RÈN KỸ NĂNG NÓI BẰNG THẢO LUẬN NHÓM TRONG TIẾT TẬP LÀM VĂN MIỆNG CHO HỌC SINH LỚP 4 - Pdf 20

RÈN KỸ NĂNG NÓI BẰNG THẢO LUẬN NHÓM TRONG TIẾT TẬP
LÀM VĂN MIỆNG CHO HỌC SINH LỚP 4
o0o

I/ THỰC TRẠNG:
_ Ngay khi nhận lớp mới ở năm học 2002 – 2003 tôi thấy đa số học sinh còn nhút
nhát. Tiếng nói nhỏ, khi cần gọi hỏi điều gì các em chậm đứng lên.
_ Ở tiết tập làm văn miệng càng tệ hơn, các em trình bày cách đọc lời văn viết đã
chuẩn bị, lệ thuộc bài mẫu đọc nhiều hơn nói, Hoặc trình bày ê a ngắc ngữ, thiếu
mạch lạc.
_ Mục đích giờ học của phân môn này là phát triển năng lực nói cho học sinh
nhưng thường hiệu quả không cao.
_ Một số học sinh thụ động, không thích làm việc trong giờ này.
_ Giáo viên ngại gọi đối tượng yếu vì sợ mất thời gian sửa sai.
II/ LÍ DO VIẾT SÁNG KIẾN:
_ Quan điểm giao tiếp hay quan điểm phát triển lời nói là nguyên tắc, phương
hướng xây dựng chương trình môn tiếng Việt mới. Mỗi phân môn, mỗi tiết học của
môn Tiếng Việt đều hướng đến mục đích phát triển lời nói. Nhất lả trong một loại
bài cụ thể – bài Tập làm văn miệng ở lớp 4.
_ Để giúp học sinh lớp có thể dạn dĩ trước đám đông, trình bày to, rõ, mạch lạc
bằng lời lẽ tự nhiên, dễ hiểu các dữ kiện có hệ thống của một đề tài.
_ Qua thực tế kiểm tra chất lượng đầu năm ở phân môn Tập làm văn của lớp:

G K TB Y
Đầu năm 2002 – 2003 20 – 43,5% 12 – 26,1%

10 – 21,7% 4 – 8,7%
Đầu năm 2003 - 2004 18 – 46,2% 10 – 25,6%

8 – 20,5% 3 – 7,7%


Yêu cầu thảo luận phần thân bài như sau:
+ HS1: Tả bao quát hình dáng, kích thước, màu sắc, chất liệu cặp ?
+ HS2: Tả bân ngoài cặp gồm: mặt cặp, nắp cặp, quai đeo, ổ khoá.
+ HS3: Tả bên trong cặp có mấy ngăn? Mỗi ngăn đựng gì?
+ HS4: Nêu ích lợi chiếc cặp?
Sau khi thảo luận xong 1 nhóm học sinh trình bày như sau:
+ HS1: Cặp hình chữ nhật, làm bằng vải giả da. Dài hơn hai gang tay, rộng
khoảng một gang rưỡi. Có nhiều màu rất đẹp.
+ HS2: Ở phía trên cặp có quai xách thật êm tay. Sau lưng là hai quai đeo. Hai
ổ khóa bằng sắt mỗi khi đóng hoặc mở nghe tiếng “Tách” rất vui tai. Ngoài mặt
cặp có in hình chú chuột Mickey rất đẹp.
+ HS3: Phía trong có ba ngăn. Ngăn lớn em đựng sách vở, ngăn thứ hai đựng
bảng con, áo đi mưa. Ngăn thứ ba nhỏ nhất đựng chứa bút, thước và các đồ dùng
linh tinh khác.
+ HS4: Cặp giúp em đựng sách vở không bị rơi rớt hoặc mưa ướt.
* Ví dụ
2
: Tả quang cảnh trường em trước buổi học.
Yêu cầu thảo luận nhóm 4 như sau:
+ HS1: Tả bao quát toàn cảnh: diện tích, tầm cỡ, mới cũ, kiểu dáng, màu sắc.
+ HS2: Tả cụ thể: Cổng, sân, khu lớp học.
+ HS3: Khu văn phòng.
+ HS4: Hoạt động con người liên qua cảnh vật (thầy cô, học sinh )
Do thời gian có hạn nên chỉ cho 1 nhóm trình bày lại trước lớp. Tuy nhiên trong
quá trình thảo luận các em sẽ được nói đều cả lớp cùng bạn, sẽ được các bạn bổ
sung cho nhau các ý còn thiếu sót. Từ đó các em sẽ dạn dĩ hơn khi trình bày lại
trước lớp.
4/ Song song đó là việc giảng dạy kĩ các phân môn Từ ngữ – Ngữ pháp cũng giúp
học sinh nói tốt, nói tròn câu đủ ý trong bài luyện tập dùng từ đặt câu. Đây là một
quá trình đòi hỏi sự kiên trì giảng dạy có mục đích rèn kĩ năng phát triển lời nói cho

V/ NGUYÊN NHÂN THÀNH CÔNG:
_ Xác định được mục tiêu dạy học theo phương pháp mới, lấy học sinh làm trung
tâm.Giáo viên phải đóng đúng vai trò người tổ chức cho học sinh hoạt động
_ Xác định đúng mục đích giờ học tập làm văn miệng là phát triển năng lực nói
cho học sinh.
_ Phải hình thành phương pháp và kĩ năng quan sát gắn với từng kiểu bài để học
sinh có đủ ý. Sau đó giáo viên giúo các em hệ thống lại thành dàn ý chi tiết mạch
lạc, hợp lý ở tiết lập dàn bài làm cơ sở trình bày miệng.
_ Có tinh thần tách nhiệm cao vì sự nghiệp giáo dục toàn diện trẻ, có lòng tận
tụy, yêu thương học sinh. Nghiên cứu bài dạy, chuẩn bị chu đáo các hoạt động dạy
học cũng như các dụng cụ trực quan hỗ trợ cho tiết học đạt kết quả cao.
_ Kiên trì, chịu khó sửa sai cho từng đối tượng học sinh, nhất là học sinh yếu.
_ Rèn kĩ năng nói trong mọi nơi, mọi lúc, mọi tiết học.
_ Động viên, khen ngợi kịp thời các đối tượng học sinh yếu dù là tiến bộ nhỏ
nhất. Không áp đặt, không chê bai khi học sinh nói sai, nói chậm.
VI/ BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
_ Tạo không khí tranh luận sôi nổi trong giờ học.
_ Giờ học đã kích thích cho học sinh muốn nói, tạo điều kiện cho học sinh nói
nhiều.
_ Từ cơ sở nói được, nói đúng dần tiến tới nói hay cả về nội dung và hình thức.
_ Học sinh chiếm lĩnh được tri thức qua thực hành tập nói.
_ Phải có sự đầu tư trong từng bài Tập làm văn cụ thể, điều chỉnh, bổ sung hệ
thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt hợp lý giúp học sinh thma gia thảo luận.
_ Sáng kiến này áp dụng được trong tất cả các tiết Tập làm văn miệng của hai
khối 4 và 5 trong trường Tiểu học.
VII/ KẾT LUẬN:
_ Nếu ràn tốt kĩ năng nói cho học sinh lớp 4 trong tiết Tập làm văn miệng thì chất
lượng trình bày ý mình muốn nói một cách trôi chảy, mạch lạc sẽ được nâng cao.
Do vậy từng giáo viên phải đầu tư hơn nữa cho từng giờ dạy Tiếng việt nói chung
và môn Tập làm văn miệng nói riêng để con em chúng ta muốn nói, được nói, biết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status