MỘT SỐ KINH NGHIỆM TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN SINH HỌC LỚP 6, 7 Ở TRƯỜNG THCS - Pdf 25

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MỸ ĐỨC
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MỸ ĐỨC
TRƯỜNG THCS AN TIẾN
TRƯỜNG THCS AN TIẾN
***
***

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Tên đề tài
“MỘT SỐ KINH NGHIỆM TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP
MÔN SINH HỌC LỚP 6, 7 Ở TRƯỜNG THCS”

Lĩnh vực : SINH HỌC
Tên tác giả : TRẦN QUYẾT THẮNG
Giáo viên môn : SINH HỌC
Năm học: 2011 – 2012
1
PHÒNG GD&ĐT MỸ ĐỨC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG THCS AN TIẾN ĐỘC LẬP -TỰ DO -HẠNH PHÚC
_____________ o0o_____________
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SƠ YẾU LÝ LICH:
- Họ và tên : TRẦN QUYẾT THẮNG
- Ngày, tháng, năm sinh: 20 / 08 / 1979 .
- Năm vào ngành : 2006
- Chức vụ và đơn vị công tác : Giáo viên trường THCS An Tiến
Mỹ Đức , Hà Nội .

- Trình độ chuyên môn : Đại học
- Hệ đào tạo : Tại chức

ngành giáo dục càng được nâng lên và chú trọng hơn nhằm mục đích đào tạo ra
những con người mới XHCN có đức, có tài, có năng lực để đáp ứng được nhu
cầu phát triển của toàn xã hội.
3
Trước thực tiễn đó, từ năm học 2002 – 2003 Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã
tiến hành đổi mới chương trình sách giáo khoa ở tất cả các môn học, nhằm
nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục để đáp ứng nhu cầu của thực tế. Riêng
môn Sinh học là một môn khoa học tự nhiên luôn luôn gắn liền với thực tế.
Muốn các em học sinh học tốt môn học này đòi hỏi người giáo viên phải cố
gắng tìm tòi, học hỏi để làm thế nào cho các em học sinh nắm được kiến thức
một cách vững chắc và ngày càng say mê yêu thích môn học hơn và tạo sự hứng
thú học tập cho các em học sinh để các em lĩnh hội được kiến thức của môn học
một cách chủ động sáng tạo phù hợp với chương trình đổi mới sách giáo khoa.
Song để tạo hứng thú học tập môn sinh học ở trường THCS là việc làm
khó khăn. Chính vì lẽ đó trong thời gian qua, với trách nhiệm của người giáo
viên tôi đã nghiên cứu, tìm tòi ra những cách thức Dạy – Học để tạo ra hứng thú
học tập môn Sinh học cho học sinh trong Trường THCS.
B. THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN.
I. Thuận lợi
- Nhà trường đã được trang bị một số thiết bị dạy học hiện đại như : Kính
hiển vi, máy chiếu, đầu VCD, Tivi … và những đồ dùng dạy học, dụng cụ thí
nghiệm đặc trưng của bộ môn.
- Môn sinh học là môn học gần gũi với thiên nhiên chứa đựng kiến thức sinh
động, phong phú, hấp dẫn kích thích tính tò mò ham hiểu biết của học sinh. Đó
cũng chính là thuận lợi rất lớn cho việc hình thành động cơ học tập, nhu cầu
nhận thức, hứng thú học tập cho học sinh.
- Học sinh trong trường có đầy đủ sách giáo khoa của các môn học đảm bảo
cho học sinh có thể nghiên cứu bài trước ở nhà.
- Thư viện nhà trường có rất nhiều loại sách tham khảo, các em có thể mượn
đọc để mở mang thêm kiến thức về môn học.

nhất là môn sinh học 6, 7. Cụ thể nội dung được trình bày như sau:
I. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh trước giờ lên lớp
1. Chuẩn bị của giáo viên:
a. Giáo án :
Muốn tiết dạy đạt hiệu quả cao thì sự chuẩn bị của giáo viên là rất quan
trọng. Đặc biệt là giáo án khi lên lớp, để có một giáo án tốt đòi hỏi người giáo
viên phải :
- Soạn giáo án một cách khoa học, sâu sắc tạo tiết dạy hấp dẫn không bị khô
khan như đặc trưng của những môn học tự nhiên khác. Phải hình dung được
5
diễn biến của tiết dạy trong trí tưởng tượng của mình để chuẩn bị giáo án có tính
logic khoa học.
- Xác định kiến thức cơ bản của mỗi bài học, lựa chọn những kiến thức cơ
bản nhất để có thể vận dụng những phương pháp nhằm tích cực hoá hoạt động
của học sinh. Để làm được điều đó giáo viên phải nghiên cứu thật kĩ bài học
trong sách giáo khoa, sách tham khỏ… nhằm nắm được nội dung kiến thức cơ
bản mình cần truyền đạt và khối lượng kiến thức học sinh có thể chiếm lĩnh. Từ
đó đưa ra những phương pháp cụ thể để học sinh tiếp cận.
Ví dụ : Soạn bài đa dạng và đặc điểm chung của lớp chim, phần I : “Các
nhóm chim” ta cần xác định kiến thức cơ bản của phần này là đặc điểm điểm
của các nhóm chim thích nghi với đời sống khác nhau của chúng, sau khi cho
các nhóm học sinh thảo luận tìm ra đặc điểm cấu tạo, đời sống của các nhóm
chim chạy, nhóm chim bơi và nhóm chim bay. Tôi cho các nhóm học sinh tiếp
tục thảo luận so sánh giữa các nhóm chim. Khi so sánh học sinh tìm ra được
điểm khác nhau giữa các nhóm chim càng làm cho học sinh khắc sâu kiến thức
hơn về đặc điểm của các nhóm chim. Còn học sinh tìm ra được những chỗ
giống nhau thì đó là đặc điểm chung của lớp chim. Vậy thì vào hoạt động sau
tìm đặc điểm chung của lớp chim giáo viên không phải mất nhiều thời gian để
trình bày hoạt động này. Mặt khác trong quá trình học sinh thực hiện so sánh tôi
tiến hành treo tranh vẽ về ba nhóm chim để học sinh quan sát tự tìm ra kiến

Ví dụ: Khi soạn bài quan sát cấu tạo trong của ếch đồng, của chim bồ câu
hay của thỏ, muốn gây sự chú ý cao độ cho học sinh và khơi dậy tính tìm tòi của
học sinh, giáo viên nên cho học sinh quan sát và chú thích trên mẫu mổ dựa vào
hình vẽ trong sách giáo khoa.
Nếu có điều kiện tốt hơn trong giờ sinh học ngoại khóa, tôi thường hướng
dẫn cho học sinh tự tay mổ mẫu vật thật và quan sát. Sau đó tự học sinh vận
dụng những kiến thức đã học chú thích trực tiếp trên mẫu mổ. Khi đó giáo viên
đã trực tiếp rèn cho học sinh đồng thời một lúc rất nhiều kĩ năng như : Kỹ năng
mổ mẫu thật, kỹ năng quan sát, kỹ năng phân tích, kỹ năng hợp tác giữa các bạn
trong cùng một nhóm. Được như thế càng làm cho học sinh yêu thích môn học
hơn.
- Còn khi xác định về vai trò của động thực vật, tôi tự cho học sinh vận dụng
những hiểu biết sẵn có của mình trong cuộc sống để tìm ra vai trò của chúng.
Ví dụ: Khi nói về vai trò những loài sinh vật cho học sinh thảo luận nhóm
với những câu hỏi sau :
7
+ Hãy trình bày những lợi ích mà ngành thân mềm đã đem lại cho đời
sống của con người và trong tự nhiên?
+ Hãy kể ra những tác hại của thân mềm đối với đời sống của con người
và trong tự nhiên?
Học sinh tiến hành thảo luận nhóm nêu được mặt lợi, mặt hại của thân
mềm đối với đời sống con người và trong tự nhiên từ những hiểu biết trong
cuộc sống của học sinh.
- Xác định mục tiêu của từng hoạt động học tập và hình thức tổ chức học tập
trong mỗi bài soạn từ đó giúp học sinh lĩnh hội kiến thức của kiến thức mới của
bài học. Đây là việc làm quan trọng nhất trong quá trình soạn một giáo án, do
đó đòi hỏi người giáo viên cần phải lựa chọn những phương pháp phù hợp với
mỗi loại hoạt động và từng loại đối tượng học sinh.
Ví dụ: Bài đặc điểm cấu tạo ngoài của lá
Hoạt động 1 :Tìm hiểu đặc điểm bên ngoài của lá

chim, khi đó giáo viên cần phải giải thích cho học sinh hiểu dơi cũng biết bay
nhưng không phải thuộc lớp chim.
- Chuẩn bị những đồ dùng dạy học phải phù hợp với nội dung của bài giảng
đó. Giáo viên cần phải làm những thí nghiệm để minh hoạ tiết dạy để tiết dạy
thêm phong phú.
Ví dụ : Khi dạy bài : Vận chuyển các chất trong thân. Giáo viên buộc
phải làm được hai thí nghiệm vận chuyển nước và muối khoáng hoà tan, thí
nghiệm vận chuyển chất hữu cơ phải làm trước một thời gian lâu. Hay thí
nghiệm trong bài quang hợp lá cây chế tạo ra chất hữu cơ khi có ánh sáng mặt
trời giáo viên cũng phải thực hiện khi ở nhà sau đó đem đến lớp giới thiệu cho
học sinh.
b. Sử dụng phương pháp giảng dạy.
Trong dạy học sinh học việc sử dụng phương pháp chính xác khoa học là
điều cực kỳ quan trọng giúp học sinh lĩnh hội được tri thức. Nhưng việc vận
dụng phương pháp nào vào dạng bài nào để giảng dạy có hiệu quả là một điều
không dễ. Để thực hiện tốt việc vận dụng phương pháp vào từng dạng bài học
đòi hỏi người giáo viên phải hiểu được những ưu nhược điểm của từng phương
pháp để áp dụng có hiệu quả.
Những phương pháp trong những năm qua tôi đã áp dụng giảng dạy và
đem lại hiểu quả đó là: phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp nêu vấn đề,
đàm thoại, thực hành thí nghiệm … Trong những phương pháp đó tôi thấy học
sinh hứng thú học tập nhất là phương pháp dạy học theo nhóm và phương pháp
đặt vấn đề và giải quyết vấn đề.
*Phương pháp dạy học bằng hoạt động nhóm.
9
 Tác dụng của phương pháp
Tác dụng của phương pháp này là các em học sinh được hướng dẫn bởi giáo
viên thông qua các hoạt động học tập, được khuyến khích trao đổi các kiến
thức, các kinh nghiệm và được bày tỏ ý kiến của mình trước các bạn thông qua
quá trình học tập. Đây là cách tiếp cận để dạy học tích cực.

trong bài học.
+ Thành lập nhóm ngẫu nhiên: bằng đến học sinh theo số thứ tự 1, 2, 3,
4… và lặp lại cho đến hết số học sinh của lớp. Tất cả số học sinh có cùng số thứ
tự vào một nhóm. Cách chia nhóm này thường được tôi sử dụng trong các tiết
thực hành hoặc thực hiện những trò chơi học tập nhằm củng cố kiến thức …
VD: Để củng cố kiến thức chương: Thân
Tôi cho học sinh chơi một trò chơi và thực hiện việc chia nhóm như sau : đếm
số thứ tự học sinh trong lớp 1, 2, 3,4 và lặp lại cho đến hết số học sinh trong
lớp. Khi đó ta được 3 nhóm học sinh là nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3, nhóm 4, sau
đó cho 4 nhóm học sinh tiến hành từng thành viên một lên bảng ghi ra những
loại thân đã học. Nhóm nào ghi đúng và ghi được nhiều loại cây thì nhóm đó
thắng. Trong trò chơi này giúp cho học sinh thư gian trong tiết học và còn làm
cho học sinh nhớ lại các kiến thức trong chương thân như : các loại thân có thân
đứng, thân leo, thân bò.
+ Thành lập nhóm chuyên biệt: đối với hình thức này thường ít khi sử
dụng, chỉ khi nào nhóm thường xuyên thảo luận gặp những vấn đề khó thì nhóm
chuyên biệt mới sử dụng. Cách thực hiện như sau: từ những nhóm thường
xuyên tôi chọn 1-2 học sinh khá giỏi trong nhóm để thành lập nhóm chuyên
biệt. Nhóm này sẽ được giáo viên giao cho những câu hỏi khó, những vấn đề
khó, thảo luận trước để linh hội được kiến thức sau đó trở về nhóm thường
xuyên của mình phổ biến lại cho các bạn trong nhóm. Còn các bạn trong
nhóm thường xuyên vẫn duy trì để giải quyết những vấn đề đơn giải song song
với nhóm chuyên biệt.
 Kỹ thuật quản lý nhóm:
 Bước 1: Giao nhiệm vụ:
- Nêu mục tiêu của hoạt động nhóm: giáo viên thông báo rõ ràng mục
tiêu của hoạt động. Sau hoạt động nhóm, học sinh cần thu nhận được
những kiến thức và kỹ năng gì.
- Tóm tắt khái quát toàn bộ hoạt động: Giáo viện mô tả khái quát toàn bộ
hoạt động, có những công việc gì, làm như thế nào.

thu cần được tổng kết, tóm tắt, hệ thống sau hoạt động nhóm. Đồng thời
trong bước này, giáo viên cần rút kinh nghiệm về tinh thần, thái độ tham
12
gia hoạt động của các nhóm, từng cá nhân. Đây cũng là những điều kiện
cần thiết cho giao viên để tổ chức hoạt động tương tự.
Tôi xin lấy một ví dụ khi dạy bài “Biến dạng của rễ” trong chương trình
sinh học lớp 6 Trung Học Cơ Sở.
Trước tiết học này giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh sưu tầm mẫu vật như:
củ cà rốt, củ cải, củ sắn, cành trầu không, cây hồ tiêu, cây tầm gởi, dây tơ
hồng… hoặc tranh vẽ ảnh chụp các loại cây: cây bần, cây bụt mọc, cây vạn liên
thanh, cây mắm có bộ rễ thở trên mặt đất …
 Bước 1: dựa trên những vật thật và tranh ảnh mà em sưu tầm hoặc giao
viên cung cấp sao cho đủ các loại củ để thực hiện nhiệm vụ. Giáo viện
giao nhiệm vụ cho học sinh: “Tìm hiểu đặc điểm hình thái và chức năng
của các loại rễ biến dạng” bằng các quan sát mẫu vật hoặc tranh vẽ và
điền vào bảng sau những thông tin cần thiết.
TT Tên về biến dạng Tên cây
Đặc điểm hình thái
của biến dạng
Chức năng đối
với cây
Giáo viên hướng dẫn các làm bài tập:
Thảo luận phân loại các loại củ, cây theo những đặc điểm mà học sinh đã
phát hiện ra.
Cử đại diện lên trình bày kết quả của nhóm về phân loại và giải thích lý
do của việc phân loại, và giải hích lý do của việc phân loại đó (để tìm ra
những đặc điểm hình thái và chức năng của mỗi loại). Thời gian trình bày
của mỗi nhóm là 3 phút.
 Bước 2: giáo viên chia lớp thành 6 nhóm theo cách chia ngẫu nhiên
 Bước 3: sau khi chia nhóm học sinh về chỗ ngồi theo nhóm, cử nhóm

móc vào trụ bám…
Giúp cây leo lên
3 Rễ thở
Bụt mọc, mắm,
bần…
Sống lâu trong điều
kiện thiếu không khí.
Rễ mọc ngược lên
trên mặt đất…
Lấy oxi trong
không khí cung
cấp cho các phần
rễ dưới đất.
4 Giác mút
Tơ hồng, tầm
gởi…
Rễ biến đổi thành
giác mút đâm vào
thân hoặc cành của
cây khác…
Lấy thức ăn từ
cây chủ.
Giáo viên nhận xét tinh thần, thái độ làm việc trong nhóm của học sinh.
 Lập kế hoạch tổ chức nhóm
 Chọn chủ đề:
 Xác định mục tiêu
 Xác định hoạt động
 Thành lập nhóm
 Xác định thời gian
 Thực hiện hoạt động nhóm

sinh nhớ bài ngay trên lớp.
Ví dụ : Dạy bài phân biệt động vật với thực vật chương trình Sinh học
lớp 7 giáo viên cần chuẩn bị phiếu học tập để so sánh những đặc điểm giữa
động vật và thực vật :
Đặc điểm

thể
Cấu tạo từ
tế bào
Thành
xenlulozơ
ở tế bào
Lớn lên và
sinh sản
Chất hữu cơ
nuôi cơ thể
Khả năng
di chuyển
Hệ thần kinh
và giác quan
Khôn
g
Có Không Có
Khôn
g

Tự tổng
hợp
được
Sử dụng

Máu nuôi
cơ thể
Sau khi học sinh hoàn phiếu học tập thì các em có thể tự rút ra những kiến thức
về đặc điểm chung của lớp thú mà giáo viên không cần mất thời gian đàm thoại
hay giảng giải.
2. Chuẩn bị của học sinh:
Việc chuẩn bị của học sinh là rất cần thiết, đặc biệt là trong thời điểm
hiện nay Dạy – Học lấy học sinh làm trung tâm, nhằm phát huy cao độ tính độc
lập, chủ động, sáng tạo của học sinh. muốn vật học sinh cần phải chuẩn bị trước
bài ở nhà những cộng việc sau:
16
- Cần đọc trước bài ở nhà kẻ những bảng nêu đặc điểm, bảng so sánh có
trong sách giáo khoa vào vở bài tập sinh học. Trả lời những câu hỏi ở phần lệnh
trong sách giáo khoa. Khi trả lời những câu hỏi không những dựa vào kiến thức
trong bài đang soạn mà cần sử dụng những kiến thức đã học trước đây, khi đó
học sinh lại có thể hệ thống được những đã học từ trước và từ đó làm cho em
hiểu sâu và lâu hơn.
- Học sinh phần lớn được sinh ra và lớn lên từ những vùng đồng quê, đồi núi,
ven biển nơi có phong cảnh tốt, động thực vật phong phú, đa dạng. Những
tiếp xúc và hiểu biết với những cảnh vật hàng ngày giúp các em dễ dàng chuẩn
bị những mẫu động vật, thực vật như yêu cầu của giáo viên ở tiết trước, tập làm
những thí nghiệm giáo viên đã yêu cầu và hướng dẫn như ở tiết trước
Ví dụ : Học bài những điều kiện cần cho hạt nẩy mầm học sinh cần phải
làm thí nghiệm 1, 2 trong sách giáo khoa trước ở nhà. Trong lúc làm những thí
nghiệm như vậy học sinh đã lĩnh hội một phần kiến thức, khi đến lớp dưới sự
hướng dẫn của giáo viên thì học sinh chủ động tiếp thu bài một cách dễ dàng.
Mặt khác làm được thí nghiệm thành công học sinh càng thích thú hơn với môn
học.
II. Các hoạt động trên lớp
Là thực hiện truyền đạt những gì đã soạn trong giáo án và điều chỉnh

Các hệ cơ quan Các thành phần cấu tạo trong hệ
Tiêu hoá
Hô hấp
Tuần hoàn
Bài tiết
Tiến hành trên 4, hoặc 5 học sinh thời gian thực hiện chỉ nhiều nhất là 4
phút nhưng kiểm tra được khối lượng kiến thức rất lớn.
2. Dạy bài mới
Muốn có một tiết học sôi nổi và các em HS tập trung cao độ, tích cực, tự
giác tham gia vào các hoạt động học tập, thì giáo viên phải giới thiệu bài một
cách khéo léo, ngắn gọn, chứa đựng vấn đề để kích thích tính tìm tòi, khám phá
của các em.
Ví dụ : Giới thiệu bài “bộ dơi, bộ cá voi” giáo viên có thể nói dơi mắt rất
kém nhưng tại sao có cách bay thoăn thoắt rất nhanh như vậy? Để biết được
điều này bài hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu. Khi giới thiệu như thế học sinh có
thể hăng say hơn trong quá trình xây dựng bài.
18
Hoặc khi dạy bài Quang hợp trong chương trình sinh học lớp 6 : giới
thiệu “ Nhờ thực vật mà nguồn dự trữ thức ăn hữu cơ được tích luỹ trên Trái
Đất. Hàng năm thực vật chế tạo ra 4,5 tỷ tấn chất hữu cơ, tức là khoảng 70 tấn
cho mỗi đầu người và nhả ra khoảng 400 tỷ tấn khí ôxi. Vậy nhờ đâu thực vật
lại có khả năng như thế bài quang hợp hôm nay sẽ giúp em hiểu được điều đó”.
3. Hướng dẫn học sinh tìm ra tri thức mới
Để học sinh lĩnh hội tri thức mới một cách có hiệu quả giáo viên nêu rõ:
- Thứ tự những hoạt động mà học sinh phải thực hiện.
- Mục tiêu của hoạt động mà học sinh cần phải đạt được.
- Hình thức tổ chức được thực hiện các hoạt động.
- Thời gian thực hiện các hoạt động.
Ví dụ : Bài “ Đa dạng và đặc điểm chung của lưỡng cư ”
Giáo viên hướng dẫn học sinh như sau :

Ví dụ : Củng cố bài “Đặc điểm bên ngoài của lá” Giáo viên có thể thiết kế
cho học sinh một trò chơi như sau : Mỗi nhóm học sinh cử một đại diện ra chơi
trò chơi.
Mỗi nhóm học sinh sẽ tập hợp các lá cây của nhóm mình lại sau đó bịt
mắt những người tham gia chơi và dẫn người bị bịt mắt đến chỗ tập hợp lá cây.
Tiếp đó là cho người bị bịt mắt dùng tay sờ những lá cây đã tập hợp chọn ra
trong số đó đâu là lá có gân lá song song, đâu là lá có gân lá hình mạng, đâu là
lá có gân lá hình cung. Thời gian có thể tiến hành trong 2 phút, người bịt mắt
của nhóm nào chọn ra được nhiều lá hơn thì nhóm đó thắng.
Ngoài ra ta cũng có thể sử dụng những câu hỏi trắc nghiệm hoặc dạng sơ
đồ để đánh giá mức độ hiểu bài của học sinh.
Ví dụ: Khi dạy xong bài thân to ra do đâu? Giáo viên có thể sử dụng
phiếu bài tập trắc nghiệm như sau :
PHIẾU TRẮC NGHIỆM
Hãy chọn những từ thích hợp trong các từ : mạch gỗ, tầng sinh trụ, tầng
sinh vỏ, mô phân sinh, mạch rây điền vào chỗ trống các câu sau :
-Thân to ra do sự phan chia các tế bào của ……………… .(1)……………
- Vỏ cây to ra nhờ ……………………………(2)……………………………
- ………………………………… (3)…………………………………….nằm
giữa mạch rây và mạch gỗ, hằng năm cho ra phía ngoài một lớp ……
20
…………………….(4)……………………………., phía trong một lớp
………(5)……………….
Phát cho mỗi học sinh một phiếu yêu cầu các học sinh hoàn thành. Giáo
viên cho các học tự chấm điểm chéo với nhau, sau đó các học sinh báo cáo kết
quả lại với giáo viên.
Hay khi củng cố bài các loại quả giáo viên có thể thực hiện như sau:
Hãy hoàn thành đầy đủ sơ đồ tóm tắt các loại quả dưới đây bằng cách
điền các loại quả thích hợp vào dấu (?)
Các loại quả

nhiệt và thu hút được rất nhiều số lượng học sinh tham gia. Nội dung chương
trình này chủ yếu mang tính chất phổ thông những kiến thức các em đã được
học hoặc những kiến thức hàng ngày các em đã được tiếp cận. Chính vì nội
dung gần gũi với các em nên các em tham gia hết sức nhiệt tình. Từ những trò
chơi, buổi sinh hoạt như vậy làm cho tôi càng hiểu sâu tâm tư nguyện vọng của
học sinh, tình cảm thầy trò trở nên thân thiết hơn. Từ những việc tổ chức sinh
hoạt hằng tuần, hàng tháng như vậy càng kích thích lòng say mê môn học của
học sinh.
IV. Hoạt động ngoài giờ lên lớp:
Hoạt động ngoài giờ lên lớp là yếu tố quan trọng trong việc phát huy khả
năng tự nghiên cứu của học sinh, kích thích tính tò mò, tiếp cận thiên nhiên hiểu
biết thêm về môn học. Cách thực hiện :
1. Làm sổ tay sinh học :
Mỗi học sinh phải chuẩn bị cho mình một quyển sổ ghi chép những điều
nhìn thấy, những gì quan sát được. Giáo viên hưỡng dẫn học sinh cách thức
quan sát và ghi lại những gì quan sát. Hằng ngày các em học sinh thường nhìn
22
thấy sự vật hiện tượng diễn ra nhưng không hiểu về cấu tạo và các bộ phận của
chúng và tìm hiểu xem tại sao chúng lại như vậy.
Từ đầu năm học giáo viên đã hướng dẫn học sinh chuẩn bị cho mình một
quyển sổ ghi chép những sự vật hiện tượng mà học sinh quan sát được. Đối với
học sinh lớp 6 các em chọn cho mình quyển vở ghi chép những quan sát được ở
thực vật.
Ví dụ: Cây ấy tên là gì? (nếu không biết hỏi bạn bè, cha mẹ, thầy cô
giáo…), môi trường sống, các đặc điểm của thân, lá, rễ, hoa, quả, hạt. Giáo viên
cần cho học sinh giải thích tại sao chúng có những đặc điểm như vậy. Khi học
sinh không tự giải thích được thì cứ ghi nhận câu hỏi đó lại đến buổi sinh hoạt
câu lạc bộ cùng trao đổi thảo luận với tất cả bạn bè, thầy cô giáo để được hiểu
rõ hơn.
Đối với động vật học sinh cũng cần quan sát kĩ từng đặc điểm của chúng

được các thầy cô truyền thụ. Chính vì vậy trong chương trình sinh học lớp 6, 7
cuối chương trình có ba bài tham quan thiên nhiên, nằm mục đích cho học sinh
kiểm nghiệm lại thực tế trong một năm học.
Các em học sinh trong trường THCS An Tiến là một trường ở vùng nông
thôn lại gần núi nên cũng có điều kiện thực hiện những tiết học tham quan thiên
nhiên. Cứ đến cuối mỗi năm học khi chuẩn bị thi học kỳ II tôi thường tổ chức
cho các em các một buổi tham quan thiên nhiên. Các em rất hăng say tham gia
những buổi tham quan này. Tôi tiến hành cho các em mang theo một số dung cụ
như kéo cắt cành cây, kẹp ép lá cây, vợt bắt côn trùng, để các em thu thập
mẫu vật theo yêu cầu đầu buổi tôi đưa ra. Khi kết thúc buổi tham quan các em
về nhà làm một bài thu hoạch (qua buổi tham quan em hiểu thêm được những gì
về đời sống của động, thực vật?). Sau ba năm thực hiện tôi thấy rằng những tiết
học này rất bổ ích đối với các em học sinh và các em rất hứng thú tham gia. Từ
đó giáo dục học sinh tình yêu thiên nhiên, tình yêu môn học và bảo vệ thiên
nhiên.
*Tóm lại : Ngoài những biện pháp chuyên môn trên cần có sự phối hợp
tích cực giữa gia đình và nhà trường để học sinh tích cực hơn trong học tập. Đối
với trường THCS An Tiến ngoài việc giảng dạy các em học sinh trên lớp tôi
thường xuyên đến những gia đình các em học sinh thăm hỏi động viên các em
và gặp phụ huynh của những em này thông báo kết quả học tập và trao đổi với
phụ huynh giúp họ quan tâm hơn đến việc học tập của con em họ. Làm được
24
việc này càng làm cho công tác chủ nhiệm của tôi gần gũi với học sinh hơn và
ngày một tốt hơn.
D. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Với những biện pháp thực hiện trên, trong những năm học vừa qua tôi
nhận thấy kết quả học tập của học sinh ngày càng được nâng cao. Các học sinh
học tốt môn sinh học cũng được tăng lên. Tính từ năm học 2009 – 2010 trở lại
đây kết quả đạt được như sau :
Năm học 2009 – 2010


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status