hoạt động kinh doanh càng giảm.
+ Kiểm soát nội bộ:
Đây là sự phối hợp giữa phương pháp tổ chức hoạt động và các biện pháp
về tỷ giá làm cho một số doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu bị thua lỗ ảnh
hưởng tới việc trả nợ ngân hàng.
- Chất lượng tín dụng chịu sự ảnh hưởng trực tiếp về sự ổn định của nền kinh
tế.Kinh tê ổn định sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp được hoạt động bình thường không bị ảnh hưởng bởi lạm phát, khủng
hoảng tài chính, do đó khả năng cho vay và trả nợ vay không bị biến động lớn.
- Chu kì phát triển kinh tế cũng tác động không nhỏ tới chất lượng tín dụng.
Trong thời kỳ đình trệ sản xuất, kinh doanh bị thu hẹp, nhu cầu vốn tín dụng
giảm gây nên tình trạng ứ đọng vốn, các khoản tín dụng đã được tiến hành cũng
Ng« ThÞ Kim Thoa Líp: NHK – K9
22
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa:Ng©n hµng
khó hoàn trả. Ngược lại, trong thời kì hưng thịnh của nền kinh tế, nhu cầu về
vốn vay trở nên quá lớn (trong trường hợp do chạy đua trong kinh doanh tạo nạn
đầu cơ tích trữ, nhiều khoản tín dụng được thực hiện), những khoản tín dụng này
khó có thể trả được một khi sự phát triển kinh doanh không có kế hoạch này đi
đến suy thoái.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay, nhu cầu vốn cho
phát triển và sản xuất kinh doanh là rất lớn, đòi hỏi ngân hàng phải có những nỗ
lực đổi mới để đáp ứng được nhu cầu đó. Song các ngân hàng không thể chỉ tìm
cách đáp ứng nhu cầu vay vốn mà xem nhẹ chất lượng các khoản cho vay. Ngân
hàng muốn phát triển lâu dài và ổn định thì phải hết sức quan tâm đến công tác
tín dụng, hiểu rõ chất lượng tín dụng từ góc độ của ngân hàng, góc độ khách
hàng, góc độ xã hội .Bên cạnh đó, ngân hàng cần phải nắm vững, đánh giá được
các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng,từ đó có những biện pháp, chính
sách để nâng cao chất lượng tín dụng.
Ng« ThÞ Kim Thoa Líp: NHK – K9
23
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Khoa:Ng©n hµng
Dựng của Ngân hàng Nhà Nước huyện Từ Liêm theo quyết định số 60/QĐ ban
hành ngày 26/8/1982.
Ngày 20/12/1986, Chi nhánh tách khỏi Ngân hàng Nhà Nước huyện Từ
Liêm, thành lập Chi nhánh Ngân hàng Đầu Tư và Xây Dựng khu vực 5 trực
thuộc Ngân hàng Đầu Tư và Xây Dựng Hà Nội.
Năm 1988, chi nhánh được đổi tên thành Ngân hàng Đầu Tư và Xây Dựng
Từ Liêm trực thuộc Ngân hàng Đầu Tư và Xây Dựng Hà Nội. Năm 1991, chi
nhánh được đổi tên thành Chi nhánh BIDV Từ Liêm sau đổi tên thành Chi
nhánh BIDV Cầu GIấy trực thuộc chi nhánh BIDV Hà Nội
Ngày 01/10/2004 chi nhánh được nâng cấp lên chi nhánh cấp I trực thuộc
BIDV Việt Nam, lấy tên là Chi nhánh BIDV Cầu Giấy.
1.2 Chức năng nhiệm vụ chủ yếu:
Chi nhánh BIDV Cầu Giấy là chi nhánh cấp I, thành viên của BIDV Việt
Nam, là đơn vị trực thuộc, hạch toán không đầy đủ, có con dấu riêng, thực hiện
nhiệm vụ do Tổng Giám Đốc BIDV VIệt Nam giao. Hoạt động kinh doanh đa
năng, phục vụ khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế.
Là đại diện pháp nhân được ủy nhiệm của BIDV Việt Nam, chịu trách
nhiệm hoạt động theo đúng pháp luật, chế độ chính sách của Nhà Nước, các quy
định, thể lệ của Thống Đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam và của BIDV Việt
Nam.
Chức năng nhiệm vụ chủ yếu:
- Huy động vốn ngắn, trung và dài hạn bằng VND và bằng ngoại tệ.
- Cho vay ngắn, trung và dài hạn bằng VND và bằng ngoại tệ cho mọi thành
phần kinh tê.
- Thực hiện các dịch vụ Ngân hàng theo luật các tổ chức tín dụng.
1.3 Cơ cấu bộ máy tổ chức:
Ng« ThÞ Kim Thoa Líp: NHK – K9
25