S¸ng kiÕn kinh nghiƯm sinh hoc ngun viƯt hïng trêng: pt-dtnt
céng hßa x· héi chđ nghÜa viƯt nam
®éc lËp- tù do- h¹nh phóc
o0o
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHẦN I : PHẦN LÝ LỊCH
hä vµ tªn: ngun viƯt hïng
chøc vơ: gi¸o viªn
tªn ®Ị tµi
“MỘT SỐ KINH NGHIỆM TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP
MƠN SINH HỌC LỚP 6, 7 Ở TRƯỜNG PT DTNT”
PHẦN II : PHẦN NỘI DUNG
A. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH – NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH
Do nhu cầu phát triển xã hội ngày càng cao, đặc biệt là khi nước ta đang
chuyển mình bước vào thời kì Công nghiệp hóa – Hiện đại hoá, thì vò trí của
ngành giáo dục càng được nâng lên và chú trọng hơn nhằm mục đích đào tạo ra
những con người mới XHCN có đức, có tài, có năng lực để đáp ứng được nhu
cầu phát triển của toàn xã hội.
Trang 1
S¸ng kiÕn kinh nghiƯm sinh hoc ngun viƯt hïng trêng: pt-dtnt
Trước thực tiễn đó, từ năm học 2002 – 2003 Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã
tiến hành đổi mới chương trình sách giáo khoa ở tất cả các môn học, nhằm
nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục để đáp ứng nhu cầu của thực tế. Riêng
môn Sinh học là một môn khoa học tự nhiên luôn luôn gắn liền với thực tế.
Muốn các em học sinh học tốt môn học này đòi hỏi người giáo viên phải cố
gắng tìm tòi, học hỏi để làm thế nào cho các em học sinh nắm được kiến thức
một cách vững chắc và ngày càng say mê yêu thích môn học hơn và tạo sự
hứng thú học tập cho các em học sinh để các em lónh hội được kiến thức của
môn học một cách chủ động sáng tạo phù hợp với chương trình đổi mới sách
giáo khoa.
Song để tạo hứng thú học tập môn sinh học ở trường Phổ Thông Dân Tộc
II. Khó khăn
-Đại đa số các em đều sinh sống ở vùng sâu vùng xa, vốn Tiếng Việt còn hạn
chế nên việc nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu còn hạn chế dẫn đến việc
chuẩn bò bài ở nhà của các em chưa đạt yêu cầu. Ảnh hưởng lớn đến tiết dạy
bài mới.
-Học sinh trong trường được tuyển từ nhiều nơi, vùng sâu, vùng xa khác nhau
với nhiều hình thức đào tạo đặc biệt là các lớp Phổ cập tiểu học dẫn đến trình
Trang 3
S¸ng kiÕn kinh nghiƯm sinh hoc ngun viƯt hïng trêng: pt-dtnt
độ kiến thức không đồng đều, nhiều em lười nghiên cứu, ngại tư duy dẫn đến
thiếu tính sáng tạo trong học tập.
-Đồ dùng dạy học được cung cấp nhưng nhìn chung vẫn chưa đồng bộ để đáp
ứng được nhu cầu của tiết dạy.
-Những học sinh ở ngoại trú ngoài giờ học về nhà phụ giúp gia đình nên thời
gian tự học còn lại rất ít. Hơn nữa, phần lớn phụ huynh học sinh của các em
không quan tâm đến vấn đề học tập, mọi hoạt động và học tập của các em phụ
huynh thường khoán trắng toàn bộ cho nhà trường.
-Đại đa số các em rất nhút nhát trong việc bày tỏ ý kiến của mình trước đám
đông, trước các bạn đồng trang lứa. Chính điều đó là cho các em ngại bày tỏ ý
kiến của mình trước lớp và thế là khả năng chủ động sáng tạo chiếm lónh kiến
thức của các em trở nên hạn chế.
-Hệ thực vật và động vật ở xung quanh nhà trường nghèo nàn cũng ảnh
hưởng đến việc sưu tầm, nghiên cứu, làm thí nghiệm …
-Do sự hiểu biết về ngôn ngữ Khmer của giáo viên còn hạn hẹp nên giải
thích vấn đề cho học sinh hiểu là việc hết sức khó khăn.
C. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Để tạo hứng thú cho học sinh học môn sinh học, đặc biệt là học sinh ở lớp 6,7
của Trường Phổ Thông Dân Tộc Nội Trú, người giáo viên phải có cái nhìn tổng
quát toàn bộ chương trình cấp học từ đó rút ra những kiến thức cơ bản để học
sinh thấy được các mạch kiến thức liên quan với nhau như thế nào? Vai trò và ý
tiếp với nhau và phát biểu ý kiến xây dựng bài. Khi đã hiểu được ngôn ngữ
Tiếng Việt thì các em nhận thức vấn đề sâu sắc hơn nắm nội dung bài học cặn
kẽ hơn.
Ví dụ : Khi dạy Sinh học lớp 6 bài “Các loại hoa” về phần Phân chia các
nhóm hoa căn cứ vào bộ phận sinh sản chủ yếu của hoa. Có một số thuật ngữ
như : Hoa lưỡng tính, hoa đơn tính. Giáo viên cần phải giải thích rõ cho các em
biết lưỡng có nghóa là hai, đơn có nghóa là một. Cho các em hiểu từ đó giáo
viên mới có thể hướng dẫn cho các em hiểu được thế nào là hoa lưỡng tính thế
nào là hoa đơn tính.
Chẳng hạn như dạy phần đời sống của cá chép trong chương trình Sinh học
lớp 7 giáo viên cần giải thích rõ từ “biến nhiệt” khi dạy phần đời sống của chim
bồ câu thì có từ “hằng nhiệt”.
Do vậy trong mỗi tiết dạy giáo viên cần dùng một ít thời gian để hướng
dẫn các em tìm hiểu nghóa của từ trong bài học là rất cần thiết.
III. Chuẩn bò của giáo viên và học sinh trước giờ lên lớp
1. Chuẩn bò của giáo viên:
a. Giáo án :
Muốn tiết dạy đạt hiệu quả cao thì sự chuẩn bò của giáo viên là rất quan
trọng. Đặc biệt là giáo án khi lên lớp, để có một giáo án tốt đòi hỏi người giáo
viên phải :
- Soạn giáo án một cách khoa học, sâu sắc tạo tiết dạy hấp dẫn không bò khô
khan như đặc trưng của những môn học tự nhiên khác. Phải hình dung được
Trang 6
S¸ng kiÕn kinh nghiƯm sinh hoc ngun viƯt hïng trêng: pt-dtnt
diễn biến của tiết dạy trong trí tưởng tượng của mình để chuẩn bò giáo án có
tính logic khoa học.
- Xác đònh kiến thức cơ bản của mỗi bài học, lựa chọn những kiến thức cơ
bản nhất để có thể vận dụng những phương pháp nhằm tích cực hoá hoạt động
của học sinh. Để làm được điều đó giáo viên phải nghiên cứu thật kó bài học
trong sách giáo khoa, sách tham khỏ… nhằm nắm được nội dung kiến thức cơ
sinh rút ra kết luận. Giáo viên chỉ việc chỉnh sửa hoàn chỉnh kiến thức cho học
sinh. Làm như vậy giúp các em có thể tự lónh hội được kiến thức một cách chủ
động hơn. Nếu như giáo viên thực hiện bằng cách đặt câu hỏi cho học sinh trả
lời và rút ra kết luận cho các em thì các em chỉ tiếp thu một các thụ động và rất
nhanh quên.
-Xác đònh con đường thích hợp giúp học sinh tự tìm tòi phát hiện kiến thức
theo logíc của quá trình hình thành các kiến thức đó. Mỗi loại kiến thức cần
phải có quá trình tiếp cận phù hợp.
Những kiến thức về hình thái của thực vật, về cấu tạo ngoài của động vật
cần cho học sinh quan sát trên nhiều phương tiện dạy học như : mẫu vật thật,
tranh vẽ, mô hình, tiêu bản quan sát trên kính hiển vi … để tự phát hiện ra kiến
thức. Đối với những kiến thức về giải phẫu cần cho học sinh tự tay giải phẫu
trên mẫu động vật, nếu không có điều kiện học sinh tự tay mổ thì cũng phải
quan sát trên mẫu mổ và chú thích những bộ phận quan sát được.
Ví dụ: Khi soạn bài quan sát cấu tạo trong của ếch đồng, của chim bồ câu
hay của thỏ, muốn gây sự chú ý cao độ cho học sinh và khơi dậy tính tìm tòi của
Trang 8
S¸ng kiÕn kinh nghiƯm sinh hoc ngun viƯt hïng trêng: pt-dtnt
học sinh, giáo viên nên cho học sinh quan sát và chú thích trên mẫu mổ dựa vào
hình vẽ trong sách giáo khoa.
Nếu có điều kiện tốt hơn trong giờ sinh học ngoại khóa, tôi thường hướng
dẫn cho học sinh tự tay mổ mẫu vật thật và quan sát. Sau đó tự học sinh vận
dụng những kiến thức đã học chú thích trực tiếp trên mẫu mổ. Khi đó giáo viên
đã trực tiếp rèn cho học sinh đồng thời một lúc rất nhiều kó năng như : Kỹ năng
mổ mẫu thật, kỹ năng quan sát, kỹ năng phân tích, kỹ năng hợp tác giữa các
bạn trong cùng một nhóm. Được như thế càng làm cho học sinh yêu thích môn
học hơn.
- Còn khi xác đònh về vai trò của động thực vật, tôi tự cho học sinh vận dụng
những hiểu biết sẵn có của mình trong cuộc sống để tìm ra vai trò của chúng.
Ví dụ: Khi nói về vai trò những loài sinh vật cho học sinh thảo luận nhóm
4
Sau khi học sinh hoàn thành bảng, tôi yêu cầu học sinh tự rút ra kết luận
về cách xếp lá trên cây. Học sinh dựa vào bảng mới hoàn thành dễ dàng rút ra
cách xếp lá trên cây.
Có như vậy mới kích thích sự tìm tòi, say mê nghiên cứu của học sinh, từ
đó gây cho học sinh sự hứng thú trong học tập.
-Nghiên cứu những tài liệu tham khảo, nắm những nội dung có liên quan đến
bài học.
Ví dụ : Bài “rêu, cây rêu”
Trang 10
S¸ng kiÕn kinh nghiƯm sinh hoc ngun viƯt hïng trêng: pt-dtnt
Giáo viên cần phải nắm vững những bài có liên quan như : bài thụ tinh, kết quả
và tạo hạt, bài vận chuyển các chất trong thân… các khái niệm về mạch rây,
mạch gỗ….
-Khi soạn giáo án giáo viên cũng cần phải dự đoán được những tình huống
sai lầm của học sinh có thể xảy ra trong tiết dạy để có thể chỉnh sửa kòp thời.
Ví dụ : Dạy về lớp chim giáo viên mở rộng vấn đề cho học sinh tìm thêm
những ví dụ về các nhóm chim có thể học sinh nhầm tưởng dơi cũng thuộc lớp
chim, khi đó giáo viên cần phải giải thích cho học sinh hiểu dơi cũng biết bay
nhưng không phải thuộc lớp chim.
-Chuẩn bò những đồ dùng dạy học phải phù hợp với nội dung của bài giảng
đó. Giáo viên cần phải làm những thí nghiệm để minh hoạ tiết dạy để tiết dạy
thêm phong phú.
Ví dụ : Khi dạy bài : Vận chuyển các chất trong thân. Giáo viên buộc
phải làm được hai thí nghiệm vận chuyển nước và muối khoáng hoà tan, thí
nghiệm vận chuyển chất hữu cơ phải làm trước một thời gian lâu. Hay thí
nghiệm trong bài quang hợp lá cây chế tạo ra chất hữu cơ khi có ánh sáng mặt
trời giáo viên cũng phải thực hiện khi ở nhà sau đó đem đến lớp giới thiệu cho
học sinh.
b. Sử dụng phương pháp giảng dạy.
Cách thành lập nhóm:
Khi tổ chức hoạt động nhóm giáo viên cần phải quan tâm đến số học sinh
trong nhóm. Số học sinh trong nhóm phải đủ để trao đổi luận nhau, phải giải
Trang 12
S¸ng kiÕn kinh nghiƯm sinh hoc ngun viƯt hïng trêng: pt-dtnt
quyết được các vấn đề giao viên đưa ra, nếu quá đông sẽ không sử dụng hết
nguồn lực, nếu quá ít sẽ không đủ để giải quyết nhiệm vụ. Theo tôi trung bình
mỗi nhóm khoảng 4 – 6 học sinh. Mỗi nhóm cần phải có một nhóm trưởng, một
thư kí và nhóm trưởng phải điều khiển cuộc thảo luận.
Có nhiều cách thảo luận nhóm, nhưng theo tôi xét về đặc trưng môn sinh
học thì chủ yếu tập trung vào các kiểu thành lập nhóm sau đây:
+Thành lập nhóm thường xuyên: để duy trì hoạt động nhóm có thể phân
công nhóm thường xuyên theo từng bản hoạt 2 bàn ghép lại và đặt tên cụ thể
nhóm I, nhóm II, nhóm III … nhóm thường xuyên nào thường để giải quyết
những công việc cụ thể của những tiết học.
VD: Tôi thường sử dụng nhóm thường xuyên như sau: Khi thực hiện song
phần nội dung mỗi tiết dạy tôi cho những bài tập hoặc câu hỏi củng cố để học
sinh khắc sâu kiến thức. Những hoạt động như vậy tôi cho các em học sinh thực
hiện hình thức thảo luận theo nhóm thường xuyên. Ngoài ra nhóm thường
xuyên còn được giao nhiệm vụ thực hiện nội dung các yêu cầu thường xuyên
trong bài học.
+Thành lập nhóm ngẫu nhiên: bằng đến học sinh theo số thứ tự 1, 2, 3, 4…
và lặp lại cho đến hết số học sinh của lớp. Tất cả số học sinh có cùng số thứ tự
vào một nhóm. Cách chia nhóm này thường được tôi sử dụng trong các tiết thực
hành hoặc thực hiện những trò chơi học tập nhằm củng cố kiến thức …
VD: Để củng cố kiến thức chương: Thân
Tôi cho học sinh chơi một trò chơi và thực hiện việc chia nhóm như sau : đếm
số thứ tự học sinh trong lớp 1, 2, 3,4 và lặp lại cho đến hết số học sinh trong lớp.
Khi đó ta được 3 nhóm học sinh là nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3, nhóm 4, sau đó
cho 4 nhóm học sinh tiến hành từng thành viên một lên bảng ghi ra những loại
làm việc của nhóm, bao nhiêu thời gian, kết quả cuối cùng, ai sẽ chỉ đạo
nhóm, tiến hành ra sao, nguồn vật tư, dụng cụ, …
-Dành thời gian để học sinh hỏi học sinh: kiểm tra lại xem các em đã rõ
nhiệm vụ chưa, hoặc các em có thắc mắc không.
Bước 3: Làm việc theo nhóm
-Bắt đầu làm việc theo nhóm: Sau khi hoàn thành các bước trên, giáo
viên yêu cầu các em tiến hành làm việc theo nhóm. Các nhóm thảo luận
nhiệm vụ dưới sự điều khiển của nhóm trưởng. Thư ký ghi chép những ý
kiến thảo luận …
-Theo dõi tiến độ của nhóm: Điều chỉnh thời gian cần thiết, giải quyết
những thắc mắc của học sinh, những khó khăn các nhóm gặp phải.
-Thông báo thời gian: Giáo viên nhắc nhở học sinh về thời gian cho học
sinh đảm bảo đúng thời gian như kế hoặc đã dự kiến. Tránh bò động và
quá giờ thảo luận, ảnh hưởng đến kế hoạch của bài học.
-Hỗ trợ các nhóm làm báo cáo: Trong khi học sinh báo cáo, giáo viên có
thể đến từng nhóm và hướng dẫn học sinh viết báo cáo theo yêu cầu của
giáo viên.
Bước 4: Các nhóm báo cáo kết quả
Đại diện từng nhóm báo cáo kết quả của từng nhóm mình, các nhóm
khác nêu câu hỏi và ý kiến thắc mắc.
Bước 5: Tổng kết rút kinh nghiệm
Trong hoạt động rút kinh nghiệm, giáo viện thực hiện cá sự phối hợp của
học sinh. Những kết luận về kiến thức và kỹ năng mà học sinh cần tiếp
thu cần được tổng kết, tóm tắt, hệ thống sau hoạt động nhóm. Đồng thời
Trang 15
S¸ng kiÕn kinh nghiƯm sinh hoc ngun viƯt hïng trêng: pt-dtnt
trong bước này, giáo viên cần rút kinh nghiệm về tinh thần, thái độ tham
gia hoạt động của các nhóm, từng cá nhân. Đây cũng là những điều kiện
cần thiết cho giao viên để tổ chức hoạt động tương tự.
Tôi xin lấy một ví dụ khi dạy bài “Biến dạng của rễ” trong chương trình
Bước 4: Đại diện của nhóm lên trình bày: Nhóm đã phân thành 4 loại rễ
và nêu lý do vì sao lại phân thành 4 loại. Trong khi một nhóm lên trình
bày thì các nhóm khác nêu câu hỏi. Nhóm trình bày phải trả lời câu hỏi
của nhóm khác và của giáo viên.
Bước 5: Giáo viện tổng kết rút kinh nghiệm
Qua làm việc theo nhóm chúng ta đã phân loại rễ của các cây, củ thành 4
loại đặc điểm và chức năng được mô tả trong bảng dưới đây:
TT
Tên về biến
dạng
Tên cây
Đặc điểm hình thái
của biến dạng
Chức năng đối
với cây
1 Rễ củ
Củ cải, cà rót… Rễ phình to Chức chất dư trữ
cho cây ra hoa,
tạo quả
2 Rễ móc
Trầu không, hồ
tiêu, vạn niên
thanh…
Rễ phụ mọc từ thân
và cành trên mặt đất,
móc vào trụ bám…
Giúp cây leo lên
3 Rễ thở Bụt mọc, mắm, Sống lâu trong điều Lấy oxi trong
Trang 17
S¸ng kiÕn kinh nghiƯm sinh hoc ngun viƯt hïng trêng: pt-dtnt
đặc điểm giải phẫu.
Trang 18
S¸ng kiÕn kinh nghiƯm sinh hoc ngun viƯt hïng trêng: pt-dtnt
Ngoài việc chuẩn bò đồ dùng dạy học của giáo viên, giao viên cần phân
công, kiểm tra, đôn đốc cho từng học sinh việc chuẩn bò các đồ dùng học tập.
Đây cung là một biện pháp làm tăng cường khả năng tìm tòi, nghiên cứu của
học sinh.
Giáo viên sử dụng thiết bò thí nghiệm, sử dụng thiết bò nào đưa ra thiết bò
đó và khi sử dụng xong dẹp ngay tránh tình trạng để tràn lan sẽ làm mất khả
năng chú ý của học sinh. Sau khi sử dụng cần lưu trữ kỹ càng để còn sử dụng
những tiết dạy sau.
Ngoài việc chuẩn bò nội dung tiết dạy thì khi lên lớp, giáo viên luôn giữ
một tâm trạng vui vẻ, thoái mái.Việc đó cũng giúp cho học sinh học tốt hơn.
Không nên đem những chuyện riêng trút giận lên học sinh, hoặc đem một tâm
trạng chán trường lên lớp học.
d. Chuẩn bò phiếu học tập.
Trong chương trình sinh học 6,7 đổi mới phiếu học tập giúp ích rất nhiều
cho học sinh trong việc tìm ra kiến thức mới của bài học, so sánh những kiến
thức của những bài đã học và bài đang học. Từ đó có thể giúp cho học sinh nhớ
lại kiến thức cũ và khắc sâu kiến thức mới.
* Dạng phiếu học tập so sánh kiến thức cũ và kiến thức mới. Từ đó thấy được
sự giống và khác nhau giữa các đối tượng đem so sánh và là cách tốt giúp học
sinh nhớ bài ngay trên lớp.
Ví dụ : Dạy bài phân biệt động vật với thực vật chương trình Sinh học lớp
7 giáo viên cần chuẩn bò phiếu học tập để so sánh những đặc điểm giữa động
vật và thực vật :
Đặc
điểm
Cấu tạo từ
tế bào
Thực vật
Động vật
Từ phiếu học tập này giáo viên yêu cầu học sinh hoàn thành và đặt
những câu hỏi để học sinh khắc sâu thêm kiến thức :
+ Thực vật khác với động vật ở những điểm cơ bản nào?
+ Ngoài những đặc điểm có trên phiếu học tập trên em hãy tìm thêm
những đặc điểm khác nhau giữa động vật và thực vật?
Sau khi học sinh hoàn thành phiếu hoạ tập và trả lời các câu hỏi thì các
em học sinh có thể hệ thống kiến thức đã học năm lớp 6 về thực vật và biết
được đặc điểm của động vật mà các em đang học.
* Dạng phiếu học tập tiếp nhận kiến thức mới
Ví dụ : Khi dạy phần đặc điểm chung của lớp thú giáo viên có thể chuẩn
bò phiếu học tập.
Tìm ra đặc điểm chung của lớp thú
Trang 20
S¸ng kiÕn kinh nghiƯm sinh hoc ngun viƯt hïng trêng: pt-dtnt
Môi
trường
Cơ quan tuần hoàn
Thân
nhiệt
sinh
sản
Số ngăn
của tim
Máu nuôi
cơ thể
Sau khi học sinh hoàn phiếu học tập thì các em có thể tự rút ra những kiến thức
về đặc điểm chung của lớp thú mà giáo viên không cần mất thời gian đàm thoại
lời, mà yêu cầu các em đứng tại chỗ trả lời những câu hỏi của giáo viên. Giáo
viên phải làm như thế nào vừa tiết kiệm để dành thời gian cho bài mới mà vừa
kiểm tra lại được khối lượng lớn những kiến thức của bài cũ. Từ đó giáo viên
mới có thể nắm được tình hình học tập của các em học ở nhà.
Ví dụ : Muốn kiểm tra bài cấu tạo trong của chim bồ câu giáo viên có thể
đặt những câu hỏi trực tiếp
Học sinh 1 : Hệ tiêu hóa của chim cấu tạo như thế nào ?
Học sinh 2 : Cho biết hệ tuần hoàn của chim bồ câu ?
Học sinh 3 : Hệ hô hấp của chim khác với hệ hô hấp của bò sát như thế
nào ?
Như vậy chỉ cần trong một thời gian rất ngắn từ 3’- 5’ là có thể kiểm tra
được 3,4 học sinh
Trang 22
S¸ng kiÕn kinh nghiƯm sinh hoc ngun viƯt hïng trêng: pt-dtnt
Tôi cũng thường xuyên dùng một hình thức kiểm tra khác mà rất hiệu
quả và còn giúp học sinh nhớ rất lâu kiến thức vừa rất thích thú đó là hình thức
kiểm tra trên mô hình, tranh vẽ, mẫu thật …
Ví dụ : Kiểm tra bài cấu tạo trong của thỏ, giáo viên có thể sử dụng mô
hình thỏ yêu cầu học sinh trình bày được cấu tạo trong của thỏ. Hình thức này
giúp HS nhớ bài sâu hơn và còn làm cho HS thích thú hơn, say mê môn học
hơn. Đồng thời giáo viên cũng biết các em nắm được bài học ở mức độ nào.
Hay kiểm tra phần cách xếp lá trên thân và cành, giáo viên có thể thực
hiện : Dùng mẫu vật thật là một cành cây còn đầy đủ lá, thân đưa ra yêu cầu
xác đònh.
Ngoài hình thức trên có thể dùng phương pháp kiểm tra bài cũ bằng
phiếu học tập.
Ví dụ; Khi kiểm tra bài cũ phần cấu tạo trong của thỏ bài cấu tạo trong
của thỏ. Tôi dùng phiếu học tập như sau:
Các hệ cơ quan Các thành phần cấu tạo trong hệ
Tiêu hoá
Mục tiêu : Nêu được các đặc điểm đặc trưng để phân biệt 3 bộ lưỡng cư. Từ đó
thấy được môi trường sống ảnh hưởng cấu tạo ngoài của từng bộ.
Hoạt động này học sinh làm việc nhóm tìm ra kiến thức, thời gian là 6 phút
Hoạt động 2 : Tìm hiểu đa dạng về môi trường sống và tập tính
Trang 24
S¸ng kiÕn kinh nghiƯm sinh hoc ngun viƯt hïng trêng: pt-dtnt
Mục tiêu : Giải thích được ảnh hưởng của môi trường đến tập tính và hoạt động
của lưỡng cư.
Hoạt động này học sinh làm việc cá nhân thu nhận thông tin sau đó thảo luận
nhóm, thời gian là 4 phút
Hoạt động 3: Đặc điểm chung của lưỡng cư
Mục tiêu : Nêu những điểm chung nhất về lớp lưỡng cư.
Học sinh thảo luận nhóm, thời gian 4 phút.
Hoạt động 4: Vai trò của lưỡng cư
Mục tiêu : Nêu được vai trò của lưỡng cư trong tự nhiên và trong đời sống.
Học sinh tự hoạt độïng cá nhân để tìm ra vai trò của lưỡng cư, thời gian cho hoạt
động là 3 phút.
4. Củng cố – Kiểm tra đánh giá
- Hoạt động củng cố tuy chiếm thời gian rất ngắn của tiết dạy nhưng rất
quan trong không thể thiếu được trong mỗi tiết học nhất là khi ứng dụng việc
đổi mới phương pháp vào bài dạy. Hoạt động củng cố trong đổi mới phương
pháp luôn được đi đồng thời và cùng lúc với hoạt động kiểm tra đánh giá của
giáo viên đối với học sinh.
- Cuối tiết dạy giáo viên phải dành thời gian cho việc kiểm tra đánh giá
trình độ nhận thức của học sinh, biết được chỗ nào học sinh tiếp thu được, chỗ
nào chưa tiếp thu được để giáo viên điều chỉnh cách dạy hợp lý và cũng giúp
các em hoàn thiện những kiến thức đó ở những tiết học sau.
- Hoạt động củng cố – kiểm tra đánh giá cũng nên thực hiện dưới nhiều
hình thức khác nhau tránh cho học sinh không nhàm chán với những câu hỏi
đàm thoại củng cố như vẫn thường sử dụng.