“MỘT SỐ KINH NGHIỆM TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP
MÔN SINH HỌC LỚP 6, 7 Ở TRƯỜNG PT DTNT”
PHẦN II : PHẦN NỘI DUNG
A. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH – NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH
Do nhu cầu phát triển xã hội ngày càng cao, đặc biệt là khi nước ta đang
chuyển mình bước vào thời kì Công nghiệp hóa – Hiện đại hoá, thì vò trí của
ngành giáo dục càng được nâng lên và chú trọng hơn nhằm mục đích đào tạo ra
những con người mới XHCN có đức, có tài, có năng lực để đáp ứng được nhu
cầu phát triển của toàn xã hội.
Trước thực tiễn đó, từ năm học 2002 – 2003 Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã
tiến hành đổi mới chương trình sách giáo khoa ở tất cả các môn học, nhằm
nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục để đáp ứng nhu cầu của thực tế. Riêng
môn Sinh học là một môn khoa học tự nhiên luôn luôn gắn liền với thực tế.
Muốn các em học sinh học tốt môn học này đòi hỏi người giáo viên phải cố
gắng tìm tòi, học hỏi để làm thế nào cho các em học sinh nắm được kiến thức
một cách vững chắc và ngày càng say mê yêu thích môn học hơn và tạo sự
hứng thú học tập cho các em học sinh để các em lónh hội được kiến thức của
môn học một cách chủ động sáng tạo phù hợp với chương trình đổi mới sách
giáo khoa.
Song để tạo hứng thú học tập môn sinh học ở trường Phổ Thông Dân Tộc
Nội Trú là việc làm khó khăn vì đối tượng học sinh là người dân tộc Khmer còn
hạn chế về ngôn ngữ Tiếng Việt. Chính vì lẽ đó trong thời gian qua, với trách
nhiệm của người giáo viên tôi đã nghiên cứu, tìm tòi ra những cách thức Dạy –
Học để tạo ra hứng thú học tập môn Sinh học cho học sinh trong Trường Phổ
Thông Dân Tộc Nội Trú.
B. THUẬN LI VÀ KHÓ KHĂN.
I. Thuận lợi
-Nhà trường đã được trang bò một số thiết bò dạy học hiện đại như : Kính hiển
vi, máy chiếu, đầu VCD, Tivi … và những đồ dùng dạy học, dụng cụ thí
nghiệm đặc trưng của bộ môn.
-Môn sinh học là môn học gần gũi với thiên nhiên chứa đựng kiến thức sinh
gian tự học còn lại rất ít. Hơn nữa, phần lớn phụ huynh học sinh của các em
không quan tâm đến vấn đề học tập, mọi hoạt động và học tập của các em phụ
huynh thường khoán trắng toàn bộ cho nhà trường.
-Đại đa số các em rất nhút nhát trong việc bày tỏ ý kiến của mình trước đám
đông, trước các bạn đồng trang lứa. Chính điều đó là cho các em ngại bày tỏ ý
kiến của mình trước lớp và thế là khả năng chủ động sáng tạo chiếm lónh kiến
thức của các em trở nên hạn chế.
-Hệ thực vật và động vật ở xung quanh nhà trường nghèo nàn cũng ảnh
hưởng đến việc sưu tầm, nghiên cứu, làm thí nghiệm …
-Do sự hiểu biết về ngôn ngữ Khmer của giáo viên còn hạn hẹp nên giải
thích vấn đề cho học sinh hiểu là việc hết sức khó khăn.
C. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Trang 2
Để tạo hứng thú cho học sinh học môn sinh học, đặc biệt là học sinh ở lớp 6,7
của Trường Phổ Thông Dân Tộc Nội Trú, người giáo viên phải có cái nhìn tổng
quát toàn bộ chương trình cấp học từ đó rút ra những kiến thức cơ bản để học
sinh thấy được các mạch kiến thức liên quan với nhau như thế nào? Vai trò và ý
nghóa của chúng ra sao? Sau đó giáo viên vận dụng các biện pháp để giúp học
sinh hệ thống được kiến thức, khi đó, hứng thú khi học tập của các em sẽ được
nâng lên.
Sau khi tìm hiểu thực trạng học sinh lớp 6, 7 của trường, tôi tiến hành thực
hiện các biện pháp nhằm giúp học sinh hứng thú học tập môn Sinh trong suốt
quá trình giảng dạy của mình, để từng bước nâng cao chất lượng Dạy – Học,
nhất là môn sinh học 6, 7. Cụ thể nội dung được trình bày như sau:
I. Tìm hiểu và học ngôn ngữ dân tộc.
Học sinh ở Trường Phổ Thông Dân Tộc Nội Trú thường được tuyển từ vùng
biên giới, nông thôn khi giao tiếp các em chủ yếu sử dụng ngôn ngữ Khmer
giao tiếp là chủ yếu và ít có sự giao tiếp giữa người Khmer với người kinh nên
phần lớn các em ít hiểu biết ngôn ngữ tiếng Việt. Do vậy, việc người giáo viên
cần phải làm điều đầu tiên là tự học tiếng dân tộc. Điều đó giúp ích rất nhiều
a. Giáo án :
Muốn tiết dạy đạt hiệu quả cao thì sự chuẩn bò của giáo viên là rất quan
trọng. Đặc biệt là giáo án khi lên lớp, để có một giáo án tốt đòi hỏi người giáo
viên phải :
- Soạn giáo án một cách khoa học, sâu sắc tạo tiết dạy hấp dẫn không bò khô
khan như đặc trưng của những môn học tự nhiên khác. Phải hình dung được
diễn biến của tiết dạy trong trí tưởng tượng của mình để chuẩn bò giáo án có
tính logic khoa học.
- Xác đònh kiến thức cơ bản của mỗi bài học, lựa chọn những kiến thức cơ
bản nhất để có thể vận dụng những phương pháp nhằm tích cực hoá hoạt động
của học sinh. Để làm được điều đó giáo viên phải nghiên cứu thật kó bài học
trong sách giáo khoa, sách tham khỏ… nhằm nắm được nội dung kiến thức cơ
bản mình cần truyền đạt và khối lượng kiến thức học sinh có thể chiếm lónh. Từ
đó đưa ra những phương pháp cụ thể để học sinh tiếp cận.
Ví dụ : Soạn bài đa dạng và đặc điểm chung của lớp chim, phần I : “Các
nhóm chim” ta cần xác đònh kiến thức cơ bản của phần này là đặc điểm điểm
của các nhóm chim thích nghi với đời sống khác nhau của chúng, sau khi cho
các nhóm học sinh thảo luận tìm ra đặc điểm cấu tạo, đời sống của các nhóm
chim chạy, nhóm chim bơi và nhóm chim bay. Tôi cho các nhóm học sinh tiếp
tục thảo luận so sánh giữa các nhóm chim. Khi so sánh học sinh tìm ra được
điểm khác nhau giữa các nhóm chim càng làm cho học sinh khắc sâu kiến thức
hơn về đặc điểm của các nhóm chim. Còn học sinh tìm ra được những chỗ giống
nhau thì đó là đặc điểm chung của lớp chim. Vậy thì vào hoạt động sau tìm đặc
điểm chung của lớp chim giáo viên không phải mất nhiều thời gian để trình bày
hoạt động này. Mặt khác trong quá trình học sinh thực hiện so sánh tôi tiến
hành treo tranh vẽ về ba nhóm chim để học sinh quan sát tự tìm ra kiến thức.
Như vậy ta đạt được cả hai mặt vừa làm cho học sinh tích cực vừa làm cho học
sinh dễ dàng hiểu bài hơn.
- Với những kiến thức đã từng học, kiến thức mang tính chất giới thiệu hoặc
dễ hiểu hơn có thể hướng dẫn học sinh tự nghiên cứu trong sách giáo khoa, kết
dẫn cho học sinh tự tay mổ mẫu vật thật và quan sát. Sau đó tự học sinh vận
dụng những kiến thức đã học chú thích trực tiếp trên mẫu mổ. Khi đó giáo viên
đã trực tiếp rèn cho học sinh đồng thời một lúc rất nhiều kó năng như : Kỹ năng
mổ mẫu thật, kỹ năng quan sát, kỹ năng phân tích, kỹ năng hợp tác giữa các
bạn trong cùng một nhóm. Được như thế càng làm cho học sinh yêu thích môn
học hơn.
- Còn khi xác đònh về vai trò của động thực vật, tôi tự cho học sinh vận dụng
những hiểu biết sẵn có của mình trong cuộc sống để tìm ra vai trò của chúng.
Ví dụ: Khi nói về vai trò những loài sinh vật cho học sinh thảo luận nhóm
với những câu hỏi sau :
+ Hãy trình bày những lợi ích mà ngành thân mềm đã đem lại cho đời
sống của con người và trong tự nhiên?
+ Hãy kể ra những tác hại của thân mềm đối với đời sống của con người
và trong tự nhiên?
Học sinh tiến hành thảo luận nhóm nêu được mặt lợi, mặt hại của thân
mềm đối với đời sống con người và trong tự nhiên từ những hiểu biết trong cuộc
sống của học sinh.
Trang 5
-Xác đònh mục tiêu của từng hoạt động học tập và hình thức tổ chức học tập
trong mỗi bài soạn từ đó giúp học sinh lónh hội kiến thức của kiến thức mới của
bài học. Đây là việc làm quan trọng nhất trong quá trình soạn một giáo án, do
đó đòi hỏi người giáo viên cần phải lựa chọn những phương pháp phù hợp với
mỗi loại hoạt động và từng loại đối tượng học sinh.
Ví dụ: Bài đặc điểm cấu tạo ngoài của lá
Hoạt động 1 :Tìm hiểu đặc điểm bên ngoài của lá
Tôi cho học sinh làm việc nhóm để có điều kiện tập trung tất cả các loại lá của
các nhóm đã sưu tầm, học sinh có điều kiện quan sát nhiều loại lá hơn. Từ đó
các em thảo luận và dễ dàng hình thành nên những khái niệm về phiến lá, gân
lá, lá đơn, lá kép.
Hoạt động 2 : Phân biệt các kiểu xếp lá trên cây
Ví dụ : Khi dạy bài : Vận chuyển các chất trong thân. Giáo viên buộc
phải làm được hai thí nghiệm vận chuyển nước và muối khoáng hoà tan, thí
nghiệm vận chuyển chất hữu cơ phải làm trước một thời gian lâu. Hay thí
nghiệm trong bài quang hợp lá cây chế tạo ra chất hữu cơ khi có ánh sáng mặt
trời giáo viên cũng phải thực hiện khi ở nhà sau đó đem đến lớp giới thiệu cho
học sinh.
b. Sử dụng phương pháp giảng dạy.
Trong dạy học sinh học việc sử dụng phương pháp chính xác khoa học là
điều cực kỳ quan trọng giúp học sinh lónh hội được tri thức. Nhưng việc vận
dụng phương pháp nào vào dạng bài nào để giảng dạy có hiệu quả là một điều
không dễ. Để thực hiện tốt việc vận dụng phương pháp vào từng dạng bài học
đòi hỏi người giáo viên phải hiểu được những ưu nhược điểm của từng phương
pháp để áp dụng có hiệu quả.
Những phương pháp trong những năm qua tôi đã áp dụng giảng dạy và
đem lại hiểu quả đó là: phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp nêu vấn đề,
đàm thoại, thực hành thí nghiệm … Trong những phương pháp đó tôi thấy học
sinh hứng thú học tập nhất là phương pháp dạy học theo nhóm và phương pháp
đặt vấn đề và giải quyết vấn đề.
*Phương pháp dạy học bằng hoạt động nhóm.
Tác dụng của phương pháp
Tác dụng của phương pháp này là các em học sinh được hướng dẫn bởi giáo
viên thông qua các hoạt động học tập, được khuyến khích trao đổi các kiến
thức, các kinh nghiệm và được bày tỏ ý kiến của mình trước các bạn thông qua
quá trình học tập. Đây là cách tiếp cận để dạy học tích cực.
Từ việc thảo luận nhóm, các thành viên của nhóm có thể nhận được thêm
thông tin từ bạn bè, được biểu lộ những quan điểm khác nhau và phát triển các
kỹ năng giao tiếp.
Hoạt động nhóm nhỏ được tổ chức tốt sẽ làm tăng hứng thú học tập, gắn
bó. Trong từng nhóm, các ý kiến của mỗi cá nhân được đánh giá chấp nhận, có
sự cảm thông chia sẻ, tin cậy và ủng hộ giữa học sinh với nhau, giúp các em
Tôi cho học sinh chơi một trò chơi và thực hiện việc chia nhóm như sau : đếm
số thứ tự học sinh trong lớp 1, 2, 3,4 và lặp lại cho đến hết số học sinh trong lớp.
Khi đó ta được 3 nhóm học sinh là nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3, nhóm 4, sau đó
cho 4 nhóm học sinh tiến hành từng thành viên một lên bảng ghi ra những loại
thân đã học. Nhóm nào ghi đúng và ghi được nhiều loại cây thì nhóm đó thắng.
Trong trò chơi này giúp cho học sinh thư gian trong tiết học và còn làm cho học
sinh nhớ lại các kiến thức trong chương thân như : các loại thân có thân đứng,
thân leo, thân bò.
+Thành lập nhóm chuyên biệt: đối với hình thức này thường ít khi sử
dụng, chỉ khi nào nhóm thường xuyên thảo luận gặp những vấn đề khó thì
nhóm chuyên biệt mới sử dụng. Cách thực hiện như sau: từ những nhóm thường
xuyên tôi chọn 1-2 học sinh khá giỏi trong nhóm để thành lập nhóm chuyên
biệt. Nhóm này sẽ được giáo viên giao cho những câu hỏi khó, những vấn đề
khó, thảo luận trước để linh hội được kiến thức sau đó trở về nhóm thường
xuyên của mình phổ biến lại cho các bạn trong nhóm. Còn các bạn trong nhóm
thường xuyên vẫn duy trì để giải quyết những vấn đề đơn giải song song với
nhóm chuyên biệt.
Kỹ thuật quản lý nhóm:
Bước 1: Giao nhiệm vụ:
-Nêu mục tiêu của hoạt động nhóm: giáo viên thông báo rõ ràng mục
tiêu của hoạt động. Sau hoạt động nhóm, học sinh cần thu nhận được
những kiến thức và kỹ năng gì.
-Tóm tắt khái quát toàn bộ hoạt động: Giáo viện mô tả khái quát toàn bộ
hoạt động, có những công việc gì, làm như thế nào.
Trang 8
-Nêu câu hỏi, nêu vấn đề: Giáo viên nêu nhiệm vụ thảo luận cho cả lớp,
hoặc cho mỗi nhóm.
Bước 2: Thành lập nhóm
-Chia nhóm: Thông báo số nhóm, mỗi nhóm bao nhiêu người và cách
chia nhóm.
Trước tiết học này giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh sưu tầm mẫu vật như:
củ cà rốt, củ cải, củ sắn, cành trầu không, cây hồ tiêu, cây tầm gởi, dây tơ
hồng… hoặc tranh vẽ ảnh chụp các loại cây: cây bần, cây bụt mọc, cây vạn liên
thanh, cây mắm có bộ rễ thở trên mặt đất …
Bước 1: dựa trên những vật thật và tranh ảnh mà em sưu tầm hoặc giao
viên cung cấp sao cho đủ các loại củ để thực hiện nhiệm vụ. Giáo viện
giao nhiệm vụ cho học sinh: “Tìm hiểu đặc điểm hình thái và chức năng
Trang 9
của các loại rễ biến dạng” bằng các quan sát mẫu vật hoặc tranh vẽ và
điền vào bảng sau những thông tin cần thiết.
TT Tên về biến dạng Tên cây
Đặc điểm hình thái
của biến dạng
Chức năng đối
với cây
Giáo viên hướng dẫn các làm bài tập:
Thảo luận phân loại các loại củ, cây theo những đặc điểm mà học sinh đã
phát hiện ra.
Cử đại diện lên trình bày kết quả của nhóm về phân loại và giải thích lý
do của việc phân loại, và giải hích lý do của việc phân loại đó (để tìm ra
những đặc điểm hình thái và chức năng của mỗi loại). Thời gian trình bày
của mỗi nhóm là 3 phút.
Bước 2: giáo viên chia lớp thành 6 nhóm theo cách chia ngẫu nhiên
Bước 3: sau khi chia nhóm học sinh về chỗ ngồi theo nhóm, cử nhóm
trưởng, thư ký. Bắt đầu thao luận theo nhiệm vụ được giao. Nhóm trưởng
điều khiển các bạn trong nhóm thảo luận và phân loại. Các thành viên
tham gia góp ý kiến giải thích tại sao lại phân loại như vậy. Để cử đại
diện nhóm lên trình bày.
Bước 4: Đại diện của nhóm lên trình bày: Nhóm đã phân thành 4 loại rễ
và nêu lý do vì sao lại phân thành 4 loại. Trong khi một nhóm lên trình
Lấy oxi trong
không khí cung
cấp cho các phần
Trang 10
trên mặt đất… rễ dưới đất.
4 Giác mút
Tơ hồng, tầm gởi… Rễ biến đổi thành
giác mút đâm vào
thân hoặc cành của
cây khác…
Lấy thức ăn từ
cây chủ.
Giáo viên nhận xét tinh thần, thái độ làm việc trong nhóm của học sinh.
Lập kế hoạch tổ chức nhóm
Chọn chủ đề:
Xác đònh mục tiêu
Xác đònh hoạt động
Thành lập nhóm
Xác đònh thời gian
Thực hiện hoạt động nhóm
Xác đònh vật tư thiết bò
c. Chuẩn bò, sử dụng đồ dùng học tập.
Trong giảng dạy Sinh học đồ dùng dạy học là phương tiện hữu hiệu giúp
học sinh chủ động chiếm lónh tri thức một cách năng động. Trong giờ học, giáo
viên phải có kế hoạch chuẩn bò trước những đồ dùng dạy học. Trong giờ thực
hành thí nghiệm giáo viên chọn mẫu vật mổ hoặc mẫu ngâm, tranh ảnh hoặc
mô hình thì phải đẹp phản ánh được những nội dung học sinh cần quan sát, mẫu
phải đủ lớn để thể hiện rõ những bộ phận bên trong. Hướng dẫn học sinh quan
sát phải quan sát từ cấu tạo ngoài đến cấu tạo trong, từ đặc điểm hình thái đến
đặc điểm giải phẫu.
tế bào
Thành
xenlulozơ
ở tế bào
Lớn lên và
sinh sản
Chất hữu cơ
nuôi cơ thể
Khả năng
di chuyển
Hệ thần kinh
và giác quan
Khôn
g
Có Không Có
Khôn
g
Có
Tự tổng
hợp
được
Sử dụng
chất hữu
cơ có sẵn
Khôn
g
Có Không Có
Thực vật
Động vật
hay giảng giải.
2. Chuẩn bò của học sinh:
Việc chuẩn bò của học sinh là rất cần thiết, đặc biệt là trong thời điểm
hiện nay Dạy – Học lấy học sinh làm trung tâm, nhằm phát huy cao độ tính độc
lập, chủ động, sáng tạo của học sinh. muốn vật học sinh cần phải chuẩn bò trước
bài ở nhà những cộng việc sau:
- Cần đọc trước bài ở nhà kẻ những bảng nêu đặc điểm, bảng so sánh có
trong sách giáo khoa vào vở bài tập sinh học. Trả lời những câu hỏi ở phần lệnh
trong sách giáo khoa. Khi trả lời những câu hỏi không những dựa vào kiến thức
trong bài đang soạn mà cần sử dụng những kiến thức đã học trước đây, khi đó
học sinh lại có thể hệ thống được những đã học từ trước và từ đó làm cho em
hiểu sâu và lâu hơn.
-Học sinh phần lớn được sinh ra và lớn lên từ những vùng đồng quê, đồi núi,
ven biển nơi có phong cảnh tốt, động thực vật phong phú, đa dạng. Những
tiếp xúc và hiểu biết với những cảnh vật hàng ngày giúp các em dễ dàng chuẩn
bò những mẫu động vật, thực vật như yêu cầu của giáo viên ở tiết trước, tập làm
những thí nghiệm giáo viên đã yêu cầu và hướng dẫn như ở tiết trước
Ví dụ : Học bài những điều kiện cần cho hạt nẩy mầm học sinh cần phải
làm thí nghiệm 1, 2 trong sách giáo khoa trước ở nhà. Trong lúc làm những thí
nghiệm như vậy học sinh đã lónh hội một phần kiến thức, khi đến lớp dưới sự
hướng dẫn của giáo viên thì học sinh chủ động tiếp thu bài một cách dễ dàng.
Mặt khác làm được thí nghiệm thành công học sinh càng thích thú hơn với môn
học.
IV. Các hoạt động trên lớp
Là thực hiện truyền đạt những gì đã soạn trong giáo án và điều chỉnh
phương pháp giảng dạy cho phù hợp với từng loại đối tượng học sinh.
1.Kiểm tra bài cũ
Khi kiểm tra bài cũ giáo viên đôi khi không cần gọi từng em lên bảng trả
lời, mà yêu cầu các em đứng tại chỗ trả lời những câu hỏi của giáo viên. Giáo
viên phải làm như thế nào vừa tiết kiệm để dành thời gian cho bài mới mà vừa
Tua n hoànà
Bài tiết
Tiến hành trên 4, hoặc 5 học sinh thời gian thực hiện chỉ nhiều nhất là 4
phút nhưng kiểm tra được khối lượng kiến thức rất lớn.
2. Dạy bài mới
Muốn có một tiết học sôi nổi và các em HS tập trung cao độ, tích cực, tự
giác tham gia vào các hoạt động học tập, thì giáo viên phải giới thiệu bài một
cách khéo léo, ngắn gọn, chứa đựng vấn đề để kích thích tính tìm tòi, khám phá
của các em.
Ví dụ : Giới thiệu bài “bộ dơi, bộ cá voi” giáo viên có thể nói dơi mắt rất
kém nhưng tại sao có cách bay thoăn thoắt rất nhanh như vậy? Để biết được
điều này bài hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu. Khi giới thiệu như thế học sinh
có thể hăng say hơn trong quá trình xây dựng bài.
Hoặc khi dạy bài Quang hợp trong chương trình sinh học lớp 6 : giới thiệu
“ Nhờ thực vật mà nguồn dự trữ thức ăn hữu cơ được tích luỹ trên Trái Đất.
Hàng năm thực vật chế tạo ra 4,5 tỷ tấn chất hữu cơ, tức là khoảng 70 tấn cho
mỗi đầu người và nhả ra khoảng 400 tỷ tấn khí ôxi. Vậy nhờ đâu thực vật lại có
khả năng như thế bài quang hợp hôm nay sẽ giúp em hiểu được điều đó”.
Trang 14
3. Hướng dẫn học sinh tìm ra tri thức mới
Để học sinh lónh hội tri thức mới một cách có hiệu quả giáo viên nêu rõ:
- Thứ tự những hoạt động mà học sinh phải thực hiện.
- Mục tiêu của hoạt động mà học sinh cần phải đạt được.
- Hình thức tổ chức được thực hiện các hoạt động.
- Thời gian thực hiện các hoạt động.
Ví dụ : Bài “ Đa dạng và đặc điểm chung của lưỡng cư ”
Giáo viên hướng dẫn học sinh như sau :
Hoạt động 1: Tìm hiểu đa dạng về thành phần loài.
Mục tiêu : Nêu được các đặc điểm đặc trưng để phân biệt 3 bộ lưỡng cư. Từ đó
thấy được môi trường sống ảnh hưởng cấu tạo ngoài của từng bộ.
Mỗi nhóm học sinh sẽ tập hợp các lá cây của nhóm mình lại sau đó bòt
mắt những người tham gia chơi và dẫn người bò bòt mắt đến chỗ tập hợp lá cây.
Tiếp đó là cho người bò bòt mắt dùng tay sờ những lá cây đã tập hợp chọn ra
trong số đó đâu là lá có gân lá song song, đâu là lá có gân lá hình mạng, đâu là
lá có gân lá hình cung. Thời gian có thể tiến hành trong 2 phút, người bòt mắt
của nhóm nào chọn ra được nhiều lá hơn thì nhóm đó thắng.
Ngoài ra ta cũng có thể sử dụng những câu hỏi trắc nghiệm hoặc dạng sơ
đồ để đánh giá mức độ hiểu bài của học sinh.
Ví dụ: Khi dạy xong bài thân to ra do đâu? Giáo viên có thể sử dụng
phiếu bài tập trắc nghiệm như sau :
PHIẾU TRẮC NGHIỆM
Hãy chọn những từ thích hợp trong các từ : mạch gỗ, tầng sinh trụ, tầng
sinh vỏ, mô phân sinh, mạch rây điền vào chỗ trống các câu sau :
-Thân to ra do sự phân chia các tế bào của ……………… .(1)……………
- Vỏ cây to ra nhờ ……………………………(2)……………………………
- ………………………………… (3)…………………………………….nằm giữa mạch rây và mạch gỗ,
hằng năm cho ra phía ngoài một lớp …… …………………….(4)…………………………….,
phía trong một lớp ………(5)……………….
Phát cho mỗi học sinh một phiếu yêu cầu các học sinh hoàn thành. Giáo
viên cho các học tự chấm điểm chéo với nhau, sau đó các học sinh báo cáo kết
quả lại với giáo viên.
Hay khi củng cố bài các loại quả giáo viên có thể thực hiện như sau:
Hãy hoàn thành đầy đủ sơ đồ tóm tắt các loại quả dưới đây bằng cách
điền các loại quả thích hợp vào dấu (?)
Các loại quả
Quả khô ?
? Quả khô nẻ Quả mọng ?
Trang 16
Giáo viên dùng bảng phụ treo sơ đồ lên yêu cầu một học sinh lên điền.
Các học sinh ở dưới theo dõi nhận xét, bổ sung tự hoàn chỉnh kiến thức.
thông những kiến thức các em đã được học hoặc những kiến thức hàng ngày các
em đã được tiếp cận. Chính vì nội dung gần gũi với các em nên các em tham
gia hết sức nhiệt tình. Từ những trò chơi, buổi sinh hoạt như vậy làm cho tôi
càng hiểu sâu tâm tư nguyện vọng của học sinh, tình cảm thầy trò trở nên thân
thiết hơn. Từ những việc tổ chức sinh hoạt hằng tuần, hàng tháng như vậy càng
kích thích lòng say mê môn học của học sinh.
VI. Hoạt động ngoài giờ lên lớp:
Trang 17
Hoạt động ngoài giờ lên lớp là yếu tố quan trọng trong việc phát huy khả
năng tự nghiên cứu của học sinh, kích thích tính tò mò, tiếp cận thiên nhiên
hiểu biết thêm về môn học. Cách thực hiện :
1. Làm sổ tay sinh học :
Mỗi học sinh phải chuẩn bò cho mình một quyển sổ ghi chép những điều
nhìn thấy, những gì quan sát được. Giáo viên hưỡng dẫn học sinh cách thức
quan sát và ghi lại những gì quan sát. Hằng ngày các em học sinh thường nhìn
thấy sự vật hiện tượng diễn ra nhưng không hiểu về cấu tạo và các bộ phận của
chúng và tìm hiểu xem tại sao chúng lại như vậy.
Từ đầu năm học giáo viên đã hướng dẫn học sinh chuẩn bò cho mình một
quyển sổ ghi chép những sự vật hiện tượng mà học sinh quan sát được. Đối với
học sinh lớp 6 các em chọn cho mình quyển vở ghi chép những quan sát được ở
thực vật.
Ví dụ: Cây ấy tên là gì? (nếu không biết hỏi bạn bè, cha mẹ, thầy cô
giáo…), môi trường sống, các đặc điểm của thân, lá, rễ, hoa, quả, hạt. Giáo viên
cần cho học sinh giải thích tại sao chúng có những đặc điểm như vậy. Khi học
sinh không tự giải thích được thì cứ ghi nhận câu hỏi đó lại đến buổi sinh hoạt
câu lạc bộ cùng trao đổi thảo luận với tất cả bạn bè, thầy cô giáo để được hiểu
rõ hơn.
Đối với động vật học sinh cũng cần quan sát kó từng đặc điểm của chúng
về thuộc loài, chi, họ, bộ, lớp, ngành ? Về cấu tạo cơ thể, so sánh tìm ra những
đặc điểm giống và khác giữa những loài động vật và giải thích về sự khác nhau
lớp 6, 7 cuối chương trình có ba bài tham quan thiên nhiên, nằm mục đích cho
học sinh kiểm nghiệm lại thực tế trong một năm học.
Các em học sinh trong trường Phổ Thông Dân Tộc nội trú lại rất có điều
kiện thực hiện những tiết học tham quan thiên nhiên. Cứ đến cuối mỗi năm học
khi chuẩn bò thi học kỳ II tôi thường tổ chức cho các em các một buổi tham quan
thiên nhiên, đòa điểm là dãy núi ngay phía sau UBND phường Pháo Đài, ở đó
thảm động thực vật tương đối phong phú. Các em rất hăng say tham gia buổi
tham quan này. Tôi tiến hành cho các em mang theo một số dung cụ như kéo
cắt cành cây, kẹp ép lá cây, vợt bắt côn trùng, để các em thu thập mẫu vật
theo yêu cầu đầu buổi tôi đưa ra. Khi kết thúc buổi tham quan các em về nhà
làm một bài thu hoạch (qua buổi tham quan em hiểu thêm được những gì về đời
sống của động, thực vật?). Sau ba năm thực hiện tôi thấy rằng những tiết học
này rất bổ ích đối với các em học sinh và các em rất hứng thú tham gia. Từ đó
giáo dục học sinh tình yêu thiên nhiên, tình yêu môn học và bảo vệ thiên nhiên.
*Tóm lại : Ngoài những biện pháp chuyên môn trên cần có sự phối hợp
tích cực giữa gia đình và nhà trường để học sinh tích cực hơn trong học tập. Đối
với trường phổ thông dân tộc nội trú phụ huynh thường khoán trắng việc học
tập của học sinh cho nhà trường, nên ngoài việc giảng dạy các em học sinh trên
lớp tôi thường xuyên đến những gia đình các em học sinh ở ngoại trú như khu
vực Mỹ Đức, Pháo Đài thăm hỏi động viên các em và gặp phụ huynh của
những em này thông báo kết quả học tập và trao đổi với phụ huynh giúp họ
quan tâm hơn đến việc học tập của con em họ. Làm được việc này càng làm
cho công tác chủ nhiệm của tôi gần gũi với học sinh hơn và ngày một tốt hơn.
D. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯC
Với những biện pháp thực hiện trên, trong những năm học vừa qua tôi
nhận thấy kết quả học tập của học sinh ngày càng được nâng cao. Các học sinh
học tốt môn sinh học cũng được tăng lên. Tính từ năm học 2003 – 2004 trở lại
đây kết quả đạt được như sau :
Trang 19
Năm học 2003 – 2004
-Chuẩn bò đồ dùng dạy học khi lên lớp và những thí nghiệm học sinh tự làm ở
nhà là việc làm hết sức quan trọng để cung cấp tri thức cho học mà còn tạo
hứng thú trong học tập và lòng say mê môn học cho học sinh.
-Cần tạo không khí cởi mở trong từng tiết dạy là cho tình cảm thầy – trò thân
thiết hơn từ đó các em tiết thu bài một cách hiệu quả hơn.
Trang 20
Trên đây là một số kinh nghiệm mà bản thân tôi đã thu thập và áp
dụng qua những năm tháng đứng trên bục giảng. Nhìn chung đã đạt được những
kết quả khả quan, rất mong sự đóng góp chân tình của quý đồng nghiệp để
những kinh nghiệm trên được hoàn chỉnh. Cũng hy vọng rằng những kinh
nghiệm trên đây sẽ góp một phần nhỏ bé vào sự nghiệp “trồng người” của
chúng ta ngày một hoàn thiện hơn.
Hội đồng chấm SKKN MÌo V¹c:Ngµy 29 Th¸ng 9 n¨m 2009
Người viết
ngun viƯt hïng
Trang 21