ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN
TÊN ĐỀ TÀI:
'ỈGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM Tổ CHỨC sử DỤNG ĐẤT CỦA MỘT s ố
• • •
HÔ HÌNH KINH TẼ TRANG TRẠI KHU v ự c MlỂN NÚI PHỤC v ụ
PHÁT TRIỂN KINH TÊ NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN
(LẤY VÍ DỤ TẠI HUYỆN BẤC HÀ, TỈNH LÀO CAI)
MÃ SỐ: QT - 01 - 48
CHỦ TRÌ ĐÊ TÀI: ThS. THÁI THỊ QUỲNH NHƯ
GVC. NGUYỄN ĐỨC KHẢ
HÀ NÔI. 2005
1
TÊN ĐỂ TÀI:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM T ổ CHỨC sử DỤNG ĐẴT CỦA MỘT s ố MÔ
HÌNH KINH TẾ TRANG TRẠI KHU v ự c MIEN n ú i p h ụ c v ụ p h á t
TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN
(LÂY VÍ DỤ TẠI HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI)
Mã số: QT - 01 - 48
Chủ trì đề tài: ThS. Thái Thị Quỳnh Như
GVC. Nguyễn Đức Khả
Cán bộ phối hợp: TS. Trần Vãn Tuấn
TS. Trần Quốc Bình
ThS. Vũ Thị Hoa
ThS. Phạm Thị Phin
CN. Lê Thị Hồng
HÀ NỘI, 2005
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN
2
BÁO CÁO TÓM TẮT
- Một báo cáo tổng hợp.
). Tình hình kinh phí của đề tài
Tổng kinh phí: 17.000.000 đ. Thực hiện trong ba năm: 2000 - 2003. Đã quyết toán xong
với tài vụ.
>CÁC NHÂN CỦA BAN CHỦ NHIÊM KHOA ĐồN G CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI
XÁC NHẬN CỦA TRUỒNG
4
SUMMARY
1. Project title: Studying characteristics land use organizing of farm economic models
mountainous area for rural economic development of Vietnam (case study: Laocai
province).
2. Project coordinators: MSc. Thai Thi Quynh Nhu,
Sen. Lee. Nguyen Due Kha
3. Co-operative officials:
Dr. Tran Van Tuan
Dr. Tran Quoc Binh
MSc. Vu Thi Hoa
MSc. Pham Thi Phin
BSc. Le Thi Hong
4. Objectives and contents
4.1. Objectives
- Analysing and assessing the development of farm economics in Vietnam
- Assessing the development of farm economics in Laocai Province, particularly in Bac
Ha District.
- Classifying farm economic models in Bac Ha District based on land-use characteristics.
- Suggesting some solutions for improving the development of farm economics in
mountainous areas of Vietnam.
4.2. Contents
- The process of formation and development of farm economics in Vietnam.
- The role and position of farm economics in the economic development process in the
1.2.1. Các trang trại thời Lý - Trần
21
1.2.2. Các loại đồn điền phong k iến 22
1.2.3. Các đồn điền thời Pháp 22
1.2.4. Các nông-lam trường quốc doanh sau Cách mạng Tháng 8
23
1.3. Đánh giá quá trình phát triển trang trại ở Việt Nam sau năm 1993
24
1.4. Vai trò và vị trí của trang trại trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc doanh ở giai
đoạn công nghiệp hóa 36
Chương 2: Nghiên cứu kinh tẻ trang trại khu vực miền núi 41
2.1. Những đặc trưng cơ bản của các mô hình trang trại miền núi
41
2.2. Hiện trạng các mô hình trang trại tỉnh Lào C ai 43
2.3. Các yếu tố sản xuất cơ bản của kinh tế trang trại Lào Cai trong tương quan với các khu
vực miền núi ở nước ta 46
7
2.3.1. Đất đai 46
2.3.2. Vốn và nguồn vốn 47
2.3.3. Lao động 48
Chương 3: Nghiên cứu tổ chức sử dụng đất trong mô hình trang trại huyện Bắc H à . 50
3.1. Điều kiện Tự nhiên - Kinh tế - Xã hội 50
3.1.1. Vị trí địa lý 50
3.1.2. Địa hình 50
3.1.3. Khí hậu, thủy văn 50
3.1.4. Tài nguyên rừng và khoáng sản 52
3.1.5. Tài nguyên du lịch và nhân văn 52
3.1.6. Đánh giá chung 53
chế độ và thẩm quyển quản lý, trình độ quy hoạch mà trước hết là quy hoạch sử dụng đất đến
cả các vấn đề cụ thể như lao động, tiền vốn, hiệu quả sử dụng đất, trình độ, năng lực liên kết
của chủ trang trại,
Việc nghiên cứu sử dụng đất của một số mô hình KTTT ở khu vực miền núi là một cách
tiếp cận để phát hiện các bất hợp lý, các bất cập ở cả các điều kiện khách quan và chủ quan,
nhằm hướng tới sự phát triển KTTT đạt hiệu quả cao, đúng hướng và đáp ứng được các tiêu
chí chính của sản xuất nông nghiệp hàng hóa trong nền kinh tế thị trường ở giai đoạn công
nghiệp hóa. Đề tài cấp Đại học Quốc gia “Nghiên cứu đặc điểm tổ chức sử dụng đất của một
số mô hình kinh tế trang trại khu vực miền núi phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp - nông
thôn” được chọn lấy thí dụ ở một huyện miền núi phía Bắc, xa và khó khăn là huyện Bắc Hà,
tỉnh Lào Cai là nhằm góp phần vạch ra một số đặc trưng trong sử dụng đất của các trang trại
9
miền núi và góp phần tìm các giải pháp hiệu quả để tiếp tục phát triển KTTT. Sau nhiều năm
nỗ lực, đề tài đã được hoàn thành với báo cáo tổng hợp được cơ cấu thành 3 chương chính:
Chương 1: Vai trò và nhiệm vụ của trang trại trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc
Chương 2: Nghiên cứu kinh tế trang trại khu vực miền núi.
Chương 3: Nghiên cứu tổ chức sử dụng đất trong các mô hình KTTT huyện Bắc Hà.
Do điều kiện khó khăn chung của các đề tài khoa học triển khai ở miền núi, do nguồn
kinh phí hạn chế, do nguồn tài liệu điều tra và thống kê thiếu, không đồng bộ, nhóm tác giả
thực hiện để tài đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình hoàn chinh báo cáo. Mặc dù đã rất
nỗ lực, cố gắng, song báo cáo chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết, nhóm tác giả rất mong
nhận được sự phê bình đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý và các đồng
nghiệp.
Nhóm tác giả xin được bầy tỏ lòng biết ơn tới Ban Khoa học và Công nghệ Đại học Quốc
gia, phòng Khoa học - Công nghệ trường ĐHKHTN, Khoa Địa lý, UBND huyện Bắc Hà,
phòng Khoa học - Công nghệ và phòng Tài nguyên - Môi trường huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
và đông đảo các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành báo cáo này.
Hà Nội, tháng 05 năm 2005
CÁC TÁC GIẢ
10
trại” và “kinh tế trang trại”. Kinh tế trang trại là nói đến mặt kinh tế của trang trại, là
tổng thể các yếu tố vật chất của sản xuất và các quan hệ kinh tế nẩy sinh trong quá trình
tồn tại và hoạt động của trang trại; còn trang trại là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của
sản xuất và là chủ thể của các mối quan hệ kinh tế đó. Hay nói một cách khác khái niệm
về trang trại rộng hơn khái niệm về kinh tế trang trại.
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở vì trang trại là đơn vị trực tiếp sản xuất
ra những sản phẩm vật chất cần thiết cho xã hội bao gồm nông, lâm, thuỷ sản, đồng thời
quá trình kinh tế trong trang trại cũng là quá trình khép kín với các khâu của quá trình tái
sản xuất luôn kế tiếp nhau, bao gồm: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng.
Các học giả trên thế giới khi nghiên cứư về kinh tế trang trại đã đưa ra những quan
điểm sau đây:
Các Mác đã so sánh và phân biệt: Người chủ trang trại bán ra thị trường hầu hết sản
phẩm làm ra , còn người tiểu nông thì tự dùng đại bộ phẩm sản phẩm sản xuất được, mua
bán càng ít càng tôt.
Ông cũng cho rằng trong sản xuất nông nghiệp, mô hình kinh tế trang trại có vai trò
hết sức quan trọng và thường mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn: “ Ngay ở nước Anh với
nền công nghiệp phát triển, hình thức sản xuất có lợi nhất không phải là các xí nghiệp
nông nghiệp quy mô lớn mà là các trang trại gia đình dùng lao động làm thuê” [13 ].
Theo tác giả Phạm Minh Đức (1997): “Trang trại là một loại hình sản xuất nông
nghiệp hàng hoá của hộ, do một người chủ hộ có khả năng đón nhận những cơ hội thuận
lợi, từ đó huy động thêm vốn và lao động, trang bị tư liệu sản xuất, lựa chọn công nghệ
sản xuất thích hợp, tiến hành tổ chức sản xuất và dịch vụ những sản phẩm theo yêu cầu
của thị trường nhằm thu được những lợi nhuận cao” [11 ].
12
Trần Đức (1998) cho rằng: “Trang trại là chủ lực của tổ chức là nông nghiệp của các
nước tư bản cũng như các nước đang phát triển và theo các nhà khoa học khẳng định đó
là tổ chức sản xuất kinh doanh của nhiều nước trên thế giới trong thập kỷ 21” [ 12 ].
Nguyền Thế Nhã (1999): “Trang trại là một hình thức sản xuất cơ sở trong nông,
lâm, ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền
sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy
Trong điều kiện kinh tế thị trường, trang trại mang đầy đủ và thể hiện rõ nét những
đặc điểm nêu trong khái niệm trên. Tuy nhiên ở mỗi nước trong giai đoạn cụ thể, tuỳ theo
điều kiện và trình độ phát triển mà những đặc điểm trên có thể biểu hiện ở những mức độ
khác nhau. Ở nước ta nền kinh tế nói chung, kinh tế nông nghiệp nói riêng đang trong
giai đoạn chuyển từ tự cung tự cấp sang trình độ sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị
trường. Do vậy các đặc điểm của trang trại nêu trên cũng chưa được thể hiện rõ nét như ở
các nước có trình độ sản xuất hàng hoá cao trong sản xuất nông nghiệp.
1.1.2. Các mô hình kinh tế trang trại
Việc phân loại các loại hình trang trại phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khác nhau có
mang tính chất quyết định đến hướng phát triển và quy mô của trang trại, qua nghiên cứu
thực tế các nhà khoa học đã dựa trên các tiêu chí sau để phân loại trang trại:
- Phân loại theo cơ cấu thu nhập: là hình thức phổ biến thường được phân biệt theo
thu nhập từ nông, lâm nghiệp là chủ yếu (trang trại thuần nông)
- Phân loại theo cơ cấu sử dụng đất đai: Cơ cấu sản xuất được xác định căn cứ vào
điều kiện tự nhiên, trình độ sản xuất và đặc điểm thị trường của từng khu vực. Theo cách
phân loại này, có nhiều trang trại khác nhau mang tính chất kinh doanh tổng hợp: kết hợp
nông nghiệp với tiểu thủ công nghiệp (các nước châu Á), nông nghiệp kết hợp với lâm
nghiệp (các nước châu Âu), ơ các nước mà nông nghiệp phát triển đến trình độ cao như
Mỹ, Pháp, Anh, Đức thì cơ cấu sản xuất theo hướng chuyên môn hoá trong trồng trọt,
chăn nuôi và cảnh quan sinh thái du lịch.
14
- Phân loại theo hình thức quản lý: Phân theo loại này có trang trại gia đình, trang
trại liên doanh và trang trại hợp doanh kiểu cổ phần.
- Phân loại theo hình thức sở hữu tư liệu sản xuất: đặc trưng chủ yếu của cách
phân loại này là: người chủ trang trại có sở hữu toàn bộ hay 1 phần số tư liệu sản xuất từ
đất đai, công cụ máy móc, lao động thường được xuất hiện ở Mỹ, Nhật.
- Phân loại theo phương thức điều hành sản xuất: Đối với các nước có diện tích
trang trại và quy mô sản xuất nhỏ thì chủ trang trại phần lớn là người trực tiếp quản lý, điều
hành các công việc của trang trại gắn liền với nông thôn, gia đình. Nhưng ở một số nước có
nền nông nghiệp phát triển người chủ và gia đình không ở trong trang trại nhưng vẫn trực
dụng hình thức cổ phần hoá mà cổ đông chính là nhân viên của nông trường, việc thuê
đất của nông trường được áp dụng theo luật đất đai về thời hạn và các quy định khác.
Nông trường có trách nhiệm đầu tư về giống, kỹ thuật và đầu ra cho sản phẩm còn các cổ
đông thì chụi trách nhiệm về mặt chăm sóc theo đúng yêu cầu của các nhà chuyên môn.
- Trang trại uỷ thác: Là loại hình mà chủ trang trại uỷ quyền sử dụng cho người
khác theo từng vụ hay liên tục trong nhiều vụ khi họ trong một thời gian nào đó không có
nhu cầu kinh doanh loại hình này mà vẫn muốn bảo toàn về đất đai và các cơ sở hạ tầng
khác. Đây cũng là một biện pháp tích cực vừa chống lãng phí đất, vừa có thể tạo thành
những trang trại lớn mở rộng quy mô sản xuất.
Đặc điểm cơ bản của sản xuất nông nghiệp khác với sản xuất công nghiệp là nó tác
động vào sinh vật, bị phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, gặp nhiều rủi ro, do đó không phù
hợp với hình thức sản xuất tập trung, quy mô lớn và việc sử dụng lao động tập trung chỉ
đem lại hiệu quả kinh tế thấp. Hiệu quả kinh tế của các mô hình trang trại trên thế giới và
ở Việt Nam chứng minh rằng kinh doanh trang trại gia đình chiếm tỷ trọng lớn tuyệt đối
về đất canh tác cũng như khối lượng nông sản sản xuất ra.
Các loại hình trang trại ở trên ngoài sự khác biệt về tính chất và quy mô sở hữu, còn
có sự khác nhau về tính chất và quy mô sử dụng lao động. Trong quá trình xây dựng và
phát triển nền kinh tế thị trường tất cả các loại hình trang trại trên đều cần được khuyến
16
khích phát triển ở nước ta, tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay cần ưu tiên phát triển kinh
tế trang trại gia đình hơn vì ở nước ta loại hình trang trại này là loại hình chủ yếu trong
nông nghiệp, lại gần gũi với kinh tế nông hộ và là một con đường quan trọng để đưa kinh
tế nông hộ nước ta đi lên sản xuất hàng hoá và góp phần tích cực vào sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trong quá trình tiến lên của trang trại gia đình, nó không đối lập với kinh tế hợp tác
và kinh tế nhà nước; ngược lại, nó đòi hỏi phải tham gia vào quá trình hợp tác sản xuất
bằng những hình thức phong phú và đa dạng, thực hiện liên kết, liên doanh giữa các tổ
chức kinh tế nhằm tăng thêm năng lực sản xuất của bản thân. Điều đó nói lên tính chất
mềm dẻo của kinh tế trang trại có khả năng dung nạp các hình thức sở hữu khác nhau (từ
cá thể, đến tập thể và quốc doanh), các quy mô sản xuất khác nhau (từ nhỏ đến lớn), các
vùng này có xu hướng phát triển nhiêu mô hình trang trại nuôi trồng thuỷ sản nước mặn,
nước lợ cho thu nhập rất cao có thị trường tiêu thụ rất lớn cả trong nước và xuất khẩu.
Đối với vùng đồi núi\ Vùng này thường có diện tích đất rộng, tỷ lệ đất lâm nghiệp lớn,
vì vậy các trang tại lâm nghiệp, chăn nuôi và cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm phát
triển rất nhanh. Diện tích các trang trại cây lâm nghiệp và cây công nghiệp thường lớn,
các trang trại cây ăn quả có diện tích nhỏ hơn nhưng thường lại cho thu nhập cao hơn.
Trong những năm gần đây, một loại mô hình trang trại mới xuất hiện tại những khu vực
có cảnh quan đẹp, hoặc khí hậu ôn hoà có khả năng phát triển du lịch sinh thái nên một
số trang trại thường phát triển theo hướng vườn cây kết hợp với du lịch sinh thái.
1.1.4. Trang trại ở một số nước trên th ế giới
Trên thế giới, trang trại đã được hình thành và phát triển từ hơn 2 thế kỷ nay và
giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia. Tuy nhiên, tuỳ điều kịên
và đặc điểm của từng nước mà số lượng và quy mô của các trang trại có sự khác nhau.
Qua nghiên cứu có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm về phát triển kinh tế trang trại
trên thế giới như sau:
* Thời kỳ bắt đầu công nghiệp hoá số lượng trang trại nhiều, quy mô nhỏ, khi
công nghiệp phát triển đến trình độ cao thì số lượng trang trại giảm nhưng quy mô lại
tăng. Trang trại có thể và có điều kiện phát triển ở hầu hết các lĩnh vực sản xuất nông,
lâm, ngư nghiệp và ở tất cả các vùng khác nhau của lãnh thổ như đổi núi, đổng bằng, ven
biển ở hầu hết các nước, trang trại là hình thức tổ chức sản xuất giữ vị trí xung kích
18
trong qua trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn và trở thành lực lượng chủ lực
khi nền kinh tế phát triển đến giai đoạn cao.
* Trang trại có thể phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau như tư bản tư nhân,
cổ phần, liên doanh, uỷ thác , tuy nhiên trang trại gia đình vẫn là loại hình thức thích
hợp, phổ biến nhất (trang trại gia đình chiếm tới 80-90% tổng số trang trại trên thế giới).
* Hầu hết các trang trại đều sử dụng lao động gia đình là chủ yếu, ngoài ra còn có
thể thuê mướn thêm lao động bên ngoài theo yêu cầu của sản xuất kinh doanh.
* Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại không hoàn toàn phụ thuộc vào
quy mô đất đai, lao động vì năng xuất, chất lượng của sản phẩm còn chịu ảnh hưởng rất
0,20 %
Hàn Quốc
1953
1979
Số trang trại 2.249.000 1.172.000
u 0,7 %
Quy mô (ha) 0,86 1,20
ữ
0,9 %
19
Bảng 2. Số lượng, diện tích và quy mô trang trại tại một số nước châu Âu
Mỹ
1950
1960
1970 1992
tăng, giảm % năm
Số trang trại
5.648.000
3.962.000 2.954.000 1.925.000
u 2,6 %
Quy mô (ha)
86
120 151
198,7
fĩ 2 %
Anh
1950
1987
Số trang trại
453.000
1.925.000 trang trại năm 1992 nhưng diện tích lại tăng từ 86 ha năm 1950 lên 198,7 ha
năm 1992. Các nước khác như Anh, Pháp, Đức, Hà Lan thì xu hướng phát triển cũng
tương tự, số lượng trang trại giảm trong vòng 50 năm qua ở mức 2,6 - 2,1 %/ năm và
diện tích tăng ở mức 2%/ năm. Tuy số lượng giảm nhưng kinh tế trang trại tại những
nước này cũng góp phần không nhỏ trong nguồn thu của kinh tế Quốc dân.
Tuy là nước ở châu Á, diện tích đất nhỏ nhưng Nhật Bản là nước có kinh tế trang trại
phát triển vào bậc nhất châu Á 6.176.000 năm 1950 và 3.691.000 năm 1993, giảm 2,1%,
diện tích đất trung bình trong mỗi trang trại cũng tuân theo quy luật chung 0,8 ha/ trang
trại năm 1950 và 1,38 ha/ trang trại năm 1993 tăng 1,3%. Đài Loan và Hàn Quốc là 2
20
nước có diện tích bình quân mỗi trang trại không lớn vì diộn tích đất tự nhiên nhỏ, vì vậy
tuy số lượng trang trại giảm từ 744.000 trang trại năm 1955 xuống 739.000 năm 1988 ở
Đài Loan và từ 2.249.000 trang trại năm 1953 xuống 1.172.000 ở Hàn Quốc nhưng quy
mô mỗi trang trại cũng không tăng nhiều lắm 0,20 % ở Đài Loan và 0,90 % tại Hàn
Quốc.
1.2. Nghiên cứu quá trình hỉnh thành trang trại ở Việt Nam
Ở Viột Nam các điền trang, thái ấp đã xuất hiện từ thời Lý - Trần, đến các đồn điền
thời Lê, thời Nguyễn và thời Pháp thuộc. Các ấp trại và các nông, lâm trường quốc doanh
của Việt Nam dân chủ cộng hoà, các hợp tác xã từ đầu thập kỷ 60 đến cuối thập kỷ 80,
ngoài ra còn phải kể đến các hộ kinh tế tiểu nông mà thời nào cũng có.
1.2.1. Các trang trại thời Lý -Trần
Nhà Lý rồi tiếp đến nhà Trần đã đóng vai trò tích cực trong lịch sử nước ta, nhiều chủ
chương, chính sách kinh tế như bán công điền thành tư điền, ban cấp thái ấp, cho phép
vương hầu, tôn thất lập điền trang Đ ều có ý nghĩa qua trọng trong việc xác lập nhanh
chóng các thế lực qúi tộc và địa chủ phong kiến.
Chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất là cơ sở kinh tế cho chế độ chuyên chế tập trung
dưới thời Lý - Trần. Bên cạnh ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước, do nhà nước trực tiếp
quản lý, còn có ruộng đất công của làng xã, loại này cũng thuộc sỏ hữu của Nhà nước
(đồng sở hữu). Làng xã lúc bấy giờ có nhiều ruộng công, năm 1254, triều đình ra lệnh
công khai bán ruộng công thành ruộng tư. Ruộng đất tư nhân thường có thái ấp, điền
chính vì tinh thần chiến đấu của các dân đồn điền mà thực dân Pháp đã ra lệnh bãi bỏ chế
độ đồn điền kể từ 20-9-1867
l .2.3. Các đồn điền thời Pháp
ở nước ta trong thời kỳ thuộc Pháp, các đồn điền phong kiến dựa trên sở hữu Nhà
nước bị bãi bỏ, thực dân Pháp chủ trương phát triển các đồn điền dựa trên sở hữu Tư bản
tư nhân. Có 2 loại đồn điền: Loại trồng lúa và loại trồng cây công nghiệp.
22
Năm 1930, tổng diện tích đồn điền trồng lúa là 28,5 vạn ha, chủ đồn điền dùng hình
thức phát canh thu tô cho chính những hộ nông dân mà chúng đã cướp đoạt ruộng đất của
họ. Thời kỳ này phương thức canh tác còn lạc hậu, nông cụ thô sơ, ruộng đất còn manh
mún vì vậy thu nhập từ trang trại trồng lúa không cao. Những đồn điền trồng cây công
nghiệp tại các vùng đất xám và đỏ thuộc miền Đông Nam Kỳ phát triển tương đối nhanh,
bọn chủ đồn điền đưa vào hệ thống canh tác một số cây trồng mới, bắt đầu dùng máy
móc và một số hệ thống canh tác tiến bộ, về kỹ thuật và chế biến sản phẩm. Tuy nhiên
với thủ đoạn chủ yếu để bòn rút lợi nhuận tối đa và chế độ thi hành lao động khổ sai đối
với hàng vạn phu đồn điền, vì thế sản lượng chỉ bằng 1,2% giá trị sản lượng lúa. Chăn
nuôi cũng được chú ý nhằm tăng sức kéo, thực phẩm và phân bón.
Nhưng trong bối cảnh của nền sản xuất lúc bấy giờ đường lối của thực dân Pháp trước
sau vẫn không thay đổi là sử dụng giai cấp địa chủ phong kiến làm chỗ dựa cho chế độ
thuộc địa, các chế độ bóc lột đa dạng làm cho nông dân lao động ngày càng bị phá sản ,
ruộng đất ngày càng tập trung vào tay địa chủ. Cho đến trước cách mạng tháng Tám năm
1945, giai cấp địa chủ chỉ bằng 9% số chủ ruộng của cả nước nhưng lại chiếm trên 50%
diện tích đất canh tác.
1.2.4. Các nông, lâm trường quốc doanh sau Cách mạng Tháng Tám
Từ Cách mạng Tháng 8 - 1945 đến năm 1975: ở miền Nam các loại đồn điền Tư bản
thực dân tồn tại ở những vùng địch tạm chiếm. Ở vùng giải phóng đồn điền của thưc dân
Pháp và địa chủ phản động được đem chia cho nông dân không ruộng và chuyển một số
thành cơ sở sản xuất nông nghiệp của Nhà nước.
Sau giải phóng miền Nam, những đồn điền trang trại kiểu TBCN đã được Nhà nước
tịch thu và chuyển thành những nông trường Quốc doanh. Tuy nhiên việc áp dụng mô
520 gia đình nông nghiệp. Tuy nhiên việc áp dụng các mô hình xây dựng nền kinh tế nồng
nghiệp mang nặng tính kế hoạch, tập trung - chỉ có 2 hình thức chủ yếu là nông trường
Quốc doanh và hợp tác xã nông nghiệp nên đã bộc lộ những khiếm khuyết sau:
1. Tiền công lao động được tính theo ngày công lao động chứ không được tính theo
sản phẩm, vì vậy không thúc đẩy được năng xuất lao động.
24
2. Trình độ lãnh đạo yếu kém đã gây ra nhiều sai lệch trong quản lý cũng như chỉ đạo
sản xuất dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.
3. Việc cho người dân thuê đất trong thời gian ngắn đã kiến mức đầu tư cho đất kém
ngược lai người dân sử dụng đất với mục đích “vắt kiệt” độ phì của đất làm cho đất
nhanh bạc mầu và thoái hoá.
Để khắc phục những nhược điểm của nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, từ đại
hội VI (12/1986) với mục tiêu “nền kinh tế nhiều thành phần” và “gia đình xã viên trở
thành những đơn vị kinh tế tự chủ” nhà nước đã tiến hành một loạt những thay đổi về sử
dụng đất mà cụ thể là một số những văn bản sau có liên quan đến quá trình sủ dụng đất
nói chung và sử dụng đất trong mô hình trang trại nói riêng:
+ Nghị quyết sô' 10-NQ/TƯ ngày 5/4/1988 của Bộ Chính Trị về “Đổi mới quản lý
kinh tế nông nghiệp”
+ Luật đất đai được thông qua ngày 14/7/1993
+ Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của CP ban hành “Quy định về việc giao
đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất
nông nghiệp”.
+ Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 10/7/1993.
+ Nghị định số 74/ CP ngày 25/10/1993 của Chính phủ “Quy định chi tiết thi hành
luật thuế sử dụng đất nông nghiệp”.
+ Luật sửa đổi, bổ xung một số điều của luật đất đai được quốc hội thông qua
ngày 02/12/1998.
+ Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28/8/1999 của CP về sử đổi, bổứung một số
điều của bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn
định, lâu dài và mục đích sản xuất nông nghiệp.