SKKN ren kỹ năng nói cho HS lop 2 trong môn tập làm văn - Pdf 25

Rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2 trong phân môn Tập làm văn
Dạng bài : Nghi thức lời nói
Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài:
Phân môn tập làm văn có vị trí đặc biệt trong dạy học Tiếng Việt Với mục
tiêu là trang bị kiến thức rèn luyện kỹ năng cho học sinh làm văn. Ngoài ra môn
học này có nhiệm vụ luyện kỹ năng nói và viết cho học sinh. Tập làm văn góp phần
cùng các môn học khác nh: Tập đọc, Kể chuyện, Luyện Từ và Câu rèn luyện
hoặc cung cấp cho các em vốn sống, rèn luyện t duy, hình thành nhân cách, phát
triển ngôn ngữ.
Trong cuộc sống hằng ngày, Tiếng Việt là phơng tiện giao tiếp của ngời Việt.
Do đó mỗi ngời Việt Nam cần sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình. Việc nói đúng Tiếng
Việt của mỗi ngời đợc bắt đầu từ đâu ? Có thể cho rằng khi trẻ cất tiếng nói đầu
tiên đã đợc cha mẹ ngời thân hớng dẫn cách nói. Nhng việc hớng dẫn nói đúng
Tiếng Việt chuẩn, có phơng pháp, có hệ thống thì bắt đầu khi trẻ bớc vào tiểu học.
Khi đến trờng các em ra nhập vào một phạm vi giao tiếp mới có tổ chức xã hội
(Giao tiếp trong lớp học, giao tiếp với thầy cô, bạn bè). Các em không thể nói ứ,
ừ hay lý nhí gật đầu nh nói với bố mẹ. Hơn thế nữa các em còn hiểu rằng có thể
những lời nói là hay là đẹp và có những lời nói là không hay không đẹp.
Để trả lời câu hỏi của cô giáo Con học bài cha? Các em không đợc phép nói
Làm rồi Các em phải hiểu và biết thực hiện nói thành câu và thể hiện sự lễ phép
Tha cô, con học bài rồi ạ! hoặc trong giao tiếp với mọi ngời xung quanh, biết
nói lời cảm ơn, xin lỗi và các em cũng biết đáp lại lời cảm ơn, xin lỗi Vì thế
việc dạy Tiếng Việt trong tiểu học có một tầm quan trọng rất lớn. Đặc biệt phân
môn Tập làm văn rèn kỹ năng nói và viết cho học sinh.
Tập làm văn thực hiện hoá mục tiêu quan trọng nhất của việc dạy học Tiếng
Việt là dạy học sinh sử dụng Tiếng Việt trong cuộc sống hàng ngày. Học sinh biết
sử dụng Tiếng Việt và giao tiếp. Ngời ta chia các bài văn thành hai dạng: Tập nói
và viết. Trong đó Tập làm văn miệng rèn luyện khả năng trình bày một bài nói theo
Ngô Thị Kim Quy
1

Rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2 trong phân môn Tập làm văn
Dạng bài : Nghi thức lời nói
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Khảo sát và phân tích nội dung, phơng pháp dạy Tập làm văn lớp 2 theo
các mạch kiến thức, kỹ năng làm văn và theo các loại văn bản đợc dạy ở phân môn
Tập làm văn.
3.2 Trên cơ sở phân tích nội dung, phơng pháp dạy Tập làm văn lớp 2 và đánh
giá thực trạng dạy Tập làm văn dạng bài Nghi thức lời nói và những đề xuất.
4. Đối tợng nghiên cứu:
Để có những đánh giá xác đáng về nội dung, phơng pháp và thực trạng dạy
Tập làm văn Nghi thức lời nói ở lớp 2, từ đó đa ra những đề xuất có tính thực
tiễn góp phần đem lại hiệu quả cao trong dạy học Tập làm văn, tôi đã khảo sát các
đối tợng sau:
4.1, Sách giáo khoa và sách giáo viên Tiếng Việt lớp 2, trọng tâm là phân môn
Tập làm văn và một số tài liệu tham khảo nh: Phơng pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu
học, Tập làm văn lớp 2 Tác giả Lê Phơng Liên - Đinh Xuân Thảo.
4.2, Thực tiễn gìơ dạy Tập làm văn lớp 2.
5. Phơng pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các phơng pháp cơ bản
sau:
5.1 Phơng pháp quan sát, khảo sát:
- Tôi đã khảo sát thực tế dạy học Tập làm văn, khảo sát các bài làm của học sinh
lớp 2.
- Khảo sát những tài liệu tham khảo có liên quan.
5.2 Phơng pháp phân tích.
Tôi đã phân tích thực tế sách giáo khoa, thực tế học Tập làm văn, phân tích những
tình huống ứng xử cách giao tiếp của các em để thấy những u điểm, hạn chế và kỹ
năng nói của học sinh lớp 2.
5.3 Phơng pháp tổng hợp.
Ngô Thị Kim Quy

Dạng bài : Nghi thức lời nói
Hoạt động lời nói là một cấu trúc bao gồm 4 giai đoạn kế tiếp nhau: Định hớng,
lập chơng trình, thực hiện hoá chơng trình, - kiểm tra.
Với mỗi một cấu trúc sẽ có hệ thống, kỹ năng tơng ứng. ứng với giai đoạn
Định hớng là kỹ năng xác định yêu cầu giới hạn của đề bài.
ứng với giai đoạn lập chơng trình là kỹ năng tìm ý, lập dàn ý là giúp học
sinh trình bày bài nói, bài viết đầy đủ mạch lạc
ứng với giai đoạn Thực hiện hoá chơng trình là kỹ năng nói, viết bài với
những phong cách khác nhau, cách diễn đạt khác nhau.
ứng với giai đoạn Kiểm tra là kỹ năng kiểm tra kết quả, phát hiện lỗi và sửa
chữa đợc các lỗi có trong bài.
3. Các dạng lời nói:
Lời nói trớc hết đợc chia thành lời nói miệng (Khẩu ngữ) và lời nói viết (bút
ngữ). Vì vậy kỹ năng Tập làm văn trớc hết đợc chia thành kỹ năng nói và kỹ năng
viết.
Ngôn ngữ ở dang nói là ngôn ngữ của âm thanh tác động trực tiếp tới ngời nghe
nên có khả năng truyền cảm lớn. Ngời nói phải ứng xử nhanh, sử dụng cú pháp đơn
giản hơn khi viết. Ngoài ra ngời nói có thể kết hợp các yếu tố ngoại lời nói để diễn
đạt hết ý.
Lời nói miệng có hai dạng: Độc thoại và đối thoại
+ Lời độc thoại là lời của một ngời nói cho ngời khác hoặc chính mình nghe.
+ Đối thoại là cuộc trò chuyện trao đổi thảo luận, tranh luận của hai hay nhiều
ngời. Lời đối thoại thờng ngắn gọn biểu hiện bản lĩnh trình độ, khả năng giao tiếp,
tính cách của ngời nói. Lời đối thoại phải phù hợp với quan hệ vai giã những ngời
tham gia đối thoại phải có sự phù hợp: điệu bộ, cử chỉ, ánh mắt, giọng điệu
Lời đối thoại thờng sử dụng kiểu câu ngắn câu hỏi, câu cảm, các từ chêm xen
dạng lời đối thoại đã đựơc đa vào các tiết Tập làm văn cụ thể ở dạng bài Nghi
thức lời nói
Ngô Thị Kim Quy
5

Dạng bài : Nghi thức lời nói
Ví dụ: - Chà! Hôm nay em mặc bộ quần áo đẹp thế.
- Chúc mừng con, con đã đạt giải nhất văn nghệ của trờng.
- Cảm ơn em đã cho anh mợn cái bút.
Hơn thế nữa các em lớp 2 khả năng ngôn ngữ cha phát triển, lời nói còn hạn chế,
các em thờng học thuộc theo đúng tài liệu từng câu, từng chữ khó mà sửa lại, nhiều
em nhút nhát ngại nói trớc lớp Một số giáo viên còn cha nghiên cứu bài kỹ, cha
đaò sâu kiến thức gọi mở bằng các câu hỏi trẻ nhỏ, cha sử dụng các phơng pháp
hợp lý. Muốn tổ chức một buổi dạy tốt không lên áp đặt sách giáo viên vì đó chỉ là
sách tham khảo, ngời giáo viên cần nghiên cứu kỹ bài có thể nêu thêm tình huống
cho phong phú đầy đủ hơn giúp học sinh phát triển t duy tốt hơn.
Có những câu hỏi gợi mở cho học sinh để tiếp cận kiến thức nhiều em đợc
luyện nói nhiều hơn, nói hay hơn.
Qua thực tế dạy và kiểm tra thái độ của các em tôi thấy các em rất thích học
môn này, khi học các em rất sôi nổi nhng vận dụng đợc luyện nói, nói hai chiêù,
nói hay, biểu hiện đợc giọng điệu, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ thì cha có. Ngời giáo
viên cha phát huy đợc điều đó cho các em.
Đánh giá thực trạng dạy Tập làm văn lớp 2 có những u nhợc điểm.
1. Ưu điểm:
Tập làm văn là phân môn mới đối với học sinh lớp 2 nên để đảm bảo đợc mục
tiêu, nội dung bài học giáo viên luôn coi trọng phân môn này và có sự đầu t để
nghiên cứu nội dung phơng pháp dạy sao cho đạt kết quả cao nhất.
Với mục đích rèn luyện cho học sinh các kỹ năng nói cụ thể dạng bài
Nghi thức lời nói sẽ giúp các em biết nói và đáp lời cảm ơn, xin lỗi; Tự giới
thiệu; Khẳng định, phủ định; Mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị; Chia vui, an ủi; Khen
ngợi với một số tình huống giao tiếp và trong cách ứng xử hàng ngày.
2. Những khó khăn, hạn chế:
a. Về phía học sinh:
Ngô Thị Kim Quy
7

8
Rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2 trong phân môn Tập làm văn
Dạng bài : Nghi thức lời nói
b. Về phía giáo viên.
Mục tiêu dạy một tiết Tập làm văn là phải trang bị kiến thức và rèn luyện kỹ
năng làm văn, góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống, rèn luyện t duy
lô gíc, t duy trừu tợng, bồi dỡng tâm hồn cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách
cho học sinh. Môn học này còn giúp các em biết nói đúng, đủ câu, nói đủ ý, biết
nói lời hay, biết xử lý các tình huống giao tiếp hàng ngày Nhng dạy một tiết Tập
làm văn ở lớp 2 dạng bài Nghi thức lời nói chỉ có một nửa thời gian hoặc có
những tiết chỉ có 1/3 thời gian là dành cho các em học nói, rèn kỹ năng nói, làm
các bài tập về nghi thức nói. Vì vậy đây cũng là một điều gây trở ngại cho ngời dạy
trong công cuộc đổi mới, sáng tạo phơng pháp dạy học trên quan điểm phát huy
tính tích cực của học sinh .
Qua kinh nghiệm giảng dạy và qua các ý kiến tham khảo của đồng nghiệp thì
tôi thấy giáo viên gặp nhng khó khăn sau:
- Giáo viên phân bố thời gian từng phần trong một tiết dạy cha cân đối.
- Một số giáo viên cha giới thiệu, mở rộng các phơng án làm bài khác nhau nên
học sinh hay rập khuôn theo mẫu một cách máy móc.
- Giáo viên cha linh hoạt sử dụng các phơng pháp khác nhau, cha giúp học sinh
có kỹ năng làm bài.
- Giáo viên phải nghiên cứu tự rút ra những nhận xét, ghi nhớ sau mỗi bài tập, bài
học.
3. Các lỗi mà các em thờng mắc khi làm bài tập về dạng bài Nghi thức lời nói
* Các em cha biết nói đủ câu, đủ ý khi giao tiếp với ngời khác.
Ví dụ: Khi dạy bài: Mời, nhớ, yêu cầu, đề nghị Tuần 15
Bài 1: Tập nói những câu mời, nhớ, yêu cầu, đề nghị đối với bạn.
a, Bạn đến thăm nhà em. Em mở cửa mời bạn vào nhà.
- Các em mới chỉ nói Vào nhà đi
b, Em thích một bài hát mà bạn đã thuộc. Em nhờ bạn chép lại cho mình.

- Mẹ hỏi con: Hôm nay con đợc điểm mấy? các em trả lời Mời!
Ngô Thị Kim Quy
10
Rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2 trong phân môn Tập làm văn
Dạng bài : Nghi thức lời nói
- Cô giáo hỏi các em : Các con làm bài tập cha các em trả lời Làm rồi!
- Trong cuộc sống hàng ngày các em ít đợc va chạm với tình huống: Nói, đáp lời
cảm ơn, xin lỗi; nói, đáp lời khẳng định phủ định; nói, đáp lời mời, nhờ, yêu cầu, đề
nghị; nói, đáp lời chia buồn, an ủi; nói, đáp lời chia vui , từ chối.
Nên khi đợc học về các dạng bài Nghi thức lời nói này các em mới đợc
làm quen còn khi thực hành đóng vai thể hiện các tình huống giao tiếp các em còn
ngợng nghịu cha thực sự thể hiện lời nói trong nhân vật tình huống đó.
- Thời gian dành cho phần làm các bài tập về nghi thức nói của các em còn quá
ít.
5. Những bất cập, hạn chế trong nội dung phơng pháp dạy học dạng bài Nghi
thức lời nói ở lớp 2.
- Chơng trình tập làm văn dạng bài Nghi thức lời nói ở sách giáo khoa lớp
2 đợc sắp xếp nh sau:
Tuần1: Tự giới thiệu
Tuần2: Chào, hỏi
Tuần 4: Cảm ơn, xin lỗi
Tuần 6: Khẳng định, phủ định
Tuần 8: Mời, nhờ yêu cầu, đề nghị
Tuần11: Chia buồn, an ủi
Tuần 12: Gọi điện
Tuần 15: Chia vui
Tuần 16: Khen ngợi
Tuần 17: Ngạc nhiên, thích thú
Tuần19: Đáp lời chào, tự giới thiệu
Tuần 21: Đáp lời cảm ơn

.Song với những hạn chế, bất cập trên khi dạy tôi đã đa ra phơng pháp, biện pháp
khắc phục sau:
Ngô Thị Kim Quy
12
Rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2 trong phân môn Tập làm văn
Dạng bài : Nghi thức lời nói
- Giáo viên xây dựng các mẫu bài tập với những đáp án phong phú, phát huy sự
sáng tạo.
- Vận dụng, kết hợp nhiều phơng pháp dạy học khác nhau để tránh sự nhàm chán
của học sinh.
- Giáo viên định hớng và gợi mở, khuyến khích học sinh phát huy đợc khả năng t
duy, sáng tạo của mình.
- Có kế hoạch riêng, phơng pháp, phơng pháp riêng cho các đối tợng học sinh, đặc
biệt là học sinh yếu, học sinh giỏi của lớp.
CHƯƠNG III : Một số biện pháp rèn kỹ năng nói cho học sinh khi dạy
những bài nghi thức lời nói.
I . Vận dụng linh hoạt những phơng pháp dạy tâp làm văn nhằm đạt
hiệu quả thiết thực:
Phân môn Tập làm văn có tính tổng hợp, rèn cho học sinh cả 4 kỹ năng :nói,
viết, nghe, đọc.Để việc dạy học Tập làm văn ở lớp 2 có hiệu quả thiết thực, giáo
viên cần nắm chắc những yêu cầu cơ bản nói chung và yêu cầu tối thiểu dành cho
những học sinh có điều kiện học tập còn nhiều hạn chế.Từ đó
có những biện pháp và hình thức tổ chức dạy học thích hợp phát huy đợc tính tích
cực và hứng thú học tập của học sinh.
Dạy thực hành về các nghi thức lời nói tối thiểu nh :Chào hỏi, tự giới thiệu,
cảm ơn, xin lỗi, tán thành, từ chối, chia vui, chia buồn và một số kỹ năng phục vụ
cho học tập và đời sống hàng ngày nh :Khai bản tự thuật, gọi điện giáo viên sử
dụng các biện pháp hớng dẫn học sinh thực hành gao tiếp là chủ yếu. Nhng, để
giảng dạy có hiệu quả giáo viên cần suy nghĩ và tìm ra đợc hình thức tổ chức dạy
học nhẹ nhàng, phù hợp với từng bài tập, chuẩn bị các đồ dùng dạy học đơn giản,

Luyện nói còn bồi dơng tình yêu Tiếng Việt có ý thức nói đúng Tiếng Việt .
Ngô Thị Kim Quy
14
Rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2 trong phân môn Tập làm văn
Dạng bài : Nghi thức lời nói
Luyện nói cho học sinh lớp 2 còn có mục tiêu trau dồi thái độ ứng xử có văn
hoá, tinh thần trách nhiệm trong công việc, bồi dỡng tình cảm tôt đẹp, lành mạnh
qua nội dung bài dạy.
3. Giáo viên nắm chắc đặc điểm nội dung chơng trình luyện nói ở lớp 2 theo
sách giáo khoa Tiếng Việt mới khác với sách cải cách cũ.
Trong công việc rèn kỹ năng nói cho học sinh thì nói trong hội thoại
nghĩa là các Nghi thức lời nói đợc sắp xếp trong chơng dạy Tập làm văn lớp 2
mà chủ yếu. Chơng trình dạy Tập làm văn đợc cấu tạo theo hai mặt: Dạy làm văn
nói và dạy làm văn viết. Đây là điểm khác cơ bản giữa chơng trình sách giáo khoa
Tiếng Việt lớp 2 mới và sách cải cách cũ (Vì sách cải cách chia Tập làm văn làm
hai loại : Bài văn luyện và bài văn viết )
Điểm khác biệt ở sách mới là khi dạy làm văn nói Giáo viên có nhiệm vụ
là đa học sinh vào các hoàn cảnh giao tiếp. Chơng trình Tập làm văn các tiết giải
đều ở 2 kỳ, có 27 tiết đợc rèn luyện nói trong 4 tiết hoàn toàn tập chung vào rèn
luyện kỹ năng nói. Nội dung các bài luyện nói rất gần gũi quen thuộc với học sinh:
Ví dụ: tuần đầu tiên học sinh học Tự giới thiệu về mình để làm quen với cô giáo
và các bạn điều đó thật thích thú với các em.
Các em còn đợc học chia vui, chia buồn , an ủi điều đó khiến các em
quan tâm đến mọi ngời xung quanh.
Nội dung tập làm văn theo chơng trình sách Tiếng Viêt mới còn chú ý
cho các em luyện lời nói độc thoại ( Tả ngắn, kể ngắn) khác hẳn với sách giáo khoa
cải cách chỉ luyện kỹ năng nói độc thoại qua hình thức trả lời câu hỏi theo nội dung
bài tập đọc.
Các ngữ liệu trong dạy Tập làm văn không lặp lại giờ tập đọc, kể chuyện
trớc đó.

Giáo viên cũng luôn hớng dẫn các em chú ý đến giọng điệu, ánh mắt, cử chỉ
,điệu bộ, nét mặt trong giao tiếp, điều đó khiến cho lời nói hấp dẫn hơn.
Ngô Thị Kim Quy
16
Rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2 trong phân môn Tập làm văn
Dạng bài : Nghi thức lời nói
Ví dụ: Khi chia buồn, an ủi thì giọng điệu phải thể hiện sự cảm thông, tình
cảm, lời nói nhẹ nhàng, tình cảm không nói to hoặc cời đùa.
Khi nói với ngời trên phải khiêm tốn, cần nói kèm theo từ : Dạ, tha, ạ
Ví dụ: Khi chúc mừng, chia vui thì giọng điệu phải thể hiện sự vui vẻ, nết
mặt phải tơi cời
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần phối hợp linh hoạt các hình thức dạy
học khác nhau, việc rèn kỹ năng nói cho học sinh cần kiên trì, không nên áp đặt các
em những câu hỏi theo khuân mẫu nhất định.
Cần tạo không khí thoải mái để các em tự nêu cách nói của mình .
ở mỗi dạng bài tập có thể cho các em chọn, đóng vai cùng cặp với mình
sau đó đổi vai để cac em đợc diễn đạt lời nói trong từng tình huống khác nhau
một cách tự nhiên, thoải mái, tránh luyện nói một chiều .
7. Học sinh phải xác định đúng đối tợng, nội dung, mục đích giao tiếp để lựa
chọn từ, chọn câu giao tiếp, cách nói và thể hiện phi ngôn ngữ cho phù hợp:
Khi xác định đợc nội dung, mục đích giao tiếp các em tích cực suy nghĩ, chọn từ
.Chọn câu giao tiếp cho phù hợp không bị nói sai hoặc ấp úng, nhút nhát. Các em
sẽ cởi mở hơn khi giao tiếp.
II. Những phơng pháp thực hiện :
Nội dung rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh lớp 2 đợc sắp xếp ở kỳ I và kỳ
II có sự phân chia độc lập học kỳ I học sinh đợc học các nghi thức lời nói đó một
cách tơng ứng
Giữa việc nói va đáp cách nhau quá xa vì thế ngời Gaío viên cần nắm chắc
những đặc điểm nội dung chơng trình để có những phơng pháp phù hợp .Trớc tiên
Giáo viên cần giúp học sinh nắm đợc cac nội dung của bài tập nêu tình huống ở

- Mẹ có mua báo không ? học sinh khó xác định đợc vai giao tiếp vì có thể
hiểu :
+ Bố hỏi con ( con trả lời vai trên ).
Ngô Thị Kim Quy
18
Rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2 trong phân môn Tập làm văn
Dạng bài : Nghi thức lời nói
+ Em hỏi chị ( chị trả lời vai dới ).
+ Bản thân hỏi mẹ ( Mẹ trả lời vai dới ).
Cũng nh vậy ở bài Gọi điện tuần 10 trang 85, học sinh cũng khó xác định
vai giao tiếp trong tình huống : Khi gọi điện gặp ngời nhà của bạn, em xin phép nói
chuyện với bạn thế nào ? Học sinh khó xác định ngời nhà của bạn là ai.
Trong các bài thuộc nghi thức lời nói rèn luyện kĩ năng nói những ngời
thuộc vai dới đề cập đến quá ít chỉ có duy nhất một vài bài có đủ ba tơng quan vai
giao tiếp đó là bài Nói lời cảm ơn vì vậy mà nhiều em tởng chí cần xin lỗi ngời
trên mà khi chạy nhảy có va vào em nhỏ trên sân trờng thì cũng không cần xin lỗi.
Hoặc có cần chia buồn hoặc an ủi với bạn em hay em của em không? thì nhiều em
không biết vì trong bài chia buồn, an ủi không đề cập đến quan hệ ngang vai và
vai dới.
Tất cả những ví dụ dẫn chứng trên đòi hỏi ngời giáo viên khi dạy học sinh
phải có sự chuẩn bị kĩ để bổ sung thêm những tình huống cần thiết trong từng bài
để học sinh nắm chắc bài học và có khả năng tự tin giao tiếp trong moị tình huống.
* Để một tiết dạy Tập làm văn dạng bài nghi thức lời nói đạt kết quả trớc
hết phải nghiên cứu kĩ bài, sau đó ngời giáo viên phải thực hiện đúng quy trình bài
nh sau:
1 . Kiểm tra bài cũ.
Yêu cầu học sinh làm bài tập tiết trớc, bài tập về nhà hoặc nhắc lại những nội
dung cần ghi nhớ về kiến thức, kĩ năng ở bài trớc.
Ví dụ. Dạy bài Đáp lời xin lỗi kiểm tra bài cũ Đáp lời cảm ơn.
- Gọi 2 HS : 1 em nói lời cảm ơn.

III . Phần thực nghiệm:
1 . Nội dung thực nghiệm
Bài dạy : Đáp lời xin lỗi
Dạy tại lớp 2B lấy đối chứng lớp 2A
2 . Vấn đề bổ sung.
Ngô Thị Kim Quy
20
Rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2 trong phân môn Tập làm văn
Dạng bài : Nghi thức lời nói
Để chuẩn bị cho tiết dạy thực nghiệm Đáp lời xin lỗi tôi bổ sung thêm một
số vấn đề:
Phần kiểm tra nghi thức lời nói đã đợc học ở bài trớc: Đáp lời cảm ơn.
+ Điều chỉnh bổ sung nội cung các bài luyện tập có nghĩa là tạo ra
thêm tình huống có đủ ba tơng quan giao tiếp.
+ Lập hệ thống câu hỏi gợi ý nhằm giúp học sinh nòi lời mình mong
muốn.
+ Bổ sung phần ghi nhớ (bài học) ở cuối bài.
3 . Địa điểm tiến hành thực nghiệm.
Lớp 2B 2A trờng tiểu học Cẩm Xá.
Giáo án
Bài dạy ; Đáp lời xin lỗi (trang 39).
I. Mục tiêu:
Giúp cho học sinh:
- Biết đáp lời xin lỗi trong giao tiếp đơn giản.
II. Đồ dùng dạy học:
- Tranh minh hoạ SGK phóng to.
- 30 phiếu học tập của học sinh.
Ngô Thị Kim Quy
21
Rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2 trong phân môn Tập làm văn

mình, em phải đáp lại với thái độ nh thế
nào ?
- Vậy nếu ngời khác xin lỗi em, em cần
phải làm gì ?
Phần đầu tiết tập làm văn hôm nay,
chúng ta sẽ học cách đáp lời xin lỗi.
Giáo viên ghi đầu bài.
Trong trờng hợp nào ta phải có lời xin
lỗi ngời khác ?
HS : Em đáp lại không
có gì với tháI độ khiêm
tốn.
HS : Em cần đáp lại lời
xin lỗi đó.
HS nhắc lại đầu bài
HS 1 : Khi em làm đổ mực
của bạn, và phải một em
nhỏ hoặc em quên việc
Ngô Thị Kim Quy
22
Rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2 trong phân môn Tập làm văn
Dạng bài : Nghi thức lời nói
Bài 1: Đọc
các lời nhân
vật trong
tranh.
GV treo tranh phóng to hỏi HS :
- Trong tranh có những ai ?
- Các bạn ấy đang làm gì ?
- Khi đánh rơi sách của bạn, bạn học

của bạn.
2 HS trả lời:
+ Không sao.
Ngô Thị Kim Quy
23
Rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2 trong phân môn Tập làm văn
Dạng bài : Nghi thức lời nói
Bài 2 : Đáp
lại lời xin
lỗi trong
các tình
huống sau:
phải làm gì ?
Nhng cần đáp lại lời xin lỗi nh thế nào
co phù hợp với từng tình huống cụ thể,
phù hợp với ngời nói xin lỗi.
Chúng ta cùng đến với bài 2.
Sử dụng phiếu bài tập
- Giáo viên chép sẵn các tình huống bài
tập lên bảng phụ, yêu cầu HS đọc bài
tập.
a, Một bạn nghịch làm mực bắn vào áo
em, xin lỗi em Xin lỗi bạn mình lỡ tay
thôi.
- Nếu bạn xin lỗi em, em sẽ đáp lại ra
sao ?
- Nếu em vô ý làm mực bắn vào áo bạn
em, em sẽ nói nh thế nào?
- Em sẽ nói gì khi bạn xin lỗi em ?
- Bạn nào có câu nói khác trớc lời xin

Trên sân trờng một em nhỏ lớp 1 vô ý
chạy va vào ngời em, xin lỗi em Xin lỗi
! Em vô ý quá.
Em sẽ đáp lại lời xin lỗi đó nh thế nào ?
Gọi 2 HS đóng vai nói, đáp lại lời xin lỗi
(sau đó yêu cầu học sinh đổi vai)
c, Bố hứa với em chủ nhật sẽ đa em đi
chơi.
Vì có việc bận đột xuất ở cơ quan bố
không đi đợc, bố xin lỗi em.: Xin lỗi
con nhé, hôm nay bố bận quá.
Em đáp lại lời xin lỗi đó nh thế nào ?
Lần 1: HS 1 nói lời xin
lỗi, HS 2 đáp lại lời xin
lỗi.
Lần 2 : HS 2 nói lời xin
lỗi, HS 1 đáp lại lời xin
lỗi.
HS khác nhận xét.
HS 1 : Không sao
HS 2 : ừ lần sau phải đi
cẩn thận hơn nhé
HS 1 : Xin lỗi ! Đừng
mắng em nhé
HS 2 : ừ không sao đâu
Đổi vai:
HS 2 : Em xin lỗi em
không cố ý
HS 1 : Em làm anh đau
rồi, lần sau em phải đi từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status