RẩN K NNG C HIU VN BN CHO HC SINH TRONG
CHNG TRèNH NG VN 7
A. Phần mở đầu:
I. Lý do chọn đề tài:
1. Cơ sở lý luận.
Bộ môn Ngữ văn trong nhà trờng là một môn học vừa mang tính khoa học
vừa mang tính nghệ thuật. Các tác phẩm văn chơng đều đợc chọn lọc trong
kho tàng văn hoá của dân tộc và nhân loại. Nói đến tác phẩm văn chơng là nói
đến nghệ thuật ngôn từ, hình tợng, sự sáng tạo độc đáo của nhà văn. Văn ch-
ơng nh một khối đa diện nhiều mầu tuỳ theo chỗ đúng, cách nhìn của ngời
xem mà phát hiện ra vẻ đẹp khác nhau của nó. Từ xa ngời ta đã nhận thấy tác
dụng to lớn của văn chơng khi nó phục vụ cho những lý tởng cao cả, những sự
nghiệp chân chính. Trớc hoạ ngoại xâm, chỉ một bài thơ của Lý Thờng Kiệt,
một bài hịch của Trần Quốc Tuấn hoặc bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn
Trãi không kém gì những binh hùng tớng mạnh Hơn bất cứ hoạt động ý thức
tinh thần nào, văn học nghệ thuật có khả năng đặc biệt trong việc phát hiện và
diễn tả sự bí ẩn huyền diệu vô tận của cuộc sống tâm linh, của số phận, tính
cách con ngời.
MacXim Gooc-ki nói: "Văn học giúp con ngời biểu hiện đợc bản thân
mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình, làm nảy nở ở con ngời khát
vọng vơn tới chân lý" Các văn bản văn chơng chắp cánh để các em học sinh
đến với một thời đại văn minh, với mọi miền đất nớc, mọi nền văn hoá dân
tộc, xây dựng cho các em niềm tin vào cuộc sống con ngời, trang bị cho các
em vốn kiến thức, vốn sống hớng các em tới đỉnh cao của cái đẹp trong cuộc
sống.
Chính vì vậy mà việc rèn luyện kỹ năng Đọc - hiểu văn bản cho học sinh
trong nhà trờng là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng của chất lợng giờ
dạy.
2. Cơ sở thực tiễn.
Từ năm học 2002 - 2003 Bộ Giáo dục thực hiện chơng trình thay sách
giáo khoa đại trà ở bậc Tiểu học và THCS. Đồng thời thực hiện việc đổi mới
vấn đề, gợi mở, đọc sáng tạo, đọc diễn cảm, phân tích
3. Phạm vi nghiên cứu.
Đối tợng: Học sinh lớp 7.
Đề tài: Phơng pháp rèn kỹ năng đọc - hiểu văn bản cho học sinh
B. Nội dung - Phơng pháp cụ thể.
1. Xác định tầm quan trọng của khâu Đọc - hiểu văn bản.
Đọc và hiểu văn bản là một khâu vô cùng quan trọng giúp học sinh cảm
thụ văn bản một cách có hệ thống sẽ giúp học sinh cảm thụ đợc cái hay cái
đẹp. Đọc - hiểu văn bản không nhằm diễn đạt hai hoạt động tách rời là Đọc và
hiểu mà "Đọc" ở đây diễn ra theo các bám sát, luồn sâu vào văn bản để giúp
học sinh "Giải mã" văn bản, nghĩa là xác lập đợc giá trị của văn bản theo cách
cảm và hiểu của ngời đọc. Nh thế bản chất của đọc hiểu văn bản trong bài học
Ngữ văn chính là hoạt động tìm tòi phân tích. Và "Hiểu" văn bản theo mục
tiêu cụ thể của phần văn trong mục tiêu của bài Ngữ văn lớn.
Chúng ta có nhiều hình thức dạy học Đọc - hiểu văn bản. Giảng văn, bình
văn cũng là Đọc - hiểu nhng đó là đọc hiểu của ngời dạy. Đọc diễn cảm cũng
là Đọc - hiểu nhng ở góc độ cảm tính. Còn Đọc - hiểu ở mức độ sâu sắc đối
với ngời học sẽ là chiếm lĩnh văn bản bằng đối thoại lấy câu hỏi do thầy thiết
kế làm phơng tiện. Đây là hình thức dạy học văn quan trọng hàng đầu, bởi hệ
thống câu hỏi cảm thụ phân tích văn có khả năng kích thích, khơi dậy năng
lực cảm và hiểu văn theo nỗ lực và kinh nghiệm riêng của ngời học mà vẫn giữ
đợc những định hớng giáo dục cụ thể của một bài Ngữ văn mới là chứng cớ
cho một quan niệm đúng đắn về bản chất của môn học: " Đọc - hiểu văn bản"
ở môn ngữ văn.
2. Phơng pháp Đọc - hiểu văn bản môn Ngữ văn 7.
Muốn học sinh cảm thụ đợc văn bản thì công việc của giáo viên giảng dạy
Ngữ văn không dừng lại ở việc xây dựng câu hỏi đúng, hay tạo cơ hội tự bộc
lộ cảm thụ văn bản của ngời đọc mà còn phải định hớng đợc câu trả lời của
học sinh. Định hớng trả lời chứ không áp đặt bày sẵn cách trả lời. Vì vậy vai
trò hớng dẫn của ngời dạy văn không thể loại trừ nhiệm vụ đó.
Huế trên sông Hơng" - Hà Minh ánh, giáo viên cùng học sinh đọc tòan bài
một lần. Yêu cầu đọc chậm rãi, rõ ràng, mạch lạc, lu ý những câu đặc biệt và
câu rút gọn.
+ Đối với các bài tục ngữ: Vì đặc điểm, cấu trúc của tục ngữ ngắn gọn nội
dung thông báo hoàn chỉnh, giáo viên cần hớng dẫn học sinh đọc cụ thể:
Văn bản "Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất": Đọc với giọng
điệu chậm rãi, rõ ràng, chú ý các vần lng, ngắt nhịp ở vế đối trong câu hoặc
phép đối ở giữa hai vế câu:
Nuôi lợn ăn cơm nằm / Nuôi tằm ăn cơm đứng.
Đêm tháng năm/ cha nằm đã sáng
Ngày tháng mời/cha cời đã tối.
+ Đối với văn bản "Cổng trờng mở ra" - Lí Lan, yêu cầu học sinh đọc
giọng dịu dàng chậm rãi, đôi khi thầm (khi nhìn con đang ngủ) giọng đọc hết
sức tình cảm, có khi giọng xa vắng (hồi tởng ngày xa bà ngoại đã dẫn mình
đến lớp), giọng hơi hơi buồn (khi bà phải đứng ngoài cổng trờng).
+Đối với văn bản: "Quan âm Thị Kính" - Thể loại chèo cổ. Giáo viên cần
hớng dẫn học sinh đọc phân vai (nhập vai nhân vật thể hiện qua giọng đọc).
- Ngời dẫn chuyện: Đọc tên các nhân vật, các lời chỉ dẫn làn điệu ca, hành
động trong ngoặc đơn. Giọng chậm, rõ, bình thản.
- Nhân vật Thiện Sĩ: Giọng hốt hoảng, sợ hãi.
- Nhân vật Thị Kính: Giọng từ tốn âu yếm, ân cần, chuyển sang đau đớn,
nghẹn tủi, thê thảm , rồi buồn bã chấp nhận và có phần bình tĩnh kìm nén khi
đã quyết định hành động.
- Nhân vật Sùng Bà: Giọng nanh nọc, ác độc, lấn lớt, có lúc quát thét, có
lúc đay nghiến, chì chiết, có lúc thắt buộc, khẳng định vu hãm, có lúc hả hê,
khoái trá
- Nhân vật Sùng Ông: Giọng lèm bèm vì nghiện ngậm, a dua với vợ, tàn
nhẫn thô bạo, đắc ý vì lừa đợc thông gia Mãng Ông khốn khổ.
- Nhân vật Mãng Ông: Hai câu đầu giọng mừng vui, tự hào, hãnh diện vì
con gái. Các câu sau giọng ngạc nhiên, đau khổ và bất lực phải cam chịu.
- Cảm nghĩ của mẹ về vai trò của xã hội và nhà trờng trong giáo dục trẻ
em.
(?). Em hãy xác định hai phần nội dung đó trên văn bản?
- Phần 1: Từ đầu đến "Thế giới mà mẹ vừa bớc vào".
- Phần 2: Còn lại
Hoặc có câu hỏi tìm bố cục văn bản nh sau:
(?)Theo các em văn bản trên đợc chia làm mấy đoạn? Em hãy nêu nội
dung của từng đoạn?
Dới hình thức câu hỏi hớng dẫn học sinh tìm hiểu bố cục văn bản, sau đó
giáo viên gợi mở, hớng dẫn học sinh hiểu nội dung thông qua hệ thống câu hỏi
Đọc - hiểu văn bản ở trong sách giáo khoa giúp học sinh chuyển bị bài ở nhà.
Khi học sinh đã chuyển bị bài kĩ ở nhà, đến lớp các em sẽ hiểu nội dung văn
bản một cách cụ thể, chắc chắn. Vì thế việc soạn bài ở nhà hết sức quan trọng,
yêu cầu học sinh đọc kỹ văn bản, trả lời bài theo hệ thống câu hỏi SGK
Sau khi đã chuyển bị bài ở nhà, đến lớp giáo viên gợi mở, hớng dẫn học
sinh.
Ví dụ: Văn bản "Sài Gòn tôi yêu" - Minh Hơng.
Muốn hiểu nội dung văn bản theo các phần đã đợc tìm ở bố cục, giáo viên
gợi dẫn học sinh tìm hiểu nội dung vẻ đẹp của Sài Gòn: Thiên nhiên, khí hậu,
phong cách sống của con ngời Sài Gòn.
(?) Ghi nhận đầu tiên về vẻ đẹp Sài Gòn là sức sống của đô thị trẻ. Điều
đó đợc diễn tả bằng hình ảnh nào?
H: "Sài Gòn cứ trẻ hoài nh vậy nh cây tơ đơng độ nõn nà trên đà thay da
đổi thịt"
(?) Em hãy nhận xét cách cấu tạo hình ảnh trên ?
H: Cách tạo hình ảnh
- So sánh: Sài Gòn trẻ nh cây tơ
- Tính từ miêu tả: Nõn nà.
- Thành ngữ: Thay da đổi thịt.
(?) Em hãy nêu tác dụng của cách tạo hình ảnh đó?
(?) Cảm nghĩ của em về ngời bà, từ hình ảnh bà chắt chiu từng quả trứng
hồng trên tay?
(?) Tiếng gà tra còn gợi cả những suy t của con ngời về hạnh phúc, về
cuộc chiến đấu hôm nay. Em hãy tìm những câu thơ tơng ứng với nội dung
trên?
(?)Theo em trong văn bản này những tình cảm sâu sắc nào của tác giả đ-
ợc bộc lộ?
(?) Nhứng nét đặc sắc về nghệ thuật của văn bản?
Qua hàng loạt các câu hỏi, giáo viên hớng dẫn học sinh trả lời. Khi học
sinh đã trả lời đợc có nghĩa là các em đã hiểu đợc nội dung của văn bản. Đối
với những bài khó hiểu, giáo viên gợi dẫn từng ý nhỏ sau đó học sinh sẽ hiểu
đựơc nội dung của văn bản và có cơ hội cảm thụ đựơc văn bản một cách rõ
ràng. Vì thế việc hớng dẫn học sinh Đọc - hiểu văn bản phải tuân theo một
trình tự cụ thể. Khi hớng dẫn học sinh, giáo viên phải lu ý hớng dẫn thật tỉ
mỉ,cụ thể để học sinh dễ dàng cảm thục đợc văn bản.
Thông qua các bớc tìm hiểu văn bản, việc hớng dẫn học sinh soạn bài hết
sức quan trọng
Nghe bàn chân đỡ mỏi,
Nghe gọi về tuổi thơ.
Nhà thơ diễn tả nh thế có phi lí không? Tại sao? Hãy phân tích, lí giải
theo cảm nhận của riêng em?
Trong dạy học với các hình thức giúp học sinh cảm thụ tác phẩm, việc h-
ớng dẫn học sinh Đọc - hiểu văn bản vô cùng quan trọng. Vì thế giáo viên cần
có những hình thức phong phú để giúp học sinh hiểu văn bản qua hệ thống câu
hỏi nêu vấn đề, gợi mở, phần hớng dẫn đọc (đọc diễn cảm, đọc phân vai),
tranh ảnh, t liệu minh hoạ cũng là việc giúp học sinh hiểu đựơc văn bản một
cách sâu sắc. Qua những bớc hớng dẫn học sinh đọc, trả lời câu hỏi, phân
tích học sinh tích cực chủ động tiếp xúc với văn bản mới một cách chủ động,
rèn thói quen tự học, phát huy đợc tính độc lập, sáng tạo của học sinh trong
việc học Ngữ văn.