SKKN Rèn kĩ năng nói cho HS lớp 2 qua phân môn Tập làm văn - Pdf 26

Rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2
qua phân môn tập làm văn
A- Phần mở đầu :
Tiếng Việt là môn học quan trọng trong chơng trình giảng dạy bậc Tiểu
học. Đây là môn học cung cấ cho học sinh những cơ sở ban đầu làm công cụ để
khám phá các môn học khác. Bên cạnh đó, môn Tiếng Việt còn có nhiệm vụ
rèn cho học sinh kỹ năng thực hành ngôn ngữ, ptt duy văn học cho các em. Có
thể nói Tiếng Việt là môn học chìa khoá giúp học sinh mở kho tàng kiến thức ở
Tiểu học nói riêng và cả quá trình nhận thức nói chung.
Là một phân môn của Tiếng Việt, Tập làm văn có vị trí đặc biệt quan trọng.
Đó là phân môn mang tính chất thực hành tổng hợp các kiến thức từ các phân
môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu Bài Tập làm văn là kết tinh nhiều
mặt của năng lực sử dụng Tiếng Việt.
Từ năm học 2003- 2004, Bộ GD-ĐT đã chính thức triển khai đại trà chơng
trình sách giáo khoa mới lớp 2 trên toàn quốc. Chơng trình dạy học Tập làm văn
ở lớp 2 cũng đã có những thay đổi đáng kể nhằm đáp ứng yêu cầu của đất nớc
trong thời kỳ đổi mới.
Một trong những điểm đổi mới cơ bản nhất của chơng trình tập làm văn lớp
2 là việc rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh không chỉ đơn thuần là hình thức
yêu cầu các em trả lời miệng các câu hỏi về bài Tập đọc nh trớc đây.
Trái lại, Tập làm văn 2 dạy các em thực hiện nghi thức lời nói gắn với tình
guống giao tiếp hàng ngày. Bên cạnh đó, học Tập làm van là học sinh lớp 2 bắt
đầu học kỹ năng tạo lập văn bản nói và viết, kỹ năng kể tả đơn giản về những sự
vật gần gũi, gắn bó với đời sống các em. Chính điểm đổi mới này đã tạo điều
kiện phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong việc rèn kỹ
năng kể tả đơn giản về những sự vật gần gũi, gắn bó với đời sống các em. Chính
điểm đỏi mới này đã tạo điều kiện phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của
học sinh trong việc rèn kỹ năng nói và viết.
Nh vậy là chơng trình dạy Tập làm văn lớp2 hienẹ nay so với trớc đây có
nhiều đổi mới đòi hỏi mỗi giáo viên Tiểu học phải t duy sáng tạo, vận dụng linh
hoạt các phơng pháp dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu về đổi mới nội dung dạy

kiến bổ sung, nhận xét .
b- Trau dồi thái độ ứng xử có văn hoá, tinh thần trách nhiệm trong công
việc, bồi dỡng những tình cảm lành mạnh tốt đẹp qua nội dung bài dạy .
2- Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh :
Trẻ em những lớp đầu cấp Tiểu học khi quan sát đối tợng thờng bị thu hút
bởi các chi tiết ngẫu nhieen, khả năng tổng hợp quan sát kém. Tri giác của các
em còn đợm màu sắc cãmúc. Việc tri giác đối tợng chủ yếu căn cứ vào những
dấu hiệu bề ngoài không bản chất, cha chú ý đến những dấu hiệu chung để khái
quát hoá. Bên cạnh đó khả năng tập trung chú ý của trẻ không bền vững, chóng
chán. Sở dĩ còn hiện tợng trên là do vốn sống của các em còn ít ỏi, vốn ngôn ngữ
còn hạn chế, khả năng t duy trừu tợng cha cao.
Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lứa tuổi học sinh, đòi hỏi sự t duy sáng tạo,
nhạy bén của giáo viên trong việc lựa chọn phơng pháp, hình thức tổ chức dạy
học .
2
II- Cơ sở thực tiễn :
1- Những thuận lợi - khó khăn cơ bản :
a- Thuận lợi:
- Bộ sách Tiếng Việt chơng trình Tiểu học 2000 đã biên soạn các bài Tập
làm văn theo quan điểm giao tiếp. các bài tập chủ yếu ở dạng tình huống mà học
sinh cần giải quyết. Các tình huống này là những vấn đề gần gũi với học sinh và
đều là tình huống mở, tạo điều kiện cho giáo viên khơi gợi đợc sự sáng tạo của
học sinh .
- Mỗi dạng bài tập đều có những câu mẫu giúp học sinh định hớng khi làm
bài tập.
b- Khó khăn:
Học sinh lớp 2H do tôi làm chủ nhiệm năm học 2004- 2005 đều là con em
nông dân. Bố mẹ các em rất bận rộn , ít có thời gian quan tâm đến việc rèn cho
con kỹ năng nói . Qua tiếp xúc, tôi thấy các em phần đa là niói rụt rè hoặc đáp
lại lời ngời khác một cách trống không .

Đây là một việc rất quan trọng, góp phần đáng kể cho thành công của bài giảng.
Để giúp học sinh rèn kỹ năng nói, việc xác định mục tiêu đợc cụ thẻ hoá qua
việc xác định yêucầu của bài tập tình huống. Việc àm này chẳng những giúp
giáo viên định hớng các khả năng, các phơng án giải quyết mà còn giú giáo viên
chuẩn bị tranh ảnh, đồ dùng dạy học cần thiết phcụ vụ cho các bài tập tình
huống đó. Từ việc dự kiến trớc, giáo viên có thể định hớng cho học sinh thực
hành tốt các bài tập nhận thấy đợc những sai sót cần khắc phục, bổ sung các ph-
ơng án khác nhau. Việc làm này khiến cho cách giải quyết tình huống trở nên
phong phú.
Ví dụ: Khi dạy bài: " Đáp lời chào, lời tự giới thiệu"
( Tập làm văn 2 - tuần 19) .
Với bài tập 1: Theo am các bạn trong 2 tranh dới đây đáp lại thế nào?
Chị phụ trách sao:
1- Chào các em
2- Chị tên là Hơng, chị đợc cử phụ trách sao của các em.
Để giúp học sinh làm tốt bài tập này, tôi đã đọc và xác định rõ yêu caùa;
Học sinh cần thể hiện đợc lời các nhân vật trong tranh với thái độ, cử chỉ phù
hợp.
Chị hụ trách sao: Giọng nhẹ nhàng, lịch sự, nét mặt tơi cời.
Các em nhỏ: Đáp lại với thái độ lịch sự, lễ độ, vui vẻ.
Sau khi xác định rõ yêu cầu của bài, tôi đã chuẩn bị 2 bức tranh phóng to
treo lêbn bảng. Tôi hớng dẫn học sinh nắm vững nội dung tình huống qua các
câu hỏi:
- Trong tranh có những ai? Họ đang làm gì?
- Đọc thầm lời của chị phụ trách sao, suy nghĩ xem chị phụ trách sao nói
với thái độ thế nào? Các em nhỏ sẽ đáp lại ra sao?
Tiếp đó các em sẽ thoả luận nhóm 5 và sắm vai theo tình huống. Do xác
định đúng yêu cầu, giáo viên đã chuẩn bị và có sự định hớng đúng nên đại đa số
các nhóm học sinh lên thực hành đều có thái độ, cử chỉ phù hợp, lời đáp của các
em cũng rất sáng tạo, giáo viên không mất thời gian sửa chữa uốn nắn nhiều.

trong chơng trình Tập làm văn lớp 2 có những yêu cầu cụ thể khác nhau song
tựu chung lại chúng đều nhằm mục đích rèn kỹ năng nghe cho học sinh. Làm tốt
khâu hớng dẫn học sinh xác địng yêu cầu bài tập chính là ngời giáo viên đã góp
phần rèn luyện và phát triển thao tác t duy cho trẻ, giúp cho quá trình luyện nói
đúng hớng và có trọng tâm hơn.
2- Phát huy vốn sống của học sinh qua thực tế giao tiếp:
5
Nh trên đã trình bày, việc rèn kỹ năng nói đợc gắn liền với thực tế cuộc
sống. Từ khi cha đi học, các em đã đợc tiếp xúc với những ngời trong gia đình
bằng những câu chào hỏi đáp lại lời ngời khác Do vậy khi dạy các bài tập
dạng tình huống giaotiếp, giáo viên cần khơi gợi ở trẻ cái " vốn" sẵn có trong các
em để tránh gây sự nhàm chán.
Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn coi trọng việc phát huy vốn sống trong
học sinh . Với bất kỳ bài tập nào, tôi luô chú ý để học sinh nêu trớc ý kiến của
mình, những ý kiến đúng sẽ đợc cả lớp công nhận và tuyên dơng. Ngợc lại,
những ý kiến sai, cha đúng sẽ đợc cô và các bạn góp ý, sửa chữa. Làm nh vậy
không những phát huy đợc khả năng sáng tạo của học sinh mà còn giúp các em
bạo dạn, tự tin hơn, giờ học sôi nổi phát huy đợc tính tích cực chủ động của học
sinh.
Ví dụ: Khi dạy nội dung: Đáp lời phủ định ( tuần 24) với BT2 : Nói lời đáp
của em trong các trờng hợ sau:
a- Cô làm ơn chỉ giúp cháu nhà bác Hạnh ở đâu ạ!
- rất tiếc, cô không biết, vì cô không phải là ngời ở đây .
-
b- Bố ơi, bố có mua đợc sách cho con không?
- Bố cha mua đợc đâu
-
c- Mẹ có đỡ mệt không ạ?
- Mẹ cha đỡ mấy .
-

thầy không tày học bạn". Thông qua nhóm học sinh đợc trao đổi, bày tỏ ý kiến
của riêng mình. Nếu ý kiến đúng sẽ đợc sự đồng tình của các bạn trong nhóm.
Ngợc lại, nếu ý kiến cha đúng, cha đủ sẽ đợc các bạn góp ý và bổ sung để sản
xuất. Có thể nói tổ chức học theo nhóm là một phơng pháp hay đợc giáo viên đa
vào nhiều tiết học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phơng pháp dạy học hiện nay.
Nhất là trong chơng trình Tiểu học 2000, phơng pháp hoạt động nhóm cũng
khẳng định rõ vai trò của nó trong việc tích cực hoá hoạt động nhận thực của học
sinh .
Nhận thức đợc vấn đề này, tôi đã cố gắng lựa chọn cách tổ chức sao cho
hoạt động nhóm đạt hiệu quả cao nhất, khắc phục đợc tình trạng học sinh lời suy
nghĩ, ỷ lại . Phơng châm chia nhóm của tôi là : Làm sao cho tất cả các học sinh
trong nhóm đều đợc tham gia hoạt động để khám phá kiến thức theo yêu câù
của giáo viên. Tuỳ theo nội dung từng bài tập, tôi lại có các cách chia nhóm
khác nhau .
Ví dụ: Khi dạy nội dung xin lỗi ( tuần 4) .
Với BT1: Nói lời đáp của em trong mỗi trờng hợp sau:
a- Em lỡ bớc, giẫm vào chân bạn .
b- Em mải chơi, quên làm việc mẹ dặn ,
c- Em đùa nghịch, va phải 1cụ già .
Để giúp học sinh thực hành tốt các tình huống, tôi đã phân nhóm 2 .
7
Trong đó:HS1: Nói lời xin lỗi
HS2: Nói lời đáp
Còn với BT1 bài: Đáp lời chào - lời tự giới thiệu ( tuần 19) tôi lại chia học
sinh theo nhóm 5 (1 em vai chị phụ trách sao, 4 em khác vai các em nhỏ trong
sao nhi đồng ) .
Với cách phân nhóm nh vậy, các em đã tham gia thjc hành tốt. Em nào
cũng cố gắng thể hiện tình huống một cách tự nhiên. Giờ học nhờ đó sôi nổi, các
em rất thích thú khi tham gia đóng vai .
Để hoạt động nhóm có hiệu quả, phát huy tính ttự giác tích cực của học

sinh vào hoàn cảnh cóp vận động đòi hỏi học sinh phải có những phán đoán để
đa ra cách xử lý phù hợp nhất đối với mỗi tình huống . Nhận thấy đợc vấn đề đó,
trong thực tế giảng dạy các giờ Tập làm văn để giúp học sinh luyện kỹ năng nói,
tôi thờng tổ chức cho các em " sắm vai"xử lý tình huống . Với hình thức này toio
muốn các em đợc rèn luyện giác quan, tạo cơ hội để giao lu với mọi ngời. Phát
triển t duy sáng tạo và năng lực phán đoán .
Chẳng hạn khi dạy tiết Tập làm văn tuần 26. Dáp lời ý ( Sách Tiếng Việt 2
tập 2 trang 76) .
Bài tập 1: Nói lời đáp của em trong các trờng hợp sau .
a- Em quên chiếc áo ma trong lớp, quay lại trờng để lấy bác bảo vệ sắp đi
nghỉ, thấy em xin vào, bác mở cửa nói: Cháu vào đi!
b- Mời cô ý tá ở gần nhà tới tiêm thuốc cho mẹ. Cô y tá nhận lời :" Cô sẽ
sang ngay"
c- Em mời bạn đến chơi nhà. Bạn nhận lời: "ừ đợi tớ xin phép mẹ đã " .
Với nội dung bài tập trên, nếu chọn hình thức hỏi đáp theo cặp hoặc gc hỏi-
học sinh đáp thì tiết học sẽ diễn ra nhàm chán, đơn điệu không phát huy đợc khả
năng sáng tạo của học sinh. Để giúp học sinh có một không khí vui , nhẹ nhàng
mà lại rèn cho các em khả năng diễn đạt, sau khi giúp học sinh nắm vững yêu
cầu, đọc thầm các tình huống tôi tiến hành cho các em thảo luận và sắm vai theo
tình huống . Kết quả là nhiều cặp học sinh lên sắm vai rất tự nhiên mà các em lại
đa ra đợc nhiều cách ứng xử khác nhau với thái độ, cử chỉ tự nhiên, giờ học diễn
ra sôi nổi .
ở tình huống a :
Em Minh Trang đáp; Cháu cảm ơn bác ạ !
Em Lan Hơng lại đáp: Cháu xin lỗi đã làm phiền bác ạ !
Nh vậy ở cùng một tình huống, với hình thức tổ chức " Sắmvai theo tình
huống giáo tiếp" giáo viên đã thu đợc các phơng án xử lý tình huống khác nhau
từ phía học sinh .
Tổ chức thực hành " sắm vai theo tình huống giao tiếp là phơng pháp dạy
học Tập làm văn nói có nhiều u điể. Nó chẳng những góp phần rèn cho học sinh

mới thôi .
Ví dụ: Cháu xin lỗi đã làm phiền bác ạ!
* Với học sinh khá- giỏi;
Khi các em đã nắm đợc câu mẫu. Tôi yêu cầu các em nâng mức độ thực
hành cao hơn bằng cách thể hiện lại hành vi trong câu mẫu bằng chính ngôn ngữ
của mình .
Ví dụ: M: Em chúc mừng chị. Chúc chị sang năm đợc giải nhất .
Cấuáng tạo : - Em chúc mừng chị. Chúc chị học giỏi hơn nữa.
- Em chúc chị sang năm đạt giải cao hơn .
- Chị ơi chị giỏi quá! Mong chị năm tới sẽ đạt thành tích caohơn.
5.3- Quan tâm hình thức sinh hoạt lớp, sinh hoạt sao:
10
Trong các giờ sinh hoạt lớp, tôi luônchú ý duy trì đều đặn và xây dựng cho
học sinh nếp sinh hoạt. Ngay từ đầu năm học sau khi phân chỗ ngồi hợp lý ( em
khá giỏi ngồi cạnh em TB hoặc yếu ). Mỗi tổ có 1 tổ trởng theo dõi nề nếp hàng
ngày của tổ. Thông thờng trong giờ sinh hoạt lớp tôi chia làm 2 phần. Sơ kết
tuần trớc và sinh hoạt sao.
A- Sơ kết tuần đợc tiến hành dựa trên các việc làm sau:
- Tổ trởng theo dõi thi đua của các bạn trong tuần theo mẫu kẻ sẵn của cô
giáo. Nếu em nào vi phạm một lần sẽ bị đánh dấu 1 gạch (-) , Mỗi điểm tốt ( 9-
10) đợc đánh dấu bằng lá cờ xanh hoặc đỏ cắm trên bảng thi đua. Việc theo dõi
này diễn ra hàng ngày có sự theo dõi giám sát của cô giáo và lớp trởng.
- Cuối tuần, vào tiết sinh hoạt lớp, từng tổ trởng lần lợt nhận xét các hoạt
động của tổ mình. Lớp trởng tổng hợp và nêu nhận xét chung .
- Tiếp theo các thành viên trong tổ nêu ý kiến bổ sung .
- Cuối cùng giáo viên tổng hợp và nêu nhận xét cụ thể về những việc làm
tốt của lớp, tuyên dơng học sinh có nhiều tiến bộ và nhắc nhở học sinh cha thực
hiện tốt .
Mục đích của những việc làm trên là giúp cho học sinh rèn tính bạo dạn, tự
tin. Đó là tiền đề quan trọng để rèn kỹ năng nói cho học sinh.

Nh vậy, nhờ áp dụng các biện pháp trên mà tỷ lệ học sinh yếu giảm, học
sinh khá giỏi tăng hơn sovới đầu năm. Cho đến nay 100% các em lớp tôi đã bạo
dạn hơn, nhiều em thực hành các tình huống rất sáng tạo . Đặc biệt là các em đã
biết vận dụng các nghi thức lời nói qua các bài tập vào thực tế giao tiếp hàng
ngày.
Kết quả trên cha phải là cao song nó đã thể hiện sự tiến bộ về kỹ nang nói
của học sinh lớp tôi phụ trách trong quá trình thử nghiệm áp dụng đề tài. Điều đó
khiến` tôi yên tâm, tin tởng ở các biện pháp rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh
lớp 2 của mình .
* Giải pháp trong thời gian tới :
- Tiếp tục áp dụng các biện pháp trên để rèn nói cho học sinh lớp mình.
- Tích cực đọc sách, báo, tạp chí để nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm của
đồng nghiệp ở trờng bạn, ở các địa phơng khác .
II- Bài học kinh nghiệm :
Để việc" rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2 qua phân môn Tập làm văn"
đạt đợc thành công, theo tôi ngời giáo viên dạy lớp 2 cần :
1- Trớc hết cần giúp học sinh có kỹ năng xác định yêu cầu bài tập . Trên cơ
sở nắm vững yêu cầu bài tập, học sinh mới tự thiết lập các mức độ trình bày đoạn
văn, bài văn, câuvăn nói của mình .
2- Cần khơi gợi, phát huy vốn sống của học sinh qua thực tế giao tiếp .
3- Tăng cờng vai trò của nhóm, tích cực hoá hoạt động nhóm trong học sinh
.
4- Uốn nắn cho học sinh kỹ năng trả lời câu hỏi ở mọi lúc, mọi nơi .
5- Coi trọng hoạt động thực hành trong dạy Tập làm văn cũngnh trong các
môn học khác.
III- Khuyến nghị :
12
1- Với cấp chỉ đạo : Trang bị kịp thời bộ tranh môn Tiếng Việt 2 nói chung,
phân môn Tập làm văn nói riêng.
2- Với đồng nghiệp :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status