ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ HỒNG XÂY DỰNG HỆ THỐNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC NGÀNH KHOA HỌC XÃ HỘI TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC, ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Lý do nghiên cứu 6
2. Lịch sử nghiên cứu 8
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 12
3.1. Mục tiêu nghiên cứu 12
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 12
4. Phạm vi nghiên cứu 12
5. Mẫu khảo sát 13
6. Câu hỏi nghiên cứu 13
7. Giả thuyết nghiên cứu 13
8. Phƣơng pháp nghiên cứu 13
8.1. Phương pháp phân tích – tổng hợp 14
8.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 14
8.3. Phương pháp phỏng vấn sâu 14
8.4. Phương pháp quan sát 15
8.5. Phương pháp trưng cầu ý kiến chuyên gia 15
9. Kết cấu của luận văn 15
PHẦN NỘI DUNG 16
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 16
1.1. Khoa học và nghiên cứu khoa học 16
1.1.1. Khoa học 16
1.1.2. Nghiên cứu khoa học (NCKH) 18
1.2. Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học và tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu
khoa học 24
1.2.1. Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học 24
1.2.2.Tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học 31
1.3. Đặc điểm của nghiên cứu khoa học xã hội và yêu cầu về tiêu chí đánh giá . 32
PHỤ LỤC 91 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐHKH Đại học Khoa học
ĐHTN Đại học Thái Nguyên
KQNC Kết quả nghiên cứu
KHXH Khoa học xã hội
NCKH Nghiên cứu khoa học
Nội dung nghiên cứu chính của các đề tài cấp cơ sở thuộc
lĩnh vực KHXH tại trường ĐHKH
50
Bảng 2.6
Nội dung nghiên cứu chính của các đề tài cấp Bộ và cấp
Đại học tại trường ĐHKH
50 - 51
Bảng 2.7
Số lần các thầy cô đã từng tham gia đánh giá KQNC thuộc
lĩnh vực KHXH tại trường ĐHKH
52
Bảng 2.8
Cấp đề tài mà các thầy cô đã từng tham gia đánh giá thuộc
lĩnh vực KHXH tại trường ĐHKH
53
Bảng 2.9
Trình độ chuyên môn và cấp đề tài mà thầy cô đã từn tham
gia đánh giá
54
Bảng 2.10
Chất lượng của các đề tài NCKH các cấp thuộc lĩnh vực
KHXH đã được nghiệm thu tại trường ĐHKH
60
Bảng 2.11
Bảng xếp loại đề tài NCKH các cấp thuộc lĩnh vực KHXH
tại trường ĐHKH
60
Bảng 2.12
Các thành viên trong hội đồng đánh giá có điểm chênh
lệch >= 2/10 điểm trở lên
được thừa nhận. Vì vậy, nếu quá nặng về tính khả thi, tính ứng dụng thực tiễn là
chưa đủ trong đánh giá các công trình khoa học xã hội.
7
Do chưa có hệ thống tiêu chí đánh giá công trình khoa học xã hội khách quan
và toàn diện, công tác nghiệm thu đánh giá KQNC của các đề tài, dự án về khoa
học xã hội vẫn còn thiếu khách quan, chưa chính xác và không thật sự nghiêm túc.
Điều này làm cho hoa học xã hội phần nào mất đi động lực phát triển của nó.
Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên (ĐHKH, ĐHTN) tiền
thân là Khoa Khoa học Tự nhiên, được thành lập năm 2002 theo Quyết định số
1286/QĐ-BGD&ĐT-TCCB ngày 28/03/2002 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo (Bộ GD&ĐT). Đến tháng 11/2006, để phù hợp với sự mở rộng của quy mô
và ngành đào tạo, Giám đốc ĐHTN đã ký Quyết định số 803/QĐ-TCCB đổi tên
Khoa Khoa học Tự nhiên thành Khoa Khoa học Tự nhiên và Xã hội. Tháng
12/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1901/QĐ – TTg ngày 23/
12/ 2008 về việc thành lập trường Đại học Khoa học trên cơ sở phát triển khoa
Khoa học Tự nhiên và Xã hội thuộc ĐHTN. Với chức năng và nhiệm vụ đào tạo,
bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có trình độ đại học, sau đại học. Trường ĐHKH đã
triển khai và thực hiện được nhiều đề tài nghiên cứu khoa học thuộc các cấp như
cấp cơ sở, cấp Đại học Thái Nguyên, cấp Bộ và cấp Nhà nước; ứng dụng những
tiến bộ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và
khoa học xã hội phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực và đất
nước. Nhìn các hướng nghiên cứu của trường ĐHKH cả lĩnh vực khoa học tự
nhiên và xã hội đều cho thấy được tính đa dạng và phong phú về nội dung
nghiên cứu, đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của nhà trường và xã hội.
Tuy nhiên qua quan sát thực tế, chúng tôi nhận thấy việc đánh giá kết quả
các công trình nghiên cứu khoa học xã hội hiện nay của trường ĐHKH vẫn còn
những hạn chế. Điều này thể hiện ở khoảng cách hay sự khác nhau giữa kết quả
của hoạt động đánh giá với giá trị thực sự của kết quả nghiên cứu. Biểu hiện cụ
thể là các kết quả nghiên cứu được xếp loại “Xuất sắc”, “Tốt” là rất nhiều trong
gia ngoài, những người không tham gia vào thực hiện chương trình đó. Tác giả
nhấn mạnh cần có cơ chế phản hồi thường xuyên sẽ đảm bảo cho phương pháp
đánh giá được thích nghi với hoàn cảnh. Đồng thời, tác giả còn đưa ra đề xuất
hội đồng đánh giá cần dừng lại ở mức tương đối nhỏ (từ 6- 8 người). Thời gian
9
thực hiện đánh giá là bắt đầu đánh giá khoảng giữa của chương trình để có thể
đánh giá được những việc làm trước đó và thời gian dành cho việc đánh giá tối
đa là 6 tháng cho đánh giá bằng phương pháp “chuyên gia” và 3 tháng cho đánh
giá bằng phương pháp “hội đồng”.
A.M.T Rouban, trong cuốn “Đánh giá các chương trình R&D của Pháp”
cho rằng mặc dù có thể đưa ra hệ thống chỉ báo rõ ràng, tuy nhiên khi tiến hành
đánh giá và sử dụng công trình khoa học thì sẽ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố
như các nhà khoa học, các nhà quản lý, các cơ quan giám sát. Do vậy, việc đưa
ra một hệ thống chỉ báo có thể áp dụng cho mọi đánh giá vẫn là vấn đề đang
được bàn cãi.
Trong cuốn “Đánh giá R&D: kinh nghiệm và suy nghĩ” Delcroix có cho
rằng quá trình đánh giá là một hoạt động liên tục và thâm nhập vào các hoạt
động của chương trình. Tác giả này đưa ra một số cơ sở của đánh giá như đánh
giá nguồn gốc của nghiên cứu khoa học và công nghệ trong từng giai đoạn; đánh
giá ảnh hưởng về mặt kinh tế xã hội của đề tài nghiên cứu; sự tham gia của các
đội ngũ nghiên cứu trong các hoạt động có tính quốc tế.
Có thể thấy, các quan niệm của các tác giả kể trên mới chỉ dừng lại ở việc
đề ra một số nguyên tắc, phương pháp, cách thức chung cho việc đánh giá kết
quả nghiên cứu và triển khai.
Ở Việt Nam bàn về công tác đánh giá nghiên cứu khoa học trước hết phải
kể đến: Quyết định số 19/2007/QĐ-BKHCN ngày 18 tháng 9 năm 2007 của Bộ
Khoa học và Công nghệ quy định về việc đánh giá nghiệm thu đề tài nghiên cứu
khoa học cơ bản trong khoa học tự nhiên, trong đó có đưa ra tiêu chí đánh giá
thông qua: Kết quả nghiên cứu; kết quả tham gia đào tạo sau đại học; tiến độ
trúc logic của kết quả nghiên cứu.
Ngoài ra, còn có những bài viết về đánh giá hoặc thẩm định nghiên cứu
khoa học được đăng trên tạp chí Hoạt động khoa học của Bộ Khoa học và Công
nghệ và một số trang web. Trong đó nổi bật bài “Một số vấn đề trong đánh giá
và nghiệm thu kết quả nghiên cứu khoa học đăng trên tạp chí “Hoạt động khoa
học” số 4/2005 của Nguyễn Văn An. Bài viết đã làm rõ vai trò và thực trạng của
11
hoạt động đánh giá và nghiệm thu nghiên cứu khoa học Việt Nam hiện nay và
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đổi đổi mới cơ chế quản lý
trong đánh giá, nghiệm thu kết quả nghiên cứu khoa học.
Trong bài viết “Đánh giá định lượng kết quả nghiên cứu khoa học” của GS.
Hồ Tú Bảo đăng trên tạp chí “Hoạt động khoa học”, số 7/2010 đã giới thiệu khái
niệm và một số đặc điểm cơ bản của các độ đo tiêu biểu dùng để đánh giá định
lượng các ấn phẩm nghiên cứu khoa học, gồm chỉ số trích dẫn, hệ số ảnh hưởng và
chỉ số H.
Vũ Cao Đàm trong bài “Đánh giá nghiên cứu khoa học như thế nào”
đăng trên trang web khoahoc.baodatviet.vn đã nêu rõ đánh giá nghiên cứu
khoa học nên được sử dụng trong một số trường hợp cụ thể, phân loại đánh giá
nghiên cứu khoa học và đề nghị xây dựng một hệ thống đánh giá khoa học với
một số cách tiếp cận và tiêu chí phù hợp để đánh giá khách quan các công trình
khoa học.
Với “Đánh giá khoa học qua định lượng ấn phẩm: Những xu hướng mới
trên thế giới trong đánh giá khoa học xã hội, nghệ thuật và nhân văn” đăng
tải trên trang web khoavanhoc-ngonngu.edu.vn. Phạm Thị Ly đã cho thấy thực
trạng phân cực trong kết quả nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trên thế
giới thông qua dữ liệu của hệ thống đánh giá khoa học qua định lượng ấn phẩm,
nêu ra những hạn chế của các hệ thống này trong việc đánh giá các kết quả
nghiên cứu trong khoa học xã hội và nhân văn. Bài viết cũng nêu những xu hướng
mới trên thế giới trong việc cải tiến phương pháp đo lường ấn bản khoa học, chủ
hội, yêu cầu về tiêu chí đánh kết quả nghiên cứu khoa học xã hội).
- Làm rõ thực trạng việc đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học xã hội tại
trường ĐHKH, ĐHTN.
- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học xã hội ở
trường ĐHKH, ĐHTN.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian nghiên cứu: Trường ĐHKH, ĐHTN.
- Phạm vi về thời gian khảo sát số liệu: 5 năm trở lại đây (từ năm 2007 đến 2011).
13
5. Mẫu khảo sát
- Các công trình nghiên cứu khoa học xã hội;
- Các luận văn thạc sĩ;
- Cán bộ, giảng viên trực tiếp thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp thuộc
lĩnh vực khoa học xã hội;
- Các chuyên gia;
- Cán bộ quản lý, chuyên viên phụ trách hoạt động nghiên cứu khoa học
của trường ĐHKH.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Việc đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học xã hội tại trường ĐHKH, ĐHTN
hiện nay như thế nào?
Một hệ thống tiêu chí như thế nào để nhận dạng được đúng chất lượng các
công trình nghiên cứu xã hội ở trường ĐHKH, ĐHTN?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Việc đánh giá chất lượng kết quả các công trình nghiên cứu khoa học xã hội
của trường ĐHKH, ĐHTN hiện nay còn nhiều hạn chế: chưa phản ánh đúng
chất lượng các công trình nghiên cứu.
Hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng kết quả nghiên cứu khoa học xã hội cần
bao hàm những nội dung để nhận dạng chất lượng của kết quả nghiên cứu như tính
mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, tính hệ thống, toàn diện trong nghiên
thể hiện những liên hệ logic của các sự kiện đang được xem xét. Còn đối với
thông tin định lượng chúng tôi xử lý theo phương pháp toán học bằng bảng số
liệu, biểu đồ.
8.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Với mục đích nhằm thu thập được những thông tin sâu hơn liên quan đến vấn
đề nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn một số cán bộ quản lý của trường,
chuyên gia và giảng viên với tư cách là chủ nhiệm các đề tại, cụ thể như sau:
- Phỏng vấn 02 cán bộ (01 phó trưởng phòng Đào tạo NCKH &QHQT và
01 chuyên viên phụ trách mảng nghiên cứu khoa học).
15
- Phỏng vấn sâu 05 giảng viên là chủ nhiệm các đề tài nghiên cứu khoa học
thuộc các cấp như cấp cơ sở; cấp Bộ, cấp Đại học.
- Phỏng vấn 05 cán bộ giảng viên tham gia chấm đề tài nghiên cứu khoa
học xã hội các cấp).
8.4. Phương pháp quan sát
Chúng tôi còn sử dụng phương pháp quan sát để quan sát quy trình nghiệm
thu một đề tài nghiên cứu khoa học; quan sát cách thức quản lý vấn đề khoa học
của trường; quan sát quy trình làm việc của hội đồng nghiệm thu để có được cái
nhìn tổng quát về vấn đề nghiên cứu.
8.5. Phương pháp trưng cầu ý kiến chuyên gia
Sau khi đề xuất hệ thống tiêu chí đánh giá KQNC khoa học xã hội tại trường
ĐHKH, chúng tôi tiến hành trưng cầu ý kiến của chuyên gia về những tiêu chí được
xây dựng cũng như tính khả thi của hệ thống tiêu chí mới này. Từ đó, làm căn cứ
cho việc đưa ra những khuyến nghị đối với trường ĐHKH để áp dụng hệ thống tiêu
chí này vào thực tiễn công tác đánh giá KQNC khoa học xã hội của trường ĐHKH
góp phần khắc phục những hạn chế đang tồn tại trong công tác đánh giá KQNC
khoa học xã hội hiện nay.
9. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
xem như là phương tiện cung cấp những tri thức khách quan cho con người.
Từ điển Xã hội học của Nguyễn Khắc Viện (Nhà xuất bản thế giới, 1994),
khoa học “là một thiết chế xã hội”. [17] Khoa học trong trường hợp này được
xem như một hệ thống các giá trị, các quy tắc tạo nên khuôn mẫu xã hội biểu
hiện sự thống nhất được xã hội thừa nhận. Nó đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực
hoạt động xã hội và thực hiện những chức năng của một thiết chế xã hội như
định ra một khuôn mẫu hành vi lấy tính khoa học làm thước đo; Xây dựng luận
cứ cho các quyết định sản xuất, kinh doanh, tổ chức xã hội; Khoa học ngày càng
trở thành một phương tiện góp phần rất quan trọng làm biến đổi tận gốc rễ mọi
mặt của đời sống xã hội.
17
Theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam (Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ
Chí Minh, 2005), khoa học “là hệ thống các tri thức của người ta về tự nhiên, về
xã hội, về tư duy, tích lũy trong quá trình lịch sử, khiến người ta khám phá được
những quy luật khách quan của các hiện tượng và giải thích được các hiện
tượng đó”. [16].
Tóm lại qua các từ điển được tra cứu, chúng tôi nhận thấy về cơ bản có 4
định nghĩa về khoa học dựa trên 4 cách tiếp cận sau:
Khoa học là một hệ thống tri thức
Khoa học là một hoạt động sản xuất tri thức
Khoa học là một hình thái ý thức xã hội
Khoa học là một thiết chế xã hội.
Trong khuôn khổ của luận văn này, khoa học được hiểu là: hệ thống tri thức
về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của
tự nhiên, xã hội, tư duy. Đây cũng là khái niệm được sử dụng rộng rãi và được
UNESSCO sử dụng trong các văn bản chính thức của mình. Khoa học trong trường
hợp này như một hệ thống tĩnh tại các tri thức, xem khoa học như một sản phẩm trí
tuệ được tích lũy từ trong hoạt động tìm tòi, sáng tạo của nhân loại.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này chúng ta cũng cần phân biệt hệ
hiểu “nghiên cứu” là gì.
Theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí
Minh, (2005), nghiên cứu “là đi sâu vào một vấn đề để tìm hiểu bản chất vấn đề
đó hoặc để tìm cách giải quyết những điều mà vấn đề đó đề ra”. [16].
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Nghiên cứu thường được mô tả “là
một quy trình tìm hiểu tích cực, cần cù và có hệ thống nhằm khám phá, phiên
giải và xem xét các sự kiện. Sự điều tra tri thức này tạo ra sự hiểu biết tốt hơn
về các sự kiện, hành vi hoặc giả thuyết và tạo ra các ứng dụng thực tế thông qua
các định luật và giả thuyết. Thuật ngữ nghiên cứu cũng được sử dụng để mô tả
việc thu thập thông tin về các vấn đề chuyên môn và nó thường liên quan đến
khoa học và các phương pháp khoa học”. Với cách hiểu này, có thể thấy rằng
19
nghiên cứu được hiểu là một quá trình đi sâu tìm hiểu nhằm khám phá bản chất
các sự kiện.
Nghiên cứu còn được hiểu là quá trình điều tra có thông số và mục tiêu rõ
ràng: khám phá hay sáng tạo nên tri thức, xây dựng học thuyết; kiểm tra, xác
minh, thẩm định hay bác bỏ một tri thức khoa học hay học thuyết.
Từ các cách hiểu trên về nghiên cứu, khái niệm nghiên cứu khoa học cũng
được hiểu theo nhiều cách khác nhau:
Theo luật Khoa học và công nghệ (2000), nghiên cứu khoa học “là hoạt
động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và
tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa
học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng”. [11, tr.1]
Theo Vũ Cao Đàm: nghiên cứu khoa học “là một hoạt động xã hội, hướng vào
việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết: hoặc là phát hiện bản chất sự vật,
phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và
phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới”. [9, tr.20]. Về mặt thao tác, nghiên cứu
khoa học là quá trình hình thành và chứng minh luận điểm khoa học về một sự vật
hoặc hiện tượng cần khám phá”. [8, tr.35].
động khác trong đời sống xã hội.
Từ đặc điểm chung nhất của nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi những sự
vật, hiện tượng mà khoa học chưa biết đến dẫn đến hàng loạt những đặc điểm
khác của nghiên cứu khoa học đó là:
Tính mới: Nghiên cứu khoa học là quá trình khám phá thế giới của những
sự vật, hiện tượng mà khoa học chưa biết, cho nên quá trình nghiên cứu khoa
học luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới. Tính
mới là đặc điểm quan trọng nhất trong nghiên cứu khoa học vì trong nghiên cứu
khoa học không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo mà các đồng
nghiệp đi trước đã thực hiện. Như vậy, có thể thấy hoạt động nghiên cứu khoa
học là một loại lao động trí óc mang tính sáng tạo, nó cho thấy năng lực và sự
sáng tạo của người nghiên cứu, và đây cũng là điểm cơ bản nhất phân biệt nó
với lao động sản xuất bình thường. Hiểu được đặc điểm này, giúp các chuyên
21
gia đánh giá KQNC sẽ đặc biệt chú trọng tới tính mới của đề tài khi thực hiện
việc đánh giá. Đồng thời, việc công nhận và khẳng định vai trò quan trọng của
tính mới trong nghiên cứu khoa học cho thấy sự tôn trọng và khuyến khích sự
sáng tạo cũng như năng lực của người nghiên cứu.
Tính tin cậy: Tính tin cậy ở đây được hiểu là một kết quả nghiên cứu đạt
được nhờ một phương pháp nào đó phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần
trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau và với những
kết quả thu được hoàn toàn giống nhau. Một kết quả thu được ngẫu nhiên dù phù
hợp với giả thuyết đặt ra trước đó cũng chưa xem là đủ tin cậy để kết luận về bản
chất của sự vật hoặc hiện tượng. Đặc điểm này buộc người nghiên cứu phải thận
trọng khi lựa chọn và sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong quá trình thực
hiện đề tài, để có được những kết quả nghiên cứu đáng tin cậy. Đồng thời, với
đặc điểm này cũng giúp loại bỏ hoàn toàn những kết quả nghiên cứu không
trung thực, có tính nhào nặn hoặc ngẫu nhiên.
Tính thông tin: Sản phẩm của nghiên cứu khoa học luôn mang đặc trưng
một kết luận của nghiên cứu khoa học, mà nội dung là các giả thuyết đã đặt ra
không được xác nhận về mặt khoa học, nghĩa là trong sự vật không tồn tại quy
luật hoặc giải pháp như đã dự kiến. Hiểu được đặc điểm này, giúp cho người
đánh giá khi đánh giá KQNC có cái nhìn khách quan, không định kiến hoặc
nhạo báng người nghiên cứu thất bại.
Tính kế thừa: Hầu như không có một công trình nghiên cứu khoa học nào
bắt đầu từ chỗ hoàn toàn trống không về kiến thức. Mỗi nghiên cứu phải kế thừa
các kết quả nghiên cứu trong các khoa học khác nhau rất xa. Hiểu được đặc điểm
này, khi đánh giá KQNC người đánh giá cần phân biệt giữa “đạo văn” với “kế
thừa”, để tránh gây nên những ức chế, thiệt thòi cho người nghiên cứu.
Tính cá nhân: Dù là một công trình nghiên cứu khoa học do một tập thể thực
hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định. Tính cá nhân
được thể hiện trong tư duy, nỗ lực cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân. Tùy
theo trình độ học vấn, tư chất di truyền, thể lực và môi trường xã hội mà cá tính
và năng lực cá nhân hình thành và phát huy khác nhau. Hiểu được đặc điểm này,
23
khi đánh giá KQNC, người đánh giá cần phải tôn trọng ý kiến đề xuất khoa học của
một cá nhân mới xuất hiện, thậm chí chưa được thử nghiệm một cách đầy đủ.
Chính khí chất và tính cách khác nhau của cá nhân những người nghiên cứu là yếu
tố quan trọng tạo nên sự phát triển không ngừng cho nền khoa học.
Tính trễ trong áp dụng: Một kết quả nghiên cứu không phải lúc nào cũng
có thể áp dụng ngay vào sản xuất và đời sống được vì nhiều lý do như điều kiện
kinh tế, văn hóa, tâm lý xã hội,… đặc biệt là những kết quả nghiên cứu trong
nghiên cứu cơ bản, có khi phải mất nhiều năm mới thấy được kết quả và hiệu
quả của nó. Tính chất này được gọi là độ “trễ” trong nghiên cứu khoa học. Do
vậy, với đặc điểm này thì trong đánh giá KQNC, người đánh giá không nên nặng
nề về tính ứng dụng của kết quả nghiên cứu, nhất là đánh giá KQNC trong khoa
học xã hội.
Trên đây là những đặc điểm riêng có của hoạt động nghiên cứu khoa học,
1.2.1. Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học
a. Đánh giá
Khái niệm “Đánh giá” tương đương với khái niệm “Evaluer” trong tiếng
Pháp và “Evaluate” trong tiếng Anh:
Từ điển Larousse (2002) giải thích “Evaluer” là “Déterminer la valeur, le
prix, l’importance de”, tạm dịch là “Xác định giá trị, giá cả, tầm quan trọng”.
Từ điển Web Dictionary of Cybernetics and System định nghĩa “Đánh giá
là sự sử dụng phương pháp và thủ tục khoa học để thu nhận và hạn chế thông
tin nhằm mục đích so sánh một sự kiện thực tế hoặc một sự kiện trong giả thuyết
với mục tiêu và giá trị chuẩn”
Từ điển Cobuild, 2001 giải thích “Evaluate” là “Khi bạn muốn đánh giá
một người hoặc một sự vật náo đó, bạn cần xem xét chúng để phán xét về chúng,
chẳng hạn, chúng tốt hoặc xấu như thế nào”.
Trong tiếng Việt: “Đánh giá” được hiểu theo một số nghĩa như sau:
+ Xem xét một công việc sau khi đã hoàn tất, xem xét mức độ đạt yêu
cầu so với dự kiến ban đầu.
+ Xem xét một con người theo một tiêu chuẩn đã đặt ra.