Sáng kiến kinh nghiệm tạo hứng thú học tập môn hóa học cho học sinh trung học cở sở - Pdf 35

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: “TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP BỘ MÔN
HÓA HỌC CHO HỌC SINH LỚP 9 BẰNG LIÊN HỆ THỰC TẾ”

1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài :
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
hiện nay, đòi hỏi cần phải có nhân lực, nhân tài để đáp ứng và thích ứng với việc
phát triển mạnh mẽ của xã hội trong đó sự nghiệp giáo dục có vai trò hết sức quan
trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ, năng động, sáng tạo, có bản lĩnh và thích ứng
cao với cuộc sống thực tế. Vì vậy, việc trang bị kiến thức cơ bản cho học sinh
trung học cơ sở là vấn đề cấp thiết của bậc học, trong đó có bộ môn Hóa học.
Hoá học là bộ môn khoa học rất quan trọng, cung cấp cho học sinh một hệ
thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hoá học, vì thế cần hình
thành ở các em học sinh những kỹ năng cơ bản, phổ thông, thói quen học tập và làm
việc khoa học để làm nền tảng cho việc giáo dục xã hội chủ nghĩa, phát triển năng lực
nhận thức, năng lực hành động. Có những phẩm chất cần thiết như cẩn thận, kiên trì,
trung thực, tỉ mỉ, chính xác, yêu chân lí khoa học, có ý thức trách nhiệm với bản thân,
gia đình và xã hội có thể hoà hợp với môi trường thiên nhiên, chuẩn bị cho học sinh
học lên cao và đi vào cuộc sống lao động.
Hóa học là môn học tiếp cận muộn đối với học sinh THCS, mà khối lượng kiến thức
học sinh cần tiếp thu tương đối nhiều, phần lớn các bài gồm những khái niệm, kiến
thức mới, rất trừu tượng, khó hiểu nên việc lĩnh hội kiến thức của học sinh không phải
dễ dàng, nhiều học sinh cảm thấy chán học, kết quả học tập bộ môn rất thấp. Như
chúng ta biết hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống, một trong những yếu tố để đạt
giờ dạy có hiệu quả, nâng cao tính hứng thú cho học sinh là phát huy tính thực tế
của học sinh, giúp học sinh giải thích những hiện tượng trong tự nhiên, hiểu được
những dụng ý khoa học hóa học trong những câu ca dao – tục ngữ mà thế hệ trước
để lại và có thể ứng dụng trong thực tiễn đời sống thường ngày chỉ bằng những
kiến thức rất phổ thông mà không gây nhàm chán, xa lạ. Bên cạnh đó có tác dụng
kích thích tính chủ động, sáng tạo, suy luận nhanh nhạy và hứng thú trong môn
học, làm học sinh cảm thấy yêu thích môn học. Để giúp học sinh giải thích tốt các

2.1.1. Về giáo viên:
- Trong giảng dạy, giáo viên chưa chú trọng đến việc liên hệ thực tế, chưa giúp
học sinh thấy được sự gắn liền của hóa học với cuộc sống.


- Dung lượng kiến thức mỗi tiết khá dài, khó nên nhiều khi giáo viên chủ yếu cho
HS thiên về nghiên cứu lý thuyết.
- Các nội dung kiến thức thực tế rất phong phú, phức tạp mà tài liệu nghiên cứu
chưa nhiều.
- Giáo viên chưa đầu tư thời gian nhiều để nghiên cứu các tài liệu tham khảo.
2.1.2 Về học sinh:
- Các em mới làm quen với bộ môn Hóa bắt đầu từ lớp 8 nên nhiều học sinh còn
bỡ ngỡ trước những kiến thức mới lạ, chưa tìm tòi để phát hiện kiến thức nên khả
năng tiếp thu bài còn hạn chế, một bộ phận học sinh chưa chăm học.
- Kiến thức thực tế của học sinh quá ít, nhiều học sinh tỏ ra lúng túng, không tìm
ra cách xử lí khi gặp các hiện tượng thực tế, ngay cả những vấn đề tưởng chừng hết
sức cơ bản trong cuộc sống hàng ngày.
- Học sinh thường nhàm chán trước kiến thức dài, tương đối khó, các em chủ yếu
học theo lối ghi chép, đọc thuộc; các nội dung lĩnh hội chủ yếu là viết phương trình
và tính toán.
- HS bồi dưỡng HSG có nhiều bài tập dạng giải thích hiện tượng nhưng do kiến
thức thực tế của các em còn ít nên khả năng giải quyết các bài tập lại khó khăn.
- Học sinh ít có thói quen nghiên cứu các tài liệu tham khảo.
Do nhiều nguyên nhân trên nên khả năng yêu thích bộ môn, năng lực học tập
của học sinh vẫn còn yếu dẫn đến chất lượng học tập bộ môn Hóa 9 ở các trường
THCS nói chung và trường THCS chúng tôi vẫn chưa mang lại hiệu quả cao.
Trước khi nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm này, tôi tiến hành khảo sát trên lớp
9A, B trường THCS đơn vị tôi công tác.
Sự hứng thú học tập bộ môn Hóa của học sinh khi chưa nghiên cứu đề tài.
Số lượng

43,8
14
43,8

TB
SL
12
13

%
37,5
40,6

Yếu
SL
6
5

%
18,8
15,6

Kém
SL
%
0
0
0
0


những kiến thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặp
hiện tượng đó, học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó.
- Liên hệ thực tế qua những câu chuyện ngắn có tính chất khôi hài, gây cười có
thể xen vào bất cứ thời gian nào trong suốt tiết học; có thể góp phần tạo không khí
học tập thoải mải và cũng là cách kích thích niềm đam mê học hóa.


- Tự làm thí nghiệm qua các hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống hằng
ngày…sau bài học; giúp học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải
thích hay tự tái tạo lại kiến thức qua các thí nghiệm, nhằm phát huy khả năng ứng
dụng hóa học vào đời sống thực tiễn, tính sáng tạo, hứng thú của học sinh.
* Thứ 3: Đưa ra một số ví dụ cụ thể về liên hệ thực tế trong chương trình Hóa 9
2.2.1. Liên hệ thực tế khi giới thiệu bài giảng mới. Cách nêu vấn đề này có
thể tạo cho học sinh bất ngờ, có thể là một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất
bình thường mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của
học sinh trong quá trình học tập.
Ví dụ 1: Trước khi vào giảng dạy bài: “Một số oxit quan trọng - CaO” (lớp 9), giáo
viên có thể nêu vấn đề vào bài bằng câu hỏi:
Tại sao khi cho vôi sống vào nước, ta thấy khói bốc lên mù mịt, nước vôi như
bị sôi lên và nhiệt độ hố vôi rất cao có thể gây nguy hiểm cho tín mạng của người
và động vật. Do đó cần tránh xa hố đang tôi vôi hoặc sau khi tôi vôi ít nhất 2
ngày ?
Để giải quyết thắc mắc trên, chúng ta nghiên cứu bài : “Một số oxit quan trọng - CaO”
* Với cách giới thiệu trên sẽ gợi mở cho học sinh chú ý tìm hiểu hiện tượng khi
cho vôi sống vào nước. Trong quá trình học tính chất hóa học của CaO sẽ giải thích:
Khi tôi vôi(cho vôi sống vào nước) xảy ra phản ứng tạo thành canxi hiđroxit:
CaO + H2O → Ca(OH)2
Phản ứng này tỏa rất nhiều nhiệt nên làm nước sôi lên và bốc hơi đem theo cả những
hạt Ca(OH)2 rất nhỏ tạo thành như khói mù trắng. Do nhiệt tỏa ra nhiều nên nhiệt độ
của hố vôi rất cao. Do đó người và động vật cần tránh xa hố vôi để tránh rơi xuống hố

lại có tính chất như vậy. Và trong quá trình học về tính chất của khí Clo các em sẽ
giải thích được như sau :
Khi sục vào nước một lượng nhỏ Clo, nước có tác dụng sát trùng do clo tan
một phần (gây mùi) và một phần tác dụng với nước :
H2O + Cl2

HCl + HClO

Hợp chất HClO không bền có tính oxi hóa mạnh, có khả năng tẩy màu và
diệt khuẩn.
- Lưu ý: Không nên dùng nước máy để tưới cây cảnh.


2.2.2. Liên hệ thực tế qua các phản ứng hóa học cụ thể trong bài học hoặc
từ các hiện tượng thực tế, giáo viên có thể dẫn dắt học sinh nghiên cứu các nội
dung hóa học cụ thể trong bài học mà không cần thực hiện thí nghiệm.
Cách nêu vấn đề này có thể sẽ mang tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu và
thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học và thấy môn hóa học rất gần gũi với cuộc sống
các em, giáo viên có thể giải thích để giải tỏa tính tò mò của học sinh. Đồng thời
góp phần giúp học sinh nhớ hiện tượng và phương trình nhanh hơn.
Ví dụ 1: Khi dạy bài “Một số oxit quan trọng” (lớp 9), sau khi xong phần tính chất
hóa học của SO2, giáo viên có thể liên hệ thực tế và liên hệ bảo vệ môi
trường(hoặc có thể hướng dẫn HSG lớp 9 làm bài tập giải thích hiện tượng)
“Hiện tượng mưa axit” là gì ? Tác hại như thế nào ?
- Giải thích: Trong khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong (ô
tô, xe máy) có chứa các khí SO 2, NO, NO2,…Các khí này tác dụng với O 2 và hơi
nước trong không khí nhờ xúc tác oxit kim loại (có trong khói, bụi nhà máy) tạo ra
axit sunfuric H2SO4, HNO3,…
2SO2 + O2 + 2H2O → 2H2SO4
Axit H2SO4 và HNO3 tan vào nước mưa tạo ra mưa axit.

là khí độc, có thể kết hợp với hemoglobin trong máu ngăn không cho máu nhận oxi
và cung cấp oxi cho tế bào, gây rối loạn hệ thống hô hấp, tuần hoàn, nhiều trường
hợp tử vong do ngửi nhiều khí này, nó sinh ra trong lò khí than đặc biệt là than ẩm,
vì thế khi sưởi than phải khô, lò phải thoáng, tuyệt đối không dùng bếp than để
sưởi và ủ bếp trong phòng kín.
Ví dụ 5 : Khi dạy về bài “Protein”(ở lớp 9), sau khi học xong phần tính chất của
protein, giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau:
Giải thích vì sao khi nấu canh cua thì có gạch cua nổi lên? Khi nấu trứng,
hoặc cho rượu etylic vào thì lòng trắng trứng kết tủa lại ?
- Khi nghiên cứu xong phần tính chất của protein thì có thể giải thích: Vì gạch cua,
lòng trắng trứng là protein, trong những trường hợp đó có xảy ra sự kết tủa protein
bằng nhiệt, hoặc bằng hóa chất, gọi là sự đông tụ.
Ví dụ6 : Khi dạy về bài “Canxi oxit” (ở lớp 9), để tìm hiểu tính chất CaO tác dụng
với oxit axit liên hệ thực tế để dẫn dắt học sinh tìm hiểu như sau :
Khi mua vôi sống (CaO) về để làm vật liệu xây dựng, nếu bảo quản không
cẩn thận để ngoài trời một thời gian có hiện tượng gì?


- HS : Vôi sống bị vón cục.
- GV: Giải thích: vôi sống hấp thụ CO2 trong không khí tạo đá vôi(vón cục)
CO2 + CaO→ CaCO3
Từ đó dẫn dắt cho học sinh biết CaO có thể phản ứng với một số oxit axit.
- Từ đó cũng nhắc nhở HS cách bảo quản vôi sống để không làm giảm chất lượng.
Ví dụ7: Khi dạy bài “ Protein” (ở Hóa 9), để tìm hiểu tính chất hóa học protein bị
phân hủy bởi nhiệt giáo viên không cần làm thí nghiệm mà có thể dẫn dắt học sinh
tìm hiểu từ hiện tượng kho cá, thịt(protein) bị cháy, có mùi khét để HS hiểu được
khi đun nóng mạnh và không có nước, protein bị phân hủy tạo ra những chất bay
hơi và có mùi khét, từ đó học sinh biết cách bảo vệ môi trường qua tính chất này.
2.2.3. Liên hệ thực tế sau khi đã kết thúc bài học. Cách nêu vấn đề này có
thể tạo cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hiện

cây.


Nhờ hiện tượng này, hàng năm làm tăng 6−7 kg N cho mỗi mẫu đất.
Ví dụ 2 : Sau khi học xong bài “Tính chất vật lý của kim loại” (ở lớp 9), giáo viên
có thể liên hệ thực tế như sau :
Tại sao nhôm lại được dùng làm dây dẫn điện cao thế ? Còn dây
đồng lại được dùng làm dây dẫn điện trong nhà?
- Giải thích: Tuy đồng dẫn điện tốt hơn nhôm nhưng nhôm (khối lượng
riêng của nhôm là 2,70g/cm3) nhẹ hơn đồng (khối lượng riêng của đồng là 9,1
g/cm3). Do đó, nếu như dùng dây đồng làm dây dẫn điện cao thế thì phải tính đến
việc xây các cột điện sao cho chịu được trọng lực của dây điện. Việc làm đó không
có lợi về mặt kinh tế. Còn trong nhà việc chịu trọng lực của dây dẫn điện không
ảnh hưởng lớn lắm. Vì vậy, ở trong nhà thì ta dùng dây dẫn điện bằng đồng.
Ví dụ 3: Sau khi dạy xong tính chất hóa học của kim loại hoặc tính chất hóa học của
phi kim: Kim loại tác dụng với phi kim(lớp 9), giáo viên có thể liên hệ thực tế và lưu ý
học sinh qua câu hỏi sau:
Tại sao khi đánh rơi vỡ nhiệt kế thủy ngân thì không được dùng chổi quét mà nên
rắc bột S lên trên?
Thủy ngân (Hg) là kim loại ở dạng lỏng, dễ bay hơi và hơi thủy ngân là một
chất độc. Vì vậy khi làm rơi vỡ nhiệt kế thủy ngân nếu như ta dùng chổi quét thì thủy
ngân sẽ bị phân tán nhỏ, làm tăng quá trình bay hơi và làm cho quá trình thu gom khó
khăn hơn. Ta phải dùng bột S rắc lên những chỗ có thủy ngân, vì S có thể tác dụng
với thủy ngân tạo thành HgS dạng rắn và không bay hơi.
o
Hg + S t

HgS

Quá trình thu gom thủy ngân cũng đơn giản hơn.

9. Nhằm giúp cho HS hiểu biết thêm về việc phòng cháy chữa cháy và đây cũng là vấn
đề thiết thực có khi xảy ra trong phòng thí nghiệm (cháy nổ natri …).
Ví dụ7: Sau khi học xong bài “Axit cacbonic – Muối cacbonat” giáo viên có thể
liên hệ thực tế như sau:(hoặc hướng dẫn HSG làm bài tập giải thích )
Tục ngữ Việt Nam có câu : “Nước chảy đá mòn”, câu này mang hàm ý
của khoa học hóa học như thế nào ?
- Giải thích : Trong đá, thông thường chủ yếu là CaCO3. Vì trong nước có
lẫn khí CO2 nên sẽ xảy ra phản ứng :
CaCO3 + CO2 + H2O → Ca(HCO3)2


Khi nước chảy sẽ cuốn Ca(HCO3)2 trôi theo, qua thời gian đá sẽ bị
mòn dần.
Ví dụ8: Sau khi học xong bài “Axit cacbonic – Muối cacbonat” (ở lớp 9) giáo viên
có thể liên hệ thực tế hoặc hướng dẫn HSG làm bài tập giải thích:
Giải thích sự tạo thành thạch nhũ ở hang động Phong Nha.
- Giải thích: Trong đá vôi có thành phần chủ yếu là CaCO3. Vì trong nước
có lẫn khí CO2 nên sẽ xảy ra phản ứng :
CaCO3 + CO2 + H2O → Ca(HCO3)2(dd)
Ca(HCO3)2 ở trạng thái lỏng, chảy về các khe đá. Dưới tác động của nhiệt độ
to

Ca(HCO3)2 phân hủy thành CaCO3(r):

Ca(HCO3)2→CaCO3 + CO2 + H2O
qua hàng ngàn năm tạo thành các thạch nhũ đẹp.
Qua hiện tượng này các em thấy hóa học trở nên gần gũi đối với cuộc sống, làm
cho học sinh yêu thiên nhiên hơn và có ý thức bảo vệ,
2.2.4. Liên hệ thực tế thông qua những câu chuyện ngắn có tính chất khôi
hài, gây cười có thể xen vào bất cứ thời gian nào trong suốt tiết học. Hướng này

Ví dụ 3: Khi học bài “Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học”, giáo viên có thể kế
cho học sinh nghe câu chuyện:
“Máy tính điện tử đầu tiên” trong hóa học
Máy tính điện tử có khả năng làm được rất nhiều việc và vai trò của máy tính điện
tử trong thời đại này không ai là không công nhận. Toàn bộ việc làm của con
người là biết giao phó chương trình hoạt động cho máy tính điện tử. Với sự giúp
đỡ của máy tính điện tử các nhà nghiên cứu biết được mọi điều về vô số quá trình
hóa học phức tạp trước khi đưa chúng vào trong thực tiễn.
Nhưng các nhà hóa học đã có trong tay một “máy tính điện tử” khá khác thường
mà nó được phát minh ra vào khoảng 100 năm trước khi thuật ngữ máy tính điện
tử xuất hiện trong ngôn ngữ thế giới.
Bộ máy đặc biệt này chính là hệ thống tuần hoàn các nguyên tố.
Hệ thống tuần hoàn – máy tính điện tử này – tạo nên khả năng tiên đoán sự tồn tại
của các nguyên tố chưa biết, chưa được khám phá ngay cả ở trong phòng thí
nghiệm. Và không chỉ tiên đoán mà còn mô tả tính chất của chúng.


Máy tính điện tử này cho biết đó là kim loại hay phi kim, nặng như chì hay nhẹ
như natri... và nên tìm kiếm những nguyên tố bí mật trong các loại khoáng sản nào
của trái đất.
Máy tính điện tử này – sản phẩm vĩ đại mà Mendeleeplà người sáng chế - đưa hóa
học tiến thật xa.
Ví dụ 4 : Khi học về bài “Benzen” (ở lớp 9), ở cấu tạo của benzen, giáo viên có thể
kể cho học sinh nghe một giai thoại về Kekule – phát minh cấu tạo của benzen.
Một lần, Kekule ngồi trên xe buýt ở London và nghĩ mãi mà chưa tìm ra
được một cấu tạo nào tương ứng với tính chất của benzen. Ông mơ màng nhìn ra
ngoài xe và chợt thấy trên cành cây ở công viên có sáu con khỉ, con nọ đánh đu
vào chân con kia thành vòng sáu cạnh. Trong khi nô đùa, có lúc các chú khỉ bám
với nhau bằng cả hai chân hai tay, có lúc lại chỉ bằng một cặp tay chân. Một tia
chớp nảy ra trong đầu ông :

cốc ở dạng bọt khí.
Ví dụ 3: Em có biết cách làm xà phòng?
* Cách làm: Thông thường thí nghiệm xà phòng hoá ít thành công (chỉ thu
được váng xà phòng). Sau đây là cách làm để thu được bánh xà phòng:
Cho dầu ăn và mở bò (đây là bí quyết để TN thành công) vào chén sứ, đun
trên ngọn lửa đèn cồn.
Từ từ cho dung dịch NaOH đã pha sẵn vào dầu ăn, khuấy đều đến khi hỗn
hợp này hoà đều với nhau (như hồ tinh bột)
Đổ hỗn hợp ra khuôn ta sẽ thu được xà phòng bánh.
* Áp dụng: Giáo viên thực hiện trong bài giảng “Chất béo” hoá học 9. Giúp
học sinh hiểu rõ bản chất của hoá học trong sản xuất và đời sống, tạo sự hưng phấn
trong học tập. Đó là một thí nghiệm tự làm được.
Sau khi áp dụng một số phương pháp mở rộng kiến thức thực tế trong bài
giảng hóa học vào các tiết dạy Hóa 9, đối chiếu với năm trước tôi thấy đã đạt được
kết quả khả quan :
+ Lớp học sinh động, sôi nổi, tăng hứng thú học tập của các em(tăng 30%),
nhiều học sinh yêu thích bộ môn Hóa hơn.
Sự hứng thú học tập bộ môn của học sinh khi áp dụng đề tài:
Số lượng
9A (32)

Hứng thú HT
SL
%
25
78,1%

Không hứng thú HT
SL
%


TB
SL
11
12

%
34,4
37,4

Yếu
SL
%
3
9,3
2
6,3

Kém
SL
%
0
0
0
0

TB trở lên
SL
%
29

đam mê, tâm huyết với nghề, phải có phương pháp làm việc khoa học, phải đầu tư
nhiều thời gian và công sức cho việc nghiên cứu, tìm tòi tài liệu, luôn không ngừng
nâng cao trình độ và tư duy của bản thân. Giáo viên phải là người hướng dẫn, điều
khiển học sinh học tập tích cực. Bên cạnh đó cần ở học sinh tính tự giác, tự giải
quyết các vấn đề mà giáo viên đã hướng dẫn, tự phát hiện ra các kiến thức mới,
phải biết xâu chuỗi kiến thức lí thuyết với kiến thức thực tế, tư duy sáng tạo và
lôgic. Đồng thời phải có sự đầu tư, giúp đỡ của các bạn đồng nghiệp, nhà trường
về thời gian, kinh nghiệm.
3.2. Đề xuất, kiến nghị:
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy một vài điểm cần lưu ý sau :
3.2.1. Về phía giáo viên :
- Để thực hiện tốt, người giáo viên cần nghiên cứu kỹ bài giảng, xác định
được kiến thức trọng tâm, tìm hiểu, tham khảo các vấn đề thực tế liên quan phù
hợp với học sinh. Hình thành cho học sinh khả năng phát huy tính chủ động, sáng
tạo, phải mang tính hợp lí và hài hòa. Đồng thời, hướng dẫn cho học sinh thói quen
tìm hiểu, nghiên cứu, xử lí thông tin.
3.2.2. Về phía nhà trường :
- Nhà trường cần bổ sung thêm các tài liệu tham khảo về giải thích một số
hiện tượng thực tế, hóa học vui,… cho giáo viên, học sinh ở thư viện.
- Nhà trường cần bổ sung thêm một số hóa chất và dụng cụ cho đầy đủ để
việc thực hành thí nghiệm được tốt hơn.
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ tôi vừa rút ra từ mấy năm dạy học và có thể
không còn mới mẻ với các bạn đồng nghiệp và việc thực hiện chuyên đề này trong
thời gian ngắn do đó kết quả chưa như ý muốn. Vào năm học tới tôi sẽ áp dụng
chuyên đề này trong cả năm học, hi vọng phần nào sẽ góp phần nâng cao chất
lượng dạy học bộ môn Hóa. Tuy đã rất cố gắng nhưng không tránh khỏi những


thiếu sót, kính mong các cấp lãnh đạo, các bạn đồng nghiệp góp ý để đề tài được
hoàn thiện hơn.

2. Hiệu quả :
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
trong toàn ngành có hiệu quả cao.
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
tại đơn vị có hiệu quả cao.
3. Khả năng áp dụng :
- Cung cấp tốt được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính
sách :
Tốt
Khá
Đạt


- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện
và dễ đi vào cuộc sống :
Tốt
Khá
Đạt
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu
quả trong phạm vi rộng.
Tốt
Khá
Đạt
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
(Ký và ghi rõ họ tên)

THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status