Rèn luyện cho học sinh kỹ năng đọc hiểu các tác phẩm thơ mới trong chương trình ngữ văn 11 - Pdf 57

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn học được ví như người hát rong suốt chiều dài cuộc sống. Và thơ ca là
một phần cơ thể không thể thiếu của người hát rong ấy. Thơ ca như cây đàn
muôn điệu tấu lên muôn cung bậc tình cảm của con người. Với giá trị đặc biệt
ấy, thơ ca đến với chúng ta theo một con đường cũng không hề đơn giản. Để có
thể khám phá được sức mạnh của thơ ca chúng ta phải theo con đường riêng:
nhạy cảm, tinh tế, chủ động, sáng tạo.
Trong chương trình Ngữ Văn nói chung, các tác phẩm thơ ca chiếm 50%.
Và như vậy đồng nghĩa với việc các tác phẩm này cũng chiếm 50% trong các đề
kiểm tra, đề thi (học kì, học sinh giỏi, THPT Quốc gia). Tuy nhiên theo phương
pháp dạy học truyền thống thiên về lí thuyết, thầy cô giáo soạn bài giảng, truyền
thụ đến học sinh, học sinh tiếp thu thụ động kiến thức ấy, ghi nhớ và vận dụng
vào bài kiểm tra. Cứ như thế thành một chu kì khép kín. Phương pháp này trong
môi trường giáo dục hiện nay đã bộc lộ hạn chế đó là học sinh dần mất đi năng
lực tư duy, tự cảm thụ tác phẩm và giờ học văn vì không có sự tương tác qua lại
giữa thầy và trò trở nên buồn tẻ, nặng nề, không hứng thú.
Theo hướng đổi mới của giáo dục hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học
là bước chuyển đổi từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận
năng lực của người học, nghĩa là tổ chức cho học sinh hoạt động thay vì thụ
động nghe giảng. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương
pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng
kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất cho người học.
Theo tinh thần này, dạy học văn có nhiệm vụ kép: thông qua dạy kiến thức mà
trang bị cho học sinh cách đọc, phương pháp đọc để các em có thể tự mình đọc
và hiểu những văn bản khác.
Xác định rõ vai trò đọc hiểu như vậy, nhưng trong các trường THPT hiện
nay có một thực tế là không phải giáo viên nào cũng hiểu rõ bản chất cúa đọc hiểu và có những biện pháp đọc - hiểu phù hợp với từng thời kì, từng thể loại
văn học khác nhau trong đó có bộ phận Thơ mới Việt Nam. Trong khi đó, thế
giới Thơ mới là thế giới của cái tôi mà cái tôi thì "muôn hình vạn trạng". Nhận
xét về thời kì này, nhà phê bình Hoài Thanh từng nhận xét: "Chưa bao giờ

nước. Các thi sĩ của thuở ấy đã đem lại cho bạn đọc một tiếng nói mới, phản ánh
khá trung thực tâm trạng của cả một lớp thanh niên tiểu tư sản trong cuộc sống
có nhiều đau buồn, trăn trở và đôi khi bế tắc trước hiện trạng của đất nước thời
bấy giờ. Với sự đổi mới mạnh mẽ của hình thức nghệ thuật, Thơ mới thực sự đã
thu hút được sự chú ý của khá đông bạn đọc yêu thơ và đó cũng là một đóng góp
có ý nghĩa vào sự phát triển của thể loại và chứng minh khả năng biểu đạt phong
phú của tiếng Việt. Hiểu được thế giới nghệ thuật vô cùng phong phú của Thơ
mới là một thách thức đối với cả người dạy và người học. Việc hình thành cho
học sinh kỹ đọc - hiểu Thơ mới là hết sức cần thiết để đáp ứng yêu cầu dạy văn
và học văn hiện nay trong nhà trường THPT.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Đối với giáo viên dạy môn Ngữ văn
Phong trào Thơ mới là một trong những giai đoạn phát triển rực rỡ nhất
của thơ ca Việt Nam, đánh dấu sự trỗi dậy mạnh mẽ của "cái tôi" cá nhân. Các
tác phẩm Thơ mới được tuyển chọn trong chương trình Sách giáo khoa Ngữ Văn
11 (Hầu trời - Tản Đà, Vội vàng - Xuân Diệu, Tràng giang - Huy Cận, Đây thôn
Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử) là những thi phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ của các
tác giả nên việc tổ chức dẫn dắt cho học sinh tự chiếm lĩnh được tiếng nói tư
tưởng, tình cảm của nhà thơ đã gửi gắm trong các bài thơ là việc làm không mấy
dễ dàng. Đây là khó khăn mà hầu hết giáo viên nói chung và giáo viên trường
THPT Cẩm Thủy 1 đang trăn trở .
Thói quen dạy của một số giáo viên và thói quen học của một số học sinh
theo phương pháp cũ: giáo viên thuyết giảng học sinh ghi chép cũng là một trở
3


ngại không nhỏ đối với việc đổi mới theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập
của học sinh.
2.2. Đối với học sinh
Hiện nay trong các nhà trường phổ thông thái độ đối với môn Ngữ văn của

3.1.2 . Nỗi buồn cô đơn
Trong bài “Về cái buồn trong Thơ mới”, Hoài Chân cho rằng “Đúng là
Thơ mới buồn, buồn nhiều”, “Cái buồn của Thơ mới không phải là cái buồn ủy
mị, bạc nhược mà là cái buồn của những người có tâm huyết, đau buồn vì bị bế
tắc chưa tìm thấy lối ra”.
Cái Tôi trong Thơ mới trốn vào nhiều nẻo đường khác nhau, ở đâu cũng
thấy buồn và cô đơn.
3.1.3. Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu
4


Ngay từ khi ra đời, “Thơ mới đã đổi mới cảm xúc, đã tạo ra một cảm xúc
mới trước cuộc đời và trước thiên nhiên, vũ trụ”. Cảm hứng về thiên nhiên và
tình yêu đã tạo nên bộ mặt riêng cho Thơ mới. Đó là vẻ đẹp tươi mới, đầy hương
sắc, âm thanh, tràn trề sự sống.
3.1.4. Một số đặc sắc về nghệ thuật
Thơ mới là một bước phát triển quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa nền
văn học nước nhà những năm đầu thế kỉ XX với những cuộc cách tân nghệ thuật
sâu sắc.
Về thể loại, ban đầu Thơ mới phá phách một cách phóng túng nhưng dần
dần trở về với các thể thơ truyền thống quen thuộc như thơ ngũ ngôn, thất ngôn,
thơ lục bát.
Cách hiệp vần trong Thơ mới rất phong phú, ít sử dụng một vần (độc vận)
mà dùng nhiều vần như trong thơ cổ phong trường thiên: vần ôm, vần lưng, vần
chân, vần liên tiếp, vần gián cách hoặc không theo một trật tự nhất định.
Sự kết hợp giữa vần và thanh điệu tạo nên cho Thơ mới một nhạc điệu
riêng.
Ngoài việc sử dụng âm nhạc, Thơ mới còn vận dụng cách ngắt nhịp một
cách linh hoạt.
Ở một phương diện khác, cuộc cách tân về ngôn ngữ Thơ mới diễn ra khá

Việc tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử xã hội cũng là một chìa khóa giúp chúng ta
khi đọc hiểu thi phẩm.
3.2.2. Tiểu sử của nhà thơ
Hoàn cảnh gia đình, quê hương, quá trình hoạt động của nhà thơ... cũng là
một trong những yếu tố quan trọng tác động đến thế giới tâm hồn của thi nhân.
Trong Ba đỉnh cao Thơ mới, nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn cho rằng chính
mảnh đất Bình Đinh quê mẹ nhà thơ:
"Quê mẹ gió nồm thổi lên tươi mát
Bình Định lúa xanh ôm bóng tháp chàm"
với dạt dào sóng biển kết hợp với hoàn cảnh riêng là con vợ lẽ, sống xa mẹ từ
nhỏ đã góp phần dệt nên hồn thơ "khát khao giao cảm với đời" của Xuân Diệu.
Hay theo các nhà nghiên cứu, việc Huy Cận sinh ra trong một gia đình nhà
nho nghèo cũng ảnh hưởng rất nhiều đến chất Đường thi trong thơ Huy Cận.
Còn nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thúy trong Con mắt thơ khi bàn về đặc
điểm thơ Hàn Mặc Tử là Trăng, Hồn, Máu trở thành biểu tượng trong thơ ông có
chỉ ra một phần căn nguyên từ bệnh phong mà nhà thơ mắc phải.
3.2.3. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ
Đối với những bài thơ có hoàn cảnh sáng tác, giáo viên nên hướng dẫn học
sinh tìm hiểu vấn đề này bởi đây là yếu tố tác động trực tiếp đến thế giới cảm
xúc của nhà thơ khi sáng tác.
Khi hướng dẫn học sinh đọc - hiểu bài thơ Tràng giang, giáo viên nên giới
thiệu kĩ về hoàn cảnh sáng tác của bài thơ mà Huy Cận từng tâm sự. Đó là trước
Cách mạng tháng Tám, khi học ở trường Cao đẳng Canh nông, mỗi buổi chiều
mỗi khi nhớ nhà, Huy Cận thường mượn xe của bạn đạp ra sông Hồng ngắm
nhìn dòng sông mênh mông sóng nước. Một buổi chiều mùa thu năm 1939 khi
đứng ngắm sông Hồng, cảm hứng đến nhà thơ đã sáng tác Tràng giang. Như
vậy hoàn cảnh sáng tác này hé mở cảm xúc tâm trạng của thi nhân trong bài thơ
đó là nhớ nhà, buồn, cô đơn trước sông nước bao la, rợn ngợp.
3.3. Bám sát đặc điểm cái tôi trữ tình của nhà thơ
Cái tôi trữ tình là một thuật ngữ thuộc lí luận văn học chỉ tâm trạng, cảm

đặc biệt nhạy cảm trước sự vận động của thời gian; một trái tim luôn hướng tới
tuổi trẻ, tình yêu nơi trần thế bằng niềm yêu đời, yêu cuồng nhiệt, sôi nổi; nhà
thơ của sự nỗ lực cách tân thơ Việt và "thức nhọn giác quan". Phong cách thơ
Huy Cận là hàm súc, giàu chất suy tưởng, triết lí. Phong cách thơ Hàn Mặc Tử
hết sức phức tạp và đầy bí ẩn, với những lối nhảy có trong tư duy và hình ảnh
thơ.
3. 5. Phân tích, bình giá thơ
3.5.1. Phân tích văn bản
“Phân tích là hoạt động chia nhỏ đối tượng thành các yếu tố, các bộ phận
để xem xét”. Đối với môn N gữ văn, thì phân tích chính là cách để giáo viên và
học sinh tiêp cận văn bản ở góc độ sâu nhất. Phân tích các tác phẩm Thơ mới
giáo viên hướng dẫn học sinh cần tập trung vào các thao tác sau:
Phân tích từ ngữ. Khi phân tích từ ngữ trong Thơ mới chú ý tới sự sáng tạo
trong việc lựa chọn từ ngữ của các tác giả.
Phân tích các lớp nghĩa trong văn bản thơ. Từ hiện thực khách quan nhà
thơ bằng nhận thức chủ quan và tư duy nghệ thuật của mình sáng tạo nên hình
tượng văn học. Khi tiếp nhận tác phẩm văn chương, người đọc lại đi theo hành
trình ngược lai, nghĩa là thông qua hình tượng nghệ thuật để khám phá hiện thực
khách quan.
3.5.2. Bình giá
Nhà phê bình Hoài Thanh từng viết “Bình thơ là từ chỗ mình cảm thấy hay,
làm thế nào cho người khác cũng cảm thấy hay”, “ Bình là một phương pháp có
tính đặc thù trong cảm thụ và truyền thụ văn thơ”. Nội dung bình giá cần tập
trung vào một số vấn đề sau:
Thứ nhất là cần bình giá cái đẹp trong ngôn từ và trong tư duy nghệ thuật
của Thơ mới. Cái hay, cái đẹp của văn chương cần bình là ở cái bề sâu, cái bề xa
của ngôn từ, của tất cả các yếu tố, bộ phận làm nên một tác phẩm văn chương.
Ngôn từ trong tác phẩm văn chương không phải là ngôn từ trong lời nói tự
nhiên, nhất là ngôn ngữ trong Thơ mới bởi phong trào Thơ mới thực sự là một
7

cao nhất.
GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM
Vận dụng các phương pháp đọc - hiểu Thơ mới đã đề xuất ở mục 2 vào thực
tế thiết kế bài học và thực tế dạy học văn bản ở các lớp : 11A1, 11A5, 11A12.
ĐÂY THÔN VĨ DẠ
- Hàn Mặc Tử A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1. Kiến thức, kĩ năng, thái độ
Giúp học sinh:
Về kiến thức:
- Hiểu được những nét cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của Hàn Mặc Tử.
- Cảm nhận được những nét đặc sắc của bài thơ
- Nhận biết được sự vận động của tứ thơ, của tâm trạng chủ thể trữ tình và bút
pháp tài hoa, độc đáo của Hàn Mặc Tử.
8


Về kĩ năng:
- Rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu văn bản thuộc thể loại thơ trữ tình, có thể vận
dụng kĩ năng đó vào trong nhiều văn bản mà các em sẽ gặp sau này
- Rèn luyện kĩ năng cảm thụ thơ trữ tình
Về thái độ, tình cảm:
- Từng bước hình thành lòng yêu mến và trân trọng tài năng thơ ca của Hàn Mặc
Tử - Một nhân cách vượt lên nỗi đau của bệnh tật để không ngừng sáng tạo.
- Có ý thức vươn lên vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống qua tấm gương
tràn đầy nghị lực sống của Hàn Mặc Tử.
2. Định hướng góp phần hình thành năng lực
- Năng lực giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết)
- Năng lực thẩm mĩ (cảm thụ và sáng tạo)
- Năng lực hợp tác
- Năng lực tự học…



Tỉnh: Quảng Bình
Câu 2. Một thành phố trực thuộc tỉnh Bình Định nổi tiếng với tháp Đôi của
người Chăm, chùa Long khánh, Gềnh Giáng Tiên sa, biển Quy Hòa…?
Thành phố Quy Nhơn
Câu 3. Một từ gồm 5 chữ cái, tên một loại bệnh được coi là tứ chứng nan y?
Bệnh Phong
Câu 4. Bài thơ "Vội vàng" của Xuân Diệu, "Tràng giang" của Huy Cận
được sáng trong phong trào thơ nào?
Phong trào Thơ mới (1936-1939)
Giáo viên hỏi: Từ khóa hôm nay là gì?
NHÀ THƠ: HÀN MẶC TỬ
Sinh ra: Quảng Bình
Mất tại: Quy Nhơn
Mắc: Bệnh phong
Là nhà “Thơ mới”
Từ đó, giáo viên giới thiệu Vào bài: Trong lịch sử văn học Việt Nam, Hàn
Mặc Tử giống như một ngôi sao chổi xẹt ngang qua bầu trời nhưng ánh sáng
của nó vẫn còn lại mãi. Và một trong những ánh sáng chói lòa ấy phải kể đến
Đây thôn Vĩ Dạ. Để hiểu hơn bài thơ này, ta cùng tìm hiểu bài thơ.
HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI (25 phút)
- Mục đích: hình thành cho học sinh những kỹ năng cơ bản tiếp cận tác giả, tác
phẩm.
- Phương pháp: truyền đạt trực tiếp, nêu và giải quyết vấn đề. Dạy học theo
nhóm,…
Hoạt động của GV và HS
Kiến thức cơ bản
1. Hướng dẫn học sinh đọc - hiểu
phần tiểu dẫn SGK.

+ Năm 24 tuổi, ông mắc bệnh phong. Ông
về hẳn Quy Nhơn để chữa trị.
+ Ông mất khi tuổi đời còn rất trẻ(28 tuổi)
=> Những nghiệt ngã của số phận đã ảnh
hưởng rất lớn đến hồn thơ của ông.
10


Bước 4:
b. Sự nghiệp sáng tác
GV: Nhận xét, bổ sung, mở rộng - Ông là nhà thơ lạ nhất trong phong trào
và chốt lại kiến thức
thơ mới.
- Ông là một trong những nhà thơ có sức
sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào
thơ mới.
- Phong cách thơ Hàn Mặc Tử: Thơ Hàn
Mặc tử là một thế giới nghệ thuật kì dị. Ở
đó có sự đan xen, biến hóa của nhiều hình
ảnh phức tạp, bí ẩn. Tuy nhiên đằng sau
thế giới hình ảnh đó là một tâm hồn tràn
ngập tình yêu đời, chan chứa khát khao
sống.
- Tác phẩm chính : Gái quê (1936); Thơ
Điên (Đau thương) (1938); Xuân như ý,
Thượng
thanh
khí,
Cẩm
châu

câu hỏi trắc nghiệm
1. Dòng nào nhận xét đúng về âm
11


điệu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ?
a. Trầm hùng, bi phẫn trang trọng
b. Hào sảng, khoan thai dõng dạc
c. Nhẹ nhàng, da diết, khắc khoải
d. Chậm buồn, ảo não, nghẹn ngào
2. Đề tài của bài thơ là:
a. Tình yêu thiên nhiên
b. Tình yêu quê hương đất nước
c. Tình yêu lứa đôi
d. Cả A, B,C
- Yêu cầu HS đọc bài thơ theo âm
điêu vừa tìm hiểu.
- Nhận xét và đọc mẫu.
- Em hãy xác định bố cục của bài
thơ?
Bước 2
- Làm việc nhóm trao đổi thảo luận
và đưa ra câu trả lời
Bước 3
- Nhóm 2 cử đại diện lên trình bày
- Các nhóm còn lại chú ý phần
trình bày của nhóm đại diện sau đó
nhận xét, bổ sung
Bước 4
GV Nhận xét và chốt lại kiến thức

thi nhân.

II. Đọc - hiểu văn bản
1. Khổ 1
* Câu thơ mở đầu
“ Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”
- Hình thức: câu hỏi tu từ
- Sắc thái biểu cảm:
+ Hỏi han
+ Mời mọc
+ Trách móc
- Chủ thể trữ tình: tác giả
=> Là sự phân thân tác giả: thể hiện sự
băn khoăn, day dứt trong tâm trạng của thi
nhân.
=> Câu hỏi thể hiện một ước ao được trở
về thôn Vĩ trong sự mặc cảm và bất lực.
Câu thơ còn được xem như một lời mở
đầu, một cái cớ để nhà thơ có thể đưa hồn
mình về với thôn Vĩ một cách thật tự
nhiên.
* Ba câu thơ tiếp
@ Cảnh thôn Vĩ:
- "Nắng hàng cau"
12


ấy? (từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu
từ)
-> GV hướng dẫn HS phân tích các

xanh tươi, vừa thể hiện giọng điệu trữ tình
mê đắm, say sưa.
- "xanh như ngọc" là một hình ảnh so
sánh rất tự nhiên, giản dị
=> gợi một vẻ đẹp trong sáng thanh thoát
và sang trọng. Hình ảnh so sánh này còn
gợi lên vẻ đẹp tốt tươi, màu mỡ và trù phú
của làng quê này.
@ Người thôn Vĩ:
- “Mặt chữ điền”: là biểu tượng của nét
đẹp phúc hậu, hiền lành, trung thực.
- "Lá trúc che ngang”: lá trúc mảnh mai,
gợi nét đẹp kín đáo, dịu dàng của con
người xứ Huế.
-> GV hướng dẫn HS phân tích các => Câu thơ giàu chất tạo hình: sự hài hòa
hình ảnh: "mặt chữ điền", "là trúc giữa thiên nhiên và con người trong vẻ
che ngang" từ đó yêu cầu HS cảm đẹp kín đáo, dịu dàng.
nhận về người thôn Vĩ qua các hình
ảnh đã phân tích (hướng dẫn HS
bình thơ)
13


- Hình ảnh người thôn Vĩ hiện lên
qua chi tiết nào? sức gợi của chi
tiết đó? Từ bức tranh ngoại cảnh
em hiểu gì về cảm xúc của thi
nhân?
Bước 2
- Làm việc nhóm trao đổi thảo luận

Hoạt động của GV và HS
Kiến thức cơ bản
GV giao nhiệm vụ
Đọc đoạn thơ sau và trả lời các
câu hỏi:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
(Trích Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc
Tử, Tr 39, SGK Ngữ văn 11,Tập 2,
NXBGD 2007)
1. Nêu nội dung chính của đoạn
thơ trên?

HS trả lời
1. Nội dung chính của đoạn thơ: Cảnh vườn
thôn Vĩ lúc hừng đông và tình yêu thiên
nhiên của thi nhân.
2. Đoạn thơ được viết theo phương thức
biểu đạt biểu cảm.
3.Biện pháp tu từ về từ trong đoạn thơ:
- Biện pháp tu từ so sánh - Vườn ai mướt
quá xanh như ngọc
- Hiệu quả nghệ thuật: tô đạm vẻ đẹp tràn
14


2. Đoạn thơ được viết theo phương
thức biểu đạt nào?


Đoạn văn

5. HOẠT ĐỘNG TÌM TÒI, MỞ RỘNG, NÂNG CAO (5 phút)
- Mục đích: giúp HS tìm tòi, mở rộng kiến thức trong thực tiễn giao tiếp.
- Phương pháp: tự học, thực hành.
- Thời gian: làm bài ở nhà
Nội dung yêu cầu:
- Vẽ bản đồ tư duy khổ 1 của bài Đây thôn Vĩ Dạ.
- Sưu tầm một số bài thơ hoặc câu thơ có nói đến trăng trong thơ Hàn Mặc Tử.
- Tìm hiểu khổ thơ 2, 3.

15


D. TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN TIẾT 2
1. HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG (5 phút)
- Mục đích: thu hút sự tập trung chú ý, tư duy, nhận thức, gợi hứng thú, chuẩn bị
tâm thế, huy động kiến thức cũ, kiến thức liên quan làm hành trang để tiếp nhận
kiến thức mới.
- Phương pháp: trực quan, trải nghiệm.
- GV giao nhiệm vụ:
+ Hãy kể tên một số bài thơ hoặc câu thơ có nói đến trăng trong thơ Hàn Mặc
Tử.
- HS với kiến thức được giao chuẩn bị trước ở nhà trả lời các câu hỏi
Từ đó, giáo viên giới thiệu Vào bài: Trăng là nguồn cảm hứng vô tận của
người Việt ta trong kho tàng văn học bình dân cũng như của biết bao văn nhân,
thi sĩ trong nền văn chương bác học. Hàn Mặc Tử sinh giữa mùa trăng, lại mắc
phải căn bệnh mà ánh trăng có tác động mãnh liệt lên cơ thể, tâm trí, nên trăng
với Hàn Mặc Tử là thơ, là cuộc sống. Trăng là máu, là hồn! Trong tiết học này

2. Khổ 2
* Câu 1:
- Tách 2 vế, 2 nhóm khép kín: gió - gió;
mây- mây
Gió 1 đường, mây một nẻo
à trái quy luật tự nhiên
à là logic cảm xúc: yêu thôn Vĩ, muốn về
thôn Vĩ nhưng hoàn cảnh éo le, khoảng
cách xa xôi
Do vậy, thi nhân buồn vì xa cách chia li,
nhìn cảnh vật thấy sự phân li cách biệt
* Câu 2, 3, 4: Cảnh dòng sông
- Đây là cảnh thực: Dòng sông Hương
nước yên ả thanh bình, cồn Hến hoa ngô
trổ cờ (thơ Tố Hữu: mây núi hiu hiu chiều
lặng lặng; thơ Trúc Thông: lá ngô lay ở bờ
sông, bờ sông vẫn gió người không thấy
về)
16


- Xác định hình thức nghệ thuật và
tác dụng của hình thức nghệ thuật
ấy? (từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu
từ)
- Hãy nhận xét khái quát bức tranh
thiên nhiên trong khổ 2
Bước 2
– Làm việc nhóm trao đổi thảo luận
và đưa ra câu trả lời

xuất hiện và phụ thuộc vào tình trạng
bệnh tật của nhà thơ.
- "Kịp": có đủ thì giờ để làm một việc gì
trước khi không còn điều kiện để làm
hoặc hết thời hạn làm
à chịu sự chế ước, quy định, sự hối thúc
của thời gian
Bài thơ viết năm 1939 ( tác giả mất năm
1940), khi tác giả đã lâm bệnh. Trước cái
chết người ta khao khát sống. Có chở
trăng về kịp tối nay như một nỗi lo định
mện, chạy đua với thời gian để dành sự
sống. (điều này khác với cái vội vàng của
Xuân Diệu: lo tuổi trẻ tàn phai, không
hưởng thụ được cuộc sống)
Tiểu kết khổ 2:
- Cảnh vừa thực vừa ảo, vừa gần vừa xa.
Cảnh Huyê nhưng cũng là tâm cảnh của
tác giả
- Thôn Vĩ luôn thường trực nhưng lại xa
xôi, thi nhân đang trong cuộc chạy đua
cùng định mệnh với niềm khao khát
sống
3. Khổ 3
- Từ ngữ: mơ, đường xa, trắng quá, nhìn
không ra, sương khói, mờ nhân ảnh
à Cảnh vật mờ nhòe, hư ảo
Trong khổ 1, cảnh hiện lên rõ, có đường
nét, màu sắc; khổ 2: cảnh mờ nhòa nhưng
còn thấy nét lay động; khổ 3: hoàn toàn

Bước 4
GV nhận xét, bổ xung và chốt lại
kiến thức
3. Tổng kết bài học
- Yêu cầu HS nêu khái quát về giá
trị nội dung và nghệ thuật của bài
thơ.
- GV nhận xét, bổ sung và chốt lại
kiến thức

+ là tình trạng hiện thời của tác giả: ốm
đau, bệnh tật, bi kịch
à Nỗi đau đớn đến vô vọng: người ốm
đau, chẳng biết người thôn Vĩ sẽ có tình
cảm như thế nào?
Tiểu kết khổ 3: Khổ thơ cuối đượm
buồn, mang màu sắc ảo ảnh vừa có chút
hoài nghi, trách móc vừa chứa chan
niềm tha thiết với cuộc đời, với con
người của một tâm hồn cô đơn ham
sống, khát khao sống đến mãnh liệt.

III. Tổng kết
1. Ý nghĩa văn bản
- Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh đẹp
về miền quê đất nước, là tiếng lòng cuả
một người tha thiết yêu đời, yêu người.
2. Nghệ thuật
- Hình ảnh biểu hiện nội tâm
- Bút pháp gợi tả

B. Tập trung miêu tả hình dáng
C. Khắc hoạ nét thần thái
D. Chú ý tính cách
Câu 4: Một trong nhưng nỗi niềm mà thi nhân gửi
gắm qua khổ 1 là gì?
A. nỗi nhớ người yêu da diết
B. khát khao được trở về, tắm mình trong vẻ đẹp
của thôn Vĩ
C. thể hiện tâm trạng tiếc nuối những gì đã qua
Câu 5: Những hình ảnh sử dụng trong khổ thơ đầu
có đặc điểm:
A. Giản dị, gần gũi, đậm chất dân gian
B. Táo bạo, hiện đại, tạo cảm giác mạnh
C. Trang trọng, hàm xúc, mang đậm màu sắc cổ
điển
D. Giàu sức gợi, mang màu sắc tượng trưng
Bước 2
HS làm việc cá nhân
Bước 3
HS trả lời nhanh đáp án
Bước 4
GV nhận xét và chốt lại đáp án

Câu 1: A
Câu 2: B
Câu 3: C
Câu 4: B
Câu 5: D

HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG (5 phút)

hương xứ sở
- Gắn bó, thân thiện và dành tình yêu sâu
sắc với thiên nhiên,
- Có ý thức bảo vệ giữ gìn thiên nhiên - môi
trường sống tốt đẹp, lành mạnh
- Ý thức sâu sắc về trách nhiệm của bản
thân đối với xã hội
- Cần có nghị lực sống mạnh mẽ để có thể
đối mặt và vượt qua “giông tố” trong cuộc
đời
Đoạn văn

5. HOẠT ĐỘNG TÌM TÒI, MỞ RỘNG, NÂNG CAO (5 phút)
- Mục đích: giúp HS tìm tòi, mở rộng kiến thức trong thực tiễn giao tiếp.
- Phương pháp: tự học, thực hành.
- Thời gian: làm bài ở nhà
Bước 1
GV yêu cầu HS làm bài tập ở nhà sau đó nộp sản phẩm vào buổi học sau.
GV yêu cầu HS sưu tầm những bài viết phê bình văn học về tác giả và tác phẩm
của các nhà thơ trong phong trào thơ mới (đăng trên báo/tạp chí hoặc trong cách
sách chuyên khảo) để làm tư liệu học tập.
Bước 2
- HS làm việc nhóm ở nhà
Bước 3
- Chuẩn bị sản phẩm để giờ sau trình bày
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
4.1. Kết quả từ quan sát thực tế
Ở lớp 11A1 (Lớp đối chứng) dạy học theo phương pháp truyền thống,
không khí lớp học trầm, học sinh khó khăn trong việc phát hiện vấn đề. Ở lớp
11A5, 11A12 (Lớp thực nghiệm) (trong đó lớp 11A12 là lớp Cơ bản cuối, chất

%
S.L
11 25,58% 22 51,18% 5 11,62 %
%
18 41,86%
17 39,54% 0
0%
13 34,21 % 20 48,78 % 4 10,52 %

Kết quả thể nghiệm cho thấy, với cách dạy đã đề xuất thì điểm khá giỏi
cao hơn, điểm trung bình và yếu thấp hơn so với cách dạy truyền thống.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Với cách dạy này chúng ta đã đang góp phần thực hiện Nghị quyết Hội
nghị Trung ương 8: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục.”
Dạy đọc - hiểu không phải là cung cấp cho học sinh về kiến thức tác phẩm
mà dạy cho học sinh cách thức, phương pháp để đi tìm kiến thức đó, dạy cho
học sinh cách khám phá giá trị của văn bản thông qua thế giới nghệ thuật ngôn
từ.
Dạy học môn Ngữ văn nói chung và dạy các tác phẩm Thơ mới nói riêng
cần bám sát đặc trưng thể loại, đặc điểm trào lưu. đặc điểm phong cách và đặc
điểm cái tôi trữ tình của nhà thơ.
Giờ đọc văn phải lấy học sinh làm đối tượng trung tâm. Giáo viên đóng vai
trò là người hướng dẫn, tổ chức học sinh chiếm lĩnh tác phẩm.
2. Kiến nghị
Đối với Sở Giáo Dục: Sở cần có những đợt tập huấn chuyên môn để giáo
viên các trường THPT trong Tỉnh có điều kiện giao lưu học hỏi . Những sáng
kiến kinh nghiệm mang tính thiết thực cần được phổ biến rộng rãi.
Đối với nhà trường: Cần tổ chức nhiều hơn nữa những buổi hội thảo chuyên
môn cấp trường.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status