Rèn kỹ năng đọc hiểu văn bản nghệ thuật theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4 - Pdf 43

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

======

KHÚC THỊ NGA

RÈN KỸ NĂNG ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
NGHỆ THUẬT THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH LỚP 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

PGS. TS. ĐỖ HUY QUANG

HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Đỗ Huy
Quang đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, cung cấp cho em những kiến thức,
những kinh nghiệm quý báu, động viên và khích lệ em hoàn thành khóa luận
với đề tài: “Rèn kỹ năng đọc hiểu văn bản nghệ thuật theo quan điểm giao
tiếp cho học sinh lớp 4”
Em xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ, giảng viên khoa Giáo dục
Tiểu học trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, các cô giáo và các em học sinh
trường Tiểu học Thanh Lâm A (Mê Linh, Hà Nội) đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Xuân Hòa, ngày 27 tháng 04 năm 2017
Sinh viên

1.1.1.2 Văn bản là sản phẩm của giao tiếp, là môi trường giao tiếp có văn
hóa và có tính chuẩn mực ........................................................................... 6
1.1.1.3 Văn bản nghệ thuật ......................................................................... 8
1.1.2 Đọc - hiểu văn bản ................................................................................ 8
1.1.2.1 Quan niệm đọc ................................................................................ 8
1.1.2.2 Đọc hiểu .......................................................................................... 8
1.1.3 Kỹ năng, kỹ năng đọc - hiểu văn bản nghệ thuật................................. 9
1.1.3.1 Kỹ năng ........................................................................................... 9
1.1.3.2 Kỹ năng đọc - hiểu văn bản nghệ thuật ........................................ 10
1.1.4 Quan điểm giao tiếp ............................................................................ 10
1.1.4.1 Giao tiếp và giao tiếp ngôn ngữ .................................................... 10


1.1.4.1.1 Khái niệm giao tiếp và giao tiếp ngôn ngữ............................. 10
1.1.4.1.2 Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết .............................................. 12
1.1.4.2 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp ............................................. 14
1.1.5 Giao tiếp sư phạm và giao tiếp văn học ............................................. 17
1.1.5.1 Giao tiếp sư phạm ......................................................................... 17
1.1.5.1.1 Giao tiếp giữa GV với HS và giao tiếp giữa các HS với nhau
trong quá trình dạy học đọc - hiểu văn bản nghệ thuật ......................... 17
1.1.5.1.2 Giao tiếp giữa HS với các thế hệ khác trong quá trình đọc hiểu văn bản nghệ thuật ......................................................................... 19
1.1.5.2 Giao tiếp trong văn học................................................................. 19
1.1.6 Đặc điểm của học sinh lớp 4 ............................................................ 21
1.1.6.1 Đặc điểm tâm lý, sinh lý của học sinh lớp 4.............................. 21
1.1.6.2 Khả năng giao tiếp của HS ........................................................... 23
1.2 Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 24
1.2.1 Khảo sát phân môn Tập đọc trong chương trình SGK TV lớp 4 ........ 24
1.2.1.1 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Tập đọc lớp 4 .............................. 24
1.2.1.2 Quy trình dạy Tập đọc lớp 4 ......................................................... 25
1.2.1.3 Văn bản Tập đọc lớp 4 và câu hỏi hướng dẫn Tìm hiểu bài sau văn

2.3.4 Bài tập bình giá về tính nghệ thuật của văn bản ................................ 53
2.3.5 Bài tập yêu cầu HS giao tiếp với tác giả ............................................ 53
2.3.6. Bài tập bình giá về nội dung văn bản ................................................ 54
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 ............................................................................... 55
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ............................................... 56
3.1 Mục đích thực nghiệm ............................................................................ 56
3.2 Phƣơng pháp thực nghiệm ..................................................................... 56
3.3 Đối tƣợng thực nghiệm ........................................................................... 56
3.4 Quá trình thực nghiệm ........................................................................... 56
3.5 Tiêu chí đánh giá ..................................................................................... 84
3.6 Kết quả thực nghiệm ............................................................................... 84


KẾT LUẬN .................................................................................................... 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 88
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 89


BẢNG KÍ HIỆU TÓM TẮT
Giáo viên

GV

Học sinh

HS

Giao tiếp

GT

năng tạo lập (nói, viết) trong các hoạt động giao tiếp cụ thể. Dạy học theo
quan điểm giao tiếp sẽ tạo ra các tình huống giao tiếp khác nhau, tạo động cơ
để kích thích nhu cầu giao tiếp của học sinh đồng thời góp phần rèn luyện tư
duy, nâng cao vốn hiểu biết về tiếng Việt, văn hóa, xã hội, tự nhiên và con
người.
1.3. Hiện nay, việc dạy học đọc - hiểu nói chung và dạy học đọc - hiểu

1


văn bản nghệ thuật nói riêng ở các trường Tiểu học nói chung mới chỉ dừng
lại ở việc “giải mã văn bản”, tức là dạy học đọc - hiểu mới chỉ tập trung chủ
yếu vào hệ thống câu hỏi để HS tái tạo nội dung bài đọc, giải thích ý nghĩa từ
và nêu nội dung chính của bài đọc. Các em chưa có điều kiện được “đối
thoại” với các nhân vật cũng như với tác giả. Các em cũng chưa có điều kiện
hiểu văn bản nghệ thuật theo cách hiểu, cách nhìn của bản thân các em mà
luôn phải hiểu một cách dập khuôn theo gợi ý của thầy, cô giáo, theo hệ thống
câu hỏi trong sách giáo khoa. Để giải quyết vấn đề này, nhiều công trình
nghiên cứu đã đề cập đến việc dạy học theo quan điểm giao tiếp nhưng việc
rèn luyện các kỹ năng đọc - hiểu văn bản nghệ thuật trong việc dạy học đọc hiểu cho học sinh Tiểu học thì chưa có.
1.4. Trong các phân môn của Tiếng Việt, phân môn Tập đọc có vai trò
rất quan trọng, nhằm giúp học sinh phát triển khả năng giao tiếp trong đó đọc
- hiểu là đích đến của hoạt động học, đọc - hiểu gắn liền với hoạt động ngôn
ngữ. Rèn kỹ năng đọc - hiểu cho học sinh sẽ phải quan tâm đến hai kỹ năng:
đọc văn bản và hiểu văn bản. Nếu chỉ chú trọng rèn kỹ năng đọc thì giờ Tập
đọc không đạt được đích của việc dạy đọc là tìm hiểu bài và nếu chỉ chú ý rèn
kỹ năng hiểu thì giờ Tập đọc sẽ thành giờ giảng văn hay phân tích văn bản mà
thôi. Chính vì vậy phải chú ý rèn luyện cho HS Tiểu học kỹ năng đọc - hiểu,
đặc biệt là với HS lớp 4. Đây là giai đoạn mà HS đã có vốn kiến thức nhất
định cũng như vốn từ cần thiết và đây là giai đoạn chuẩn bị cho cấp học cao

tiếng Việt.
Bên cạnh việc quan tâm đến dạy học tiếng việt theo quan điểm giao tiếp
thì còn nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề dạy học đọc - hiểu theo
quan điểm giao tiếp cho HS Tiểu học.
Trong cuốn Phương pháp dạy học tiếng việt ở Tiểu học tác giả GS.TS Lê
Phương Nga [9] đã nghiên cứu về quá trình dạy Tập đọc ở Tiểu học trong đó
tác giả đã bàn luận sâu sắc về việc rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu cho HS Tiểu

3


học, xây dựng bài Tập đọc - hiểu cho HS Tiểu học.
Cũng theo GS.TS Lê Phương Nga trong Dạy học Tập đọc ở Tiểu học tác
giả đã chú trong xem xét các mặt về cả nội dung và hình thức của văn bản
nhằm giúp GV có căn cứ chính xác xác định nội dung luyện đọc thành tiếng
và đọc - hiểu cho HS Tiểu học, từ đó đưa ra tiến trình tổ chức giờ dạy Tập đọc
cho HS nhằm đạt hiểu quả tốt nhất trong việc dạy học của GV và tiếp thu kiến
thức, kỹ năng cho HS.
Các công trình nghiên cứu của một số tác giả kể trên đã nêu ra được vai
trò quan trọng của việc dạy học tiếng việt theo quan điểm giao tiếp và dạy học
đọc - hiểu của phân môn Tập đọc cũng theo quan điểm giao tiếp. Nhưng chưa
có công trình nào nghiên cứu việc rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu văn bản nghệ
thuật theo quan điểm giao tiếp. Chính vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu văn bản theo quan điểm giao tiếp cho học sinh
lớp 4”, nhằm ngiên cứu và đề xuất được một hệ thống kỹ năng nhằm rèn
luyện cho HS lớp 4 trong quá trình đọc - hiểu văn bản nghệ thuật theo quan
điểm giao tiếp.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Đề ra biện pháp rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu văn bản nghệ thuật theo

chủ động hơn, chất lượng dạy học phân môn Tập đọc sẽ được nâng cao hơn.
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3
chương:
-

Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

-

Chương 2. Biện pháp rèn kỹ năng đọc - hiểu văn bản nghệ thuật theo

quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4
-

Chương 3. Thực nghiệm sư phạm

5


NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
CỦA VIỆC DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN NGHỆ THUẬT THEO
QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Văn bản
1.1.1.1 Văn bản là gì?
Văn bản là một tổ chức có ký hiệu được sáng tạo ra cho người đọc, tồn
tại trước khi có hoạt động đọc của người đọc. Văn bản là một chuỗi các kí
hiệu được in trên giấy.

Trong tiếng việt, có sáu loại phong cách ngôn ngữ văn bản đó là: phong
cách sinh hoạt (nhật kí, tin nhắn, thư từ,...), phong cách nghệ thuật (tự sự:
truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi kí,...; trữ tình: ca dao, vè, thơ,...; sân khấu: kịch,
chèo, tuồng,...), phong cách chính luận, phong cách khoa học (tiểu luận, luận
văn, sách giáo trình, SGK,...), phong cách báo chí, phong cách hành chính
(thông tư, nghị định, đơn từ, báo cáo, hợp đồng,...). Mỗi văn bản kể trên được
xây dựng theo quy chuẩn mang đặc thù riêng. Ngôn ngữ sử dụng trong các
văn bản kể trên được sử dụng theo những quy tắc nhất định, vừa có tính
nguyên tắc, vừa có tính sinh động tự nhiên, vừa có tính hình tượng của ngôn
ngữ nghệ thuật, vừa có tính khúc chiết của ngôn ngôn ngữ khoa học. Vì vậy
ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là công cụ diễn đạt chính, là những tinh
hoa văn hóa đã được kết tinh lại.
Các văn bản được sử dụng trong SGK chủ yếu là những trích dẫn từ các
tác phẩm văn chương có ngôn ngữ ngắn gọn, hàm xúc, giàu hình ảnh, dễ đi
vào trong suy nghĩ của HS, gợi ở các em dòng cảm xúc mạnh mẽ. Những văn
bản đó có thể được xem là khuôn mẫu cho HS trong việc dùng từ, đặt câu, hệ
thống hóa và mở rộng vốn từ nhằm phục vụ việc giao tiếp cho các em trong
học tập cũng như trong đời sống.

7


Nói chung là khi HS tiếp xúc với các văn bản mà chủ yếu là các văn bản
nghệ thuật thì đó là HS đang được tiếp xúc với bài học về văn hóa, về cái
hay, cái đẹp của văn chương, để xây dựng ở bản thân mỗi HS một con người
văn hóa, học văn là học cách làm người.
1.1.1.3 Văn bản nghệ thuật
Nói văn bản nghệ thuật là để phân biệt với những văn bản phi nghệ thuật
như văn bản hành chính, văn bản báo chí, văn bản khoa học. Văn bản nghệ
thuật bao gồm các văn bản tự sự như truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi kí,...; văn

với suy nghĩ, với cảm xúc của tác giả mà còn tự mình có thể đi sâu nghiên
cứu những điều tác giả ngầm muốn nói và đôi khi đọc giả có thể phát hiện ra
những điều mà chính tác giả cũng có thể bất ngờ vì đó là những khát vọng,
những ý thức của chính người đọc đã khám phá được. Việc người đọc có thể
đồng sáng tạo ra hiệu quả của văn bản đó là vì người đọc đặt tác phẩm ở hoàn
cảnh mới, quan hệ mới và lối suy nghĩ mới từ đó đưa ra được những hiệu quả
ý nghĩa mới.
Trong giờ Tập đọc nếu ban đầu khi đặt một văn bản nghệ thuật (tác
phẩm văn học) cho HS là những cá thể đọc thì đó chỉ là những vật thể gồm
những ký hiệu chữ cái trên giấy trước mắt HS, nhưng khi diễn ra hoạt động
đọc - hiểu thì khi đó văn bản trở thành đối tượng mà HS muốn tác động, còn
HS sẽ trở thành chủ thể tác động vào văn bản bằng cả tri thức và tâm hồn.
“Đọc tức là hiểu” khi đọc mà không hiểu thì chỉ đạt được đích là biết
ghép thành thạo các chữ cái để tạo thành từ và đọc được thành tiếng. Đọc hiểu tức là sau khi kết thúc hoạt động đọc người đọc nắm được các thông tin
trình bày trong văn bản và biết cách đánh giá các thông tin đó và đôi khi có
khả năng phát hiện ra lượng thông tin mới, luồng ý nghĩa mới.
1.1.3 Kỹ năng, kỹ năng đọc - hiểu văn bản nghệ thuật
1.1.3.1 Kỹ năng
Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng. Những định nghĩa

9


này thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của
người viết. Tuy nhiên hầu như chúng ta đều thừa nhận kỹ năng được hình
thành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Kỹ năng học được do quá
trình lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó. Kỹ năng luôn
có chủ đích và định hướng rõ ràng.
Kỹ năng hiểu theo nghĩa thông thường là: “khả năng vận dụng những
kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” theo Từ điển

-

Giao tiếp là sự trao đổi, tiếp xúc với nhau bằng chuỗi các yếu tố

ngôn ngữ của người tham dự nói năng tạo nên để truyền đạt nội dung giao
tiếp. Đó là quá trình tạo lập mã và giải mã với phương tiện được sử dụng là
ngôn ngữ nhằm hướng đến mục đích nhất định.
A Leonchiev đưa ra định nghĩa giao tiếp như sau: “Đó là một hệ thống
những quá trình có mục đích và động cơ trong hoạt động tập thể, thực hiện
các quan hệ xã hội và nhân cách, quan hệ tâm lý và sử dụng các phương tiện
đặc thù mà trước hết là ngôn ngữ”.
Theo Từ điển Thuật ngữ ngôn ngữ học, giao tiếp là “sự thông báo hay
truyền đạt thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó”. Theo đó, có thể hiểu giao
tiếp là hoạt động giữa hai người hay hơn hai người nhằm bày tỏ với nhau một
thông tin trí tuệ hoặc cảm xúc, một ý muốn hành động hay một nhận xét về sự
vật, hiện tượng nào đó.
Tóm lại, giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin để nhận biết và tác
động lẫn nhau trong quan hệ giữa người với người nhằm đạt được mục đích
nhất định. Vì vậy giao tiếp là một quá trình hoạt động tâm lý hết sức phức tạp
trải qua ba trạng thái: thứ nhất là trao đổi thông tin, tiếp xúc tâm lý, thứ hai là
hiểu biết lẫn nhau, thứ ba là tác động và ảnh hưởng lẫn nhau. Nếu không thực
hiện tốt hoặc không thực hiện đủ cả ba trạng thái đó thì quá trình giao tiếp sẽ
kém hiệu quả hoặc gặp trục trặc.
Một hoạt động giao tiếp được hình thành bởi các nhân tố: nội dung giao
tiếp, nhân vật giao tiếp, hình thức giao tiếp, phương tiện giao tiếp, hoàn cảnh
giao tiếp,... các nhân tố này có mỗi quan hệ qua lại, bền chặt với nhau để cũng
hướng đến mục đích giao tiếp.
b. Khái niệm giao tiếp ngôn ngữ
Giao tiếp ngôn bằng ngôn ngữ nói tắt là giao tiếp ngôn ngữ là giao tiếp
lấy ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết làm phương tiện.

Ngôn ngữ viết ra đời muôn hơn ngôn ngữ nói, được biểu hiện bằng chữ

12


viết và được thu nhận bằng thị giác (mắt).
Ngôn ngữ viết có đặc điểm riêng là ngoài yêu cầu chặt chẽ về ngữ pháp
còn có yêu cầu về chính tả. Trong ngôn ngữ viết sự hỗ trợ của hệ thống dấu
câu, của các kí hiệu văn tự,... giúp biểu hiện thêm nội dung giao tiếp.
Nhìn chung ở ngôn ngữ nói hay ngôn ngữ viết thì giao tiếp đều gồm hai
mặt là tạo lập và lĩnh hội. Khi nói mặt tạo lập là nói, lĩnh hội là nghe, khi viết
mặt tạo lập là viết, mặt lĩnh hội là đọc. Như vậy ngôn ngữ nói và ngôn ngữ
viết là hai công cụ giao tiếp quan trọng bằng ngôn ngữ, giúp đạt được mục
đích của giao tiếp.
Trong giao tiếp ngôn ngữ giữ ba chức năng chính đó là: chức năng thông
báo, chức năng biểu cảm, chức năng tác động. Ba chức năng này được thể
hiện một cách đa dạng qua văn bản, đem lại những hiệu quả tương ứng. Chức
năng thông báo giúp văn bản phát huy hiệu quả về nhận thức giúp người đọc,
người nghe tiếp nhận lượng thông tin mà văn bản đề cập đến, chức năng biểu
cảm phát huy hiệu quả về việc bộc lộ tình cảm, cảm xúc, chức năng tác động
phát huy hiệu quả về hành động tác động đến đối tượng tiếp nhận. Ba chức
năng này không tách rời mà đan xen nhau, tùy từng văn bản mà chức năng
nào sẽ giữ vai trò là chức năng chủ yếu.
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ gồm hai quá trình là tạo lập và lĩnh
hội văn bản.
Tạo lập văn bản là hoạt động của người truyền tin đã tạo một văn bản
(nói và viết) được người truyền “mã hóa” bằng ngôn ngữ. Lĩnh hội là hoạt
động của người nhận tin khi “giải mã” ngôn ngữ mà họ nhận được. Để giải
mã được hệ thống tín hiệu ngôn ngữ của người truyền tin, người nhận tin phải
dựa vào năng lực ngôn ngữ cũng với thói quen, kinh nghiệm trong giao tiếp

đến sự vật, sự việc nào đó thì phải xác định rõ sự vật đó thế nào, ai làm gì với
ai, ở đâu, khi nào và nhăm mục đích gì,...
Trong dạy học, nội dung giao tiếp có thể là ngôn ngữ, ví dụ trong trường

14


hợp khi dạy môn tiếng Việt, các thầy cô giáo dùng tiếng Việt để nói về tiếng
Việt, về những đơn vị ngữ pháp và quy tắc dùng chúng.
c. Phương tiện giao tiếp và kênh giao tiếp
Phương tiện giao tiếp chủ yếu đó là ngôn ngữ. Ngôn ngữ được dùng
trong giao tiếp bao gồm cả nói và viết và chúng thường ở dạng một biến thể.
Chẳng hạn, biến thể tiếng địa phương như tiếng Hà Nội, tiếng Huế, tiếng Sài
Gòn, biệt ngữ xã hội,...
Để cho giao tiếp đạt hiệu quả thì người truyền và người nhận tín hiệu
phải có trình độ tương ứng nhất định trong việc sử dụng ngôn ngữ.
Phương tiện giao tiếp luôn được sử dụng thông qua một kênh giao tiếp
nhất định. Kênh giao tiếp là đường liên lạc giữa các nhân vật giao tiếp, kênh
nói-nghe trực tiếp, kênh nói-nghe gián tiếp, kênh viết-đọc thông qua chữ
viết,... Vì vậy phải tổ chức kênh sao cho quá trình giao tiếp đạt hiệu quả nhất.
Ví dụ: kênh viết - đọc thông qua chữ viết thì cần phải cấu trúc bài viết ra sao
và làm thế nào để đối tượng giao tiếp nhìn thấy rõ các chữ viết.
d. Hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp là bối cảnh diễn ra quá trình giao tiếp, bao gồm cả
khía cạnh vật chất và khía cạnh xã hội.
Khía cạnh vật chất dễ nhận biết nhất là thời điểm cụ thể, không gian cụ
thể, số người hiện diện, khí hậu, đồ vật xung quanh,... của cuộc giao tiếp cụ
thể.
Khía cạnh xã hội bao gồm những hiểu biết của người tham gia giao tiếp,
môi trường xã hội của sự giao tiếp: môi trường có tính chất lễ nghi trang trọng

sự hướng dẫn của GV thì tự các em HS có thể trao đổi với nhau, hơn nữa mỗi
HS lại có sự cảm nhận riêng bằng tâm hồn mình, đặt tình cảm của mình để
hiểu và cảm thụ bài đọc. Tóm lại, có thể nói giao tiếp sư phạm trong dạy học
đọc - hiểu là giao tiếp giữa GV và HS, giao tiếp giữa các HS với nhau và giao
tiếp giữa HS với thế hệ nào đó.
1.1.5.1.1 Giao tiếp giữa GV với HS và giao tiếp giữa các HS với nhau trong
quá trình dạy học đọc - hiểu văn bản nghệ thuật
Đây là hai mối quan hệ giao tiếp cơ bản trong nhà trường. Vai trò của
người GV chính là định hướng, tổ chức các hoạt động học tập cho HS, giúp
HS chiếm lĩnh được nội dung bài học. Đặc biệt là trong dạy học đọc - hiểu, ở

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status