ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC- CHUYÊN NGÀNH GDTH
NGƯỜI VIẾT: NGUYỄN VĂN BƯỜNG
PGD&ĐT LỤC NAM CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trường TH Vũ Xá Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
*&* _________*&*___________
®Ò tµi
nghiªn cøu nghiÖp vô s ph¹m
'' Đổi mới - Nâng cao chất lượng giảng dạy
phân môn: “Luyện từ và câu” ở lớp Bốn''
Người thực hiện: Nguyễn Văn Bường
Giáo viên: Trường Tiểu học Vũ Xá
VŨ XÁ, THÁNG 5 NĂM 2011
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC- CHUYÊN NGÀNH GDTH
NGƯỜI VIẾT: NGUYỄN VĂN BƯỜNG
A/ PHẦN MỞ ĐÀU
I. LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ :
Tiếng Việt là tiếng phổ thông của dân tộc Việt. Trong nhà trường Tiểu học,
tiếng Việt là đối tượng mà học sinh cần chiếm lĩnh. Đồng thời, Tiếng Việt
cũng là một môn học: môn Tiếng Việt. Môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học có
nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt
như nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt
động lứa tuổi, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy. Môn Tiếng Việt còn
cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt. Học tiếng Việt,
học sinh còn được bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn
sự trong sáng của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong chương trình Tiểu học, môn Tiếng Việt được chia thành các phân
môn, mỗi phân môn có nhiệm vụ rèn cho học sinh một số kĩ năng nhất định.
Trong bộ môn Tiếng Việt phân môn Luyện từ và câu có một nhiệm vụ cung
cấp nhiều kiến thức sơ giản về nói- viết Tiếng Việt và rèn luyện kỹ năng dùng
- Tổ trưởng, tổ phó cùng dạy khối lớp 4 nên công việc bồi dưỡng HS thuận
lợi.
b. Học sinh:
- Học sinh đã quen với cách học mới từ lớp 1,2,3 nên các em đã biết các lĩnh
hội và luyện tập thực hành dưới sự hướng dẫn tổ chức của giáo viên.
- Sự quan tâm của phụ huynh học sinh cũng góp phần nâng cao chất lượng
môn học nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung.
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC- CHUYÊN NGÀNH GDTH
NGƯỜI VIẾT: NGUYỄN VĂN BƯỜNG
- Các em học sinh đều được học 2 buổi/ngày. Buổi sáng học lý thuyết và
buổi chiều được luyện tập củng cố để khắc sâu kiến thức. Từ đó giúp các em có
khả năng sử dụng thành thạo các bài tập thực hành và áp dụng linh hoạt vào các
phân môn khác.
2. Khó khăn:
a. Giáo viên:
Do đặc điểm của nhà trường là 100% lớp học 2 buổi 1 ngày nên việc thăm
lớp dự giờ học hỏi chuyên môn của mình, của bạn còn hạn chế. Trình độ giáo
viên chưa đồng đều đôi lúc còn giảng dạy theo phương pháp cũ. Nên việc phân
chia thời lượng lên lớp ở mỗi môn dạy đôi khi còn dàn trải, hoạt động của thầy
- của trò có lúc thiếu nhịp nhàng.
b. Học sinh:
Bên cạnh đó là học sinh với lối tư duy cụ thể, một số phụ huynh chưa thực
sự quan tâm đến con em mình còn có quan điểm '' Trăm sự nhờ nhà trường,
nhờ thầy, nhờ cô'' cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập bộ môn.
B. NỘI DUNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH, YÊU CẦU KIẾN THỨC, KỸ NĂNG
CỦA PHẦN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU
1. Nội dung chương trình
Gồm 62 tiết ở học kỳ I và 32 tiết ở học kỳ II bao gồm các từ thuần Việt, Hán
Việt, thành ngữ, tục ngữ phù hợp với chủ điểm học tập của từng đơn vị học.
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC- CHUYÊN NGÀNH GDTH
NGƯỜI VIẾT: NGUYỄN VĂN BƯỜNG
* Các kiểu câu:
+ Câu hỏi.
- Câu hỏi là gì?
- Dùng câu hỏi vào mục đích khác.
- Cách phép lịch sự khi đặt các câu hỏi.
+ Câu kể.
- Câu kể là gì?
Cách dùng câu kể.
- Câu kể Ai là gì?
+ Câu cầu khiến.
- Câu cầu khiến là gì?
- Cách đặt câu cầu khiến.
- Giải pháp khi bày tỏ yêu cầu, đề nghị?
+ Câu cảm.
- Thêm trạng ngữ trong câu.
- Trạng ngữ là gì?
Thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn cho câu.
- Thêm trạng ngữ chỉ thời gian cho câu.
- Thêm trạng ngữ chỉ nguyên nhân, mục đích, phượng tiện trong câu.
* Các dấu câu: dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu 2 chấm, dấu ngoặc kép, dấu
ngoặc đơn.
3. Yêu cầu kỹ năng về từ và câu:
3.1. Từ.
- Nhận biết được cấu tạo của tiếng.
- Đặt câu theo mẫu.
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC- CHUYÊN NGÀNH GDTH
NGƯỜI VIẾT: NGUYỄN VĂN BƯỜNG
- Giải các câu đố có tiếng liên quan đến cấu tạo của tiếng.
- Hướng dẫn giải 1 phần bài tập mẫu. - Chấm chữa - nhận xét -> Chốt KT.
- Học sinh làm bài tập.
- Chữa, chấm nhận xét -> chốt KT.
d. Củng cố -Dặn dò (1-2'). c. Củng cố - Dặn dò (1-2').
I. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
1. Phương pháp vấn đáp:
Phương pháp gợi mở vấn đáp là phương pháp dạy học không trực tiếp đưa ra
những kiến thức đã hoàn chỉnh mà hướng dẫn cho học sinh tư duy từng bước
một để các em tự mình với vốn kiến thức sẵn có, tìm ra kiến thức mới.
Phương pháp gợi mở vấn đáp nhằm tăng cường kĩ năng suy nghĩ sáng tạo
trong quá trình lĩnh hội tri thức và xác định mức độ hiểu bài cũng như kinh
nghiệm đã có của học sinh. Giúp các em hình thành khả năng tự lực tìm tòi
kiến thức. Qua đó học sinh ghi nhớ tốt hơn sâu sắc hơn.
Yêu cầu khi sử dụng giáo viên phải lựa chọn những câu hỏi theo đúng nội
dung bài học, câu hỏi đưa ra phải rõ ràng dễ dàng phù hợp với mọi đối tượng
học sinh trong cùng 1 lớp. Giáo viên dành thời gian cho học sinh suy nghĩ.
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC- CHUYÊN NGÀNH GDTH
NGƯỜI VIẾT: NGUYỄN VĂN BƯỜNG
Sau đó cho học sinh trả lời các em khác nhận xét bổ sung. Phương pháp này
phù hợp với cả 2 loại bài lý thuyết thực hành
VD: Khi dạy bài danh từ (Tuần 5) mục đích của bài là học sinh phải nắm
được danh từ gì - Biết tìm danh từ trừu tượng trong đoạn văn và đặt câu với
danh từ đó. VD:
Mang theo truyện cổ tôi đi
Nghe trong cuộc sống thầm thì tiếng mưa
Con sông chảy có rặng dừa nghiêng soi
Đời cha ông với đời tôi
Như con sông với chân trời dã xa
Chỉ còn truyện cổ thiết tha
Cho tôi nhặt một ông cha của mình.
ứng với các đối tượng học sinh, giáo viên cần chuẩn bị tốt kiến thức để giải
quyết vấn đề mà học sinh đưa ra.
VD: Khi dạy bài mở rộng vốn từ: '' Đồ chơi - trò chơi'' giáo viên đưa ra
một số thành ngữ - tục ngữ sau: ''Chơi với lửa'', ''ở chọn nơi, chơi chọn
bạn'', thích hợp để khuyên bạn.
a. Nếu bạn em chơi với một số bạn hư nên học kém hẳn đi.
b. Nếu bạn em thích trèo lên một chỗ cao chênh vênh, rất nguy hiểm để tỏ
ra mình gan dạ.
Với tình huống (1) các em có thể chọn thành ngữ tục ngữ ''ở chọn nơi, chơi
chọn bạn”. Những với tình huống (2) các em có thể chọn 1 hoặc 2 thành ngữ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC- CHUYÊN NGÀNH GDTH
NGƯỜI VIẾT: NGUYỄN VĂN BƯỜNG
tục ngữ đều được.
* Tóm lại: Với phương pháp này giáo viên nên hiểu rằng trong cùng tình
huống sẽ có thể có nhiều cách giải quyết hay nhất để ứng dụng trong học tập,
trong cuộc sống.
3. Phương pháp trực quan:
Phương pháp trực quan là phương pháp dạy học trong đó có giáo viên sử dụng
các phương pháp nhằm giúp học sinh có biểu tượng đúng về sự vật và thu nhận
được kiến thức, rèn luyện kỹ năng theo nội dung bài học một cách thuận lợi.
Thu hút sự chú ý và giúp học sinh hiểu bài ghi nhớ bài tốt hơn, học sinh có thể
khái quát nội dung bài và phát hiện liên hệ của các đơn vị kiến thức.
Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát theo nội dung cần truyền đạt.
VD: Khi dạy bài ''Đồ chơi - trò chơi'' giáo viên đưa ra 6 bức tranh qua trình
chiếu trong SGK để tìm ra các từ ngữ chỉ tên đồ chơi - trò chơi mà các em được
mở rộng trong bài học.
Bức tranh 1: Học sinh tìm từ đồ chơi: diều -Trò chơi : Thả diều
Bức tranh 2: Từ chỉ đồ chơi: ''dây'', “nồi xoong'', ''búp bê''; ''trò chơi'', '' nấu
ăn'', ''cho bé ăn bột'', ''nhẩy dây''
Bức tranh 3: Từ chỉ đồ chơi: ''dây'' , ''nồi xoong'', ''búp bê''; ''trò chơi'', ''nấu ăn'',
hỏi)
- Giáo viên: Khi đọc câu hỏi phải nhấn mạnh vào ý cần để hỏi.
Qua phân tích của giáo viên, học sinh rút ra đựơc bài học:
1. Câu hỏi (còn gọi là câu nghi vấn) dùng để hỏi về những điều chưa
biết.
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC- CHUYÊN NGÀNH GDTH
NGƯỜI VIẾT: NGUYỄN VĂN BƯỜNG
VD: Bạn đã đọc bài chưa?
VD: Có phải Trái đất quay xung quanh Mặt trời Không?
VD: Chú đất trở thành chú Đất Nung phải không?
VD: Bạn Hoa trở thành học sinh giỏi à?
2. Phần lớn câu hỏi là để hỏi người khác nhưng cũng có những câu để tự
hỏi mình.
VD: Chiếc bút này mình đã mua ở đâu nhỉ?
VD: Vì sao Trái đất lại quay nhỉ?
VD: Thứ mấy là sinh nhất của mình nhỉ?
3. Câu hỏi thường có các từ nghi vấn (có phải, không; phải không, à, )
Khi viết cuối câu hỏi có dấu chấm hỏi (?)
VD: Có phải Trái đất quay xung quanh Mặt trời không?
VD: Chú đất trở thành chú Đất Nung phải không?
VD: Bạn Hoa trở thành học sinh giỏi à?
* Tóm lại: Trên đây là một số phương pháp dạy học mà tôi áp dụng trong
giảng dạy phân môn Luyện từ và câu. Tuy nhiên tôi cũng nhận thấy rằng không
có 1 phương pháp, kĩ thuật dạy học nào là tối ưu. Mỗi phương pháp, kĩ thuật,
hình thức dạy học thường có mặt mạnh - mặt yếu của nó mặt mạnh của phương
pháp này sẽ hỗ trợ cho mặt yếu của phương pháp kia. Cho nên để tránh nhàm
chán cần phối kết hợp nhiều phương pháp, hình thức, kĩ thuật dạy học giảng dạy
phù hợp với nhiều đối tượng học sinh. Có như vậy tiết học mới đạt kết quả cao.
III. Biện pháp thực hiện dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4.
Để có thể thực hiện các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng của phân môn
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC- CHUYÊN NGÀNH GDTH
NGƯỜI VIẾT: NGUYỄN VĂN BƯỜNG
VD: Câu hỏi thể hiện sự nhờ cậy, giúp đỡ.
- Bà cụ hỏi một người đang đứng vớ vẩn trước bến xe: ''Chú có thể xem
giúp tôi bây giờ có xe đi Hà Nội không?
2. Sử dụng linh hoạt nhiều hình thức dạy học trong cùng một tiết dạy.
Đó là các hình thức tổ chức: làm việc cá nhân, trao đổi nhóm, đàm thoại
gây hứng thú cho học sinh tránh nhàm chán đơn điệu.
VD: Khi dạy bài: ''Mở rộng vốn từ ''ước mơ''.
BT2: Học sinh thảo luận nhóm đôi.
Tìm thêm những từ cùng nghĩa với ''ước mơ''.
- 1 em tìm từ bắt đầu từ tiếng ''ước''.
- 1 em tìm từ bắt đầu từ tiếng ''mơ''.
BT3: Nêu yêu cầu chép thêm những từ: đẹp đẽ, viển vông, cao cả, lớn
nho nhỏ, kỳ quặc, dại dột, chính đáng
Học sinh thảo luận nhóm 4.
- Đánh giá cao: ước mơ cao đẹp, ước mơ chính đáng, ước mơ cao cả, ước
mơ lớn.
- Đánh giá không cao: ước mơ bình thường, ước mơ nho nhỏ.
- Đánh giá thấp: ước mơ kỳ quặc, ước mơ dại dột, ước mơ viển vông.
BT4: Nêu VD về 1 loại ước mơ nói trên.
Bài này cho học sinh làm việc cá nhân.
* Tóm lại: Vận dụng linh hoạt các hình thức dạy học sẽ làm cho lớp học
sôi nổi, gây hứng thú cho học sinh.
3. Phát huy tính tích cực của học sinh
Đổi mới phương pháp dạy học là phải phát huy tính tích cực của học sinh
giáo viên cần chú ý đối với mọi đối tượng học sinh phân ra nhiều mức độ (giỏi,
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC- CHUYÊN NGÀNH GDTH
NGƯỜI VIẾT: NGUYỄN VĂN BƯỜNG
khá, TB, kém) để có phương pháp dạy thích hợp. Muốn phát huy được tính tích
câu khác nhau, từ phải gắn với câu, sắp xếp từ ý cho đúng văn cảnh cụ thể.
VD: KHi đọc: ''Thưa chuyện với mẹ”, có các câu hỏi ''Con vừa bảo
gì?'', ''Ai xui con thế?'' học sinh thấy ngay ngoài sự nhận biết về câu hỏi qua
dấu câu học sinh còn nhận biết câu hỏi qua cách đọc câu hỏi.
Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp như các giờ chơi, chào cờ,
các cuộc toạ đàm trao đổi học sinh sẽ tích luỹ được vốn từ cho mình.
VD: Qua bài: ''Mở rộng vốn từ đồ chơi - trò chơi'' các em cũng thấy
được những trò chơi nào có lợi - Những trò chơi có hại, cần tránh. Thông qua
các cuộc toạ đàm trao đổi, các em biết đặt câu hỏi một cách lịch sự, tránh hỏi
trống không hoặc những câu hỏi tò mò thiếu tế nhị. Biết giữ phép lịch sự khi
bày tỏ yêu cầu. đề nghị.
* Tóm lại: Việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp có tác dụng rất
lớn đến việc dạy phân môn Luyện từ và câu giúp các em có thói quen dùng từ
đúng, nói viết thành câu, biết quý biết giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
C. PHẦN KẾT LUẬN
I. KẾT QUẢ
Qua quá trình vừa nghiên cứu chuyên đề vừa áp dụng vào thực tế giảng dạy,
tôi nhận thấy rằng những phương pháp dạy học mà tôi áp dụng đã có những
kết quả đáng mừng.
Kết quả khảo sát lần thứ nhất: Vào cuối tháng 9 với bài ''Từ đơn - Từ ghép''
kết quả thu được như sau:
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC- CHUYÊN NGÀNH GDTH
NGƯỜI VIẾT: NGUYỄN VĂN BƯỜNG
Lớp Sĩ số
Xếp loại
Giỏi Khá TB Yếu
4A 26 3 5 12 6
4B 25 3 5 10 7
Tổng số 51 6 10 22 13
Sau khi KT khảo sát chất lượng học sinh TB và yếu còn nhiều và số học sinh
những hướng dẫn cụ thể về mục tiêu cần đạt. Tuỳ theo đặc điểm của từng bài
học mà xây dựng kế hoạch bài giảng cho phù hợp. Song dù thế nào cũng cần có
đầy đủ các hoạt động lớp và tổ chức các hoạt động đó.
3. Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học:
Giáo viên nắm vững các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học, để lựa
chọn phối hợp linh hoạt các phương pháp và hình thức cho phù hợp với nội
dung của bài dạy và chủ điểm của bài học đó.
4. Tổ chức hoạt động lên lớp:
Giáo viên cần khéo léo sử dụng linh hoạt các phương pháp, các hình thức tổ
chức dạy học.
Các hoạt động của tiết dạy không tách rời nhau, mà phải có sự đan xen liên
kết và hỗ trợ lẫn nhau.
Bên cạnh đó giáo viên cần phải có dự kiến về các câu trả lời của học sinh và
các tình huống sư phạm xảy ra trong mỗi hoạt động, có biện pháp giải quyết và
điều chỉnh kịp thời.
5. Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học:
Giáo viên có thể vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học theo nhóm,
dạy học cá nhân, có thể tổ chức học sinh dưới hình thức trò chơi để kích thích
sự hứng thú học tập của học sinh, nhằm đạt kết quả cao trong giờ học mà học
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC- CHUYÊN NGÀNH GDTH
NGƯỜI VIẾT: NGUYỄN VĂN BƯỜNG
học sinh không nhàm chán.
Trong quá trình thực hiện chuyên đề: ''Nâng cao chất lượng giảng dạy phân
môn Luyện từ và câu ở lớp 4 '' Tôi đã tham khảo các tài liệu dạy học của phân
môn cũng như học hỏi kinh nghiệm từ bạn bè đồng nghiệp, áp dụng phương
pháp- hình thức, kĩ thuật DHTC mà dự án PLAN, SEQAP tài trợ, chuyên đề đã
hoàn thành và đã dạy thực nghiệm ở tất cả các khối 4. Những chuyên đề của tôi
cũng không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến
của các đồng chí lãnh đạo cũng như các bạn bè đồng nghiệp để chuyên đề của tôi
có tính khả thi hơn.
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC- CHUYÊN NGÀNH GDTH
NGƯỜI VIẾT: NGUYỄN VĂN BƯỜNG