Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Phú Thọ - Pdf 26



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN HOÀNG ANH XÂY DỰNG HỆ THỐNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ
NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP
SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Quản lý khoa học và công nghệ


Chuyên ngành: Quản lý khoa học và công nghệ
Mã số: 60.34.72 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Vũ Cao Đàm Hà Nội, tháng 11 năm 2009 1
Phần một
MỞ ĐẦU
Trang
1. Lý do nghiên cứu
7
2. Lịch sử nghiên cứu
12
3. Mục tiêu nghiên cứu
14
4. Phạm vi nghiên cứu
14
5. Mẫu khảo sát
15

23
1.1.2.2. Khái niệm đổi mới công nghệ
24
1.1.2.3. Năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp
25
1.1.3. Đánh giá năng lực đổi mới công nghệ
25
1.1.3.1. Đánh giá 2
1.1.3.2. Đánh giá năng lực
26
1.1.3.3. Đánh giá năng lực đổi mới công nghệ
26
1.1.4. Tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ trong sản xuất
công nghiệp.
27
1.1.4.1. Tiêu chí
27
1.1.4.2. Tiêu chí về năng lực đổi mới công nghệ trong sản xuất công
nghiệp;
27
1.1.4.3. Tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ trong sản xuất
công nghiệp.
28
1.1.4.4. Năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp sản xuất công
nghiệp.
28
2. CÁC QUAN HỆ TRONG ĐÁNH GIÁ NLĐMCN CỦA DN

2.2. Tình hình đánh giá năng lực đổi mới công nghệ của doanh
nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn Phú Thọ.
41
2.2.1. Tổng hợp kết quả khảo sát.
41

3
2.2.2. Nhận xét tình hình đánh giá năng lực công nghệ của doanh
nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn Phú Thọ.
41
2.3 Bàn luận về tiêu chí đánh giá.
45
2.3.1. Khái quát tình hình về chỉ tiêu, nội dung đánh giá năng lực đổi
mới công nghệ
45
2.3.2 Thực trạng, nguyên nhân và hướng tháo gỡ khó khăn về đánh
giá năng lực đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp sản xuất
công nghiệp:
47
2.3.2.2. Thực trạng, nguyên nhân.
48
2.3.2.3. Hướng tháo gỡ khó khăn trong đánh giá năng lực đổi mới
công nghệ của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp:
50
2.5. Kết luận chương 2.
51
Chương 3: HỆ THỐNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC
ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
CÔNG NGHIỆP


4
chí thành phần.
- Tiêu chí về năng lực cạnh tranh của sản phẩm và các tiêu chí
thành phần.

- Tiêu chí năng lực tìm kiếm và lựa chọn công nghệ và các tiêu
chí thành phần.

- Tiêu chí về năng lực đàm phán công nghệ và các tiêu chí thành
phần.

- Tiêu chí về năng lực tiếp nhận và đưa công nghệ mới vào hoạt
động và các tiêu chí thành phần

- Tiêu chí về các thiết chế đổi mới công nghệ và các tiêu chí
thành phần.

3.4. Lượng hoá các tiêu chí
66
3.1 Xác định điểm và các khung điểm ( mức điểm) cho các tiêu chí
(để tính độ đo của năng lực đổi mới công nghệ)
66
3.5. Phương pháp đánh giá
75
3.5.1 Lựa chọn phương pháp đánh giá;
75
3.5. 2. Mức đánh giá.
76
3.6. Tính toán và trình bày kết quả
76

công nghệ tại doanh nghiệp;
- Phụ lục 4: Tổng hợp kết quả điều tra, khảo sát hoạt động đáng giá năng lực
ĐMCN của các doanh nghiệp;
- Phụ lục 5: Phiếu trưng cầu ý kiến về hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực
ĐMCN của doanh nghiệp;
- Phụ lục 6: Phiếu điều tra, áp dụng thử hệ thống tiêu chí để đánh giá
NLĐMCN của doanh nghiệp;
- Phụ lục 7: Danh sách các doanh nghiệp đã tiến hành điều tra, khảo sát về
hoạt động ĐMCN;
- Phụ lục 8: Danh sách các doanh nghiệp đã tiến hành điều tra, khảo sát về
hoạt động đánh năng lực ĐMCN;
- Phụ lục 9: Danh sách các doanh nghiệp đã áp dụng thử hệ thống tiêu chí để
đánh giá năng lực đổi mới công nghệ.
CÁC BẢNG, BIỂU
- Bảng 3.1: Hệ thống tiêu chí và các tiêu chí thành phần;
- Bảng 3.2: Bảng thống tiêu chí và các tiêu chí thành phần được
lượng hoá;
- Bảng 3.3: Tổng hợp năng lực đổi mới công nghệ của 05 doanh
nghiệp. 6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CN: Công nghệ
NLCN: Năng lực công nghệ
ĐMCN: Đổi mới công nghệ
NLĐMCN: Năng lực đổi mới công nghệ
ĐG: Đánh giá
ĐGNLĐMCN: Đánh giá năng lực đổi mới công nghệ

các quốc gia ngày một gia tăng, nhất là đối với các quốc gia đang phát triển. Với sự
phát triển mạnh mẽ của kinh tế, khoa học và công nghệ đặt ra nhiều yêu cầu mới cho
công tác quản lý khoa học và công nghệ. Bởi sự phát triển không chỉ đem đến những
những thành tựu lớn lao, mà bên cạnh đó còn có các yếu tố tiêu cực, như tác động xấu
đến môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên, cạnh tranh không lành mạnh, phân hoá
giàu nghèo, dịch bệnh và rất nhiều rủi ro khác. Bởi khoa học và công nghệ ngày càng
đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển, nguồn lực khoa học và công nghệ là nguồn
lực quan trọng nhất. Để công nghệ phát huy được năng lực tạo ra của cải và hạn chế
các tác động tiêu cực, thì cần phải nhận thấy và thực hiện tốt quản lý công nghệ cả
cấp vĩ mô và vi mô “Năng lực tạo ra của cải của quốc gia, cũng như của công ty
không chỉ phụ thuộc và việc có được công nghệ, mà quan trọng hơn là khả năng quả
lý các nguồn lực và tài sản công nghệ. Chỉ khi nào công nghệ vươn ra được thị
trường, được người dùng chấp nhận thì lúc đó nó mới tạo ra của cải. Đây là vấn đề
cốt lõi của công tác quản lý công nghệ đối với từng quốc gia và doanh nghiệp”
[23]
.
Đứng trước yêu cầu tồn tại và phát triển các doanh nghiệp, các nền kinh tế đều
tìm mọi cách để nâng cao năng lực cạnh tranh, trong các phương cách đó việc đổi mới
công nghệ nhằm tăng năng lực cạnh tranh bằng cách sử dụng công nghệ tiêu hao ít
vật tư, nguyên, nhiên liệu, năng lượng; tạo ra sản phẩm mới có giá thành thấp, có chất
lượng cao…luôn là lựa chọn số một của các doanh nghiệp, các quốc gia. Bởi chỉ có

8
đổi mới công nghệ mới tạo ra khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, của nền kinh tế,
thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của các quốc gia.
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, năng lực công nghệ không chỉ là yếu tố đảm
bảo thành công việc đổi mới công nghệ mà còn là yếu tố mang tính quyết định việc
tăng trưởng của nền kinh tế,“NLCN là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế, các nghiên
cứu cho thấy 9/10 tăng trưởng kinh tế Hoa Kì giai đoạn 1909 - 1949 là do năng lực tiếp thu
công nghệ tiên tiến mang lại. Nếu tính cho nửa cuối thế kỉ 20 thì tỉ lệ tăng trưởng do NLCN

Trung ương Đảng khoá X về một số nhiệm vụ, giải pháp lớn nhằm tiếp tục thực hiện
thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng, đã đề ra nhiều chương
trình, kế hoạch đẩy mạnh đổi mới công nghệ “ khuyến kích, hỗ trợ doanh nghiệp đổi
mới công nghệ… nâng cao khả năng cnạh tranh của sản phẩm… xây dựng các
Chương trình về đổi mới công nghệ quốc gia”
[6]
;
- Nghị định số 108/2006/NĐ-CP, ngày 22/9/2006 của Chính phủ Quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư“ Chính phủ khuyến khích việc
chuyển giao vào Việt Nam công nghệ tiên tiến, công nghệ nguồn và công nghệ để tạo
ra sản phẩm mới…; khuyến kích việc đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực
quản lý và sử dụng công nghệ”
[7]- Quyết định số 27/2008/QĐ-TTg, ngày 05/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ
Về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với
các tỉnh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến 2010. Trong nhiệm vụ về KH&CN đã
xác định tập trung đổi mới, hiện đại hoá công nghệ trong các ngành công nghiệp khai
khoáng, bảo quản, chế biến nông lâm sản …”
[36]

- Quyết định số 159/2008/QĐ-TTg, ngày 04/12/2008 Thủ tướng Chính phủ Về
việc phê duyệt đề án “Đổi mới và hiện đại hoá công nghệ ngành công nghiệp khai
thác và chế biến khoáng sản đến năm 2015, tầm nhìn 2025…”
[35]
.
- Trong Quyết định số 1434/QĐ-BKHCN ngày 30/7/2009 của Bộ KH&CN,
Quyết định ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 234-TB/KL của
Bộ chính trị và Nghị quyết số 22/NQ-CP của Chính phủ. Bộ KH&CN cũng đã xãc

đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp của Việt Nam,
bởi:
- Một dây chuyền công nghệ sử dụng nhiều thiết bị công nghệ khác nhau và
một loại thiết bị có thể được sử dụng trong nhiều dây chuyền công nghệ khác nhau;
- Vòng đời công nghệ và vòng đời thiết bị không trùng nhau;
- Với cùng một nguyên lý song nhiều Hãng, doanh nghiệp lại có và sử dụng
công nghệ dựa trên nguyên lý ấy có tính ưu việt hơn hẳn các hãng, doanh nghiệp
khác, sản phẩm của họ có năng lực cạnh tranh cao hơn nhiều đối thủ cùng cạnh tranh;
- Các doanh nghiệp Việt nam, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất hạn chế
về năng lực vốn;

11
Việc đổi mới công nghệ của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào năng lực đổi
mới công nghệ của doanh nghiệp. Năng lực ấy hiện như thế nào? dựa vào đâu để
đánh giá, thì đây là còn là vấn đề cần phải thực hiện các nghiên cứu, vì chưa có
phương pháp luận và hệ thống tiêu chí đánh giá chung, nhất là chuẩn so sánh và định
lượng các yếu tố đánh giá. Và đánh giá năng lực đổi mới công nghệ không chỉ dừng ở
chỗ biết năng lực ấy thế nào, mà quan trọng là để có giải pháp nâng cao năng lực
công nghệ đảm bảo cho đổi mới công nghệ thành công, yếu tố quan trọng thúc đẩy
phát triển và tăng trưởng kinh tế. Đây là lý do tác giả nghiên cứu đề tài này.
Ý nghĩa của đề tài:
Về lý luận. Góp phần vào việc bổ sung lý luận ( phương pháp và tiêu chí) cho
việc đánh giá năng lực công nghệ;
Về thực tiễn. Đưa ra hệ thống tiêu chí (công cụ) để doanh nghiệp có thể xem
xét, tham khảo vận dụng kết quả của đề tài này vào việc đánh giá năng lực đổi mới
công nghệ của doanh nghiệp mình, để biết được thực trạng về năng lực đổi mới công
nghệ của doanh nghiệp mạnh, yếu thế nào? cần phải ưu tiên mặt nào? có đảm bảo cho
việc đổi mới công nghệ hay không? để điều chỉnh, bổ sung hoặc tìm ra giải pháp cho
việc xây dựng kế hoạch và thực hiện việc đổi mới công nghệ đem lại hiệu quả.
Cung cấp một số luận cứ cho việc tham mưu, đề xuất việc ban hành các chính

dân
[16]
, các tác giả đi vào nghiên cứu đề xuất, cụ thể hoá phương pháp luận Atlat
công nghệ, không xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ;
Tạ Doãn Trịnh “ Xác định các chỉ tiêu thống kê để đánh giá chỉ số chung về
năng lực công nghệ”
[41]
, trong bài này tác giả Tạ Doãn Trịnh chỉ đi vào giới thiệu và
đề xuất việc lựa chọn các chỉ tiêu thống kê cá biệt về công nghệ, chứ không đi sâu
vào nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ.
Sở khoa học và Công nghệ Phú Thọ, 2008, Báo cáo tổng hợp kết quả đề tài “
Điều tra, đánh giá hiện trạng công nghệ của các ngành công nghiệp và đề xuất các
giải pháp để nâng cao trình độ công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh các sản phẩm
công nghiệp của tỉnh Phú Thọ”
[30]
, đề

tài điều tra đánh giá hiện trạng, không nghiên
cứu xây dựng tiêu chí đánh giá;
Sở khoa học và công nghệ tỉnh Hải Dương, 2005, đề tài “Đánh giá trình độ và
năng lực công nghệ của các lĩnh vực sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải
Dương”
[31]
, ở đề tài này tác gải đi vào một số nội dung như: hiện trạng công nghệ,

13
hiện trạng năng lực công nghệ, cơ sở hạ tầng công nghệ và hoạt động đổi mới công
nghệ của các doanh nghiệp tỉnh Hải Dương, không đi sâu vào xây dựng hệ thống tiêu
chí đánh giá mặt khác đề tài này nghiên cứu trường hợp Hải Dương;
Nguyễn Võ Hưng với đề tài “Nghiên cứu cơ chế, chính sách khoa học và công

quả quản lý công nghệ của cơ quan quản lý KH&CN, góp phần vào phát triển và tăng
trưởng kinh tế. Tác giả mong muốn được góp một phần nhỏ bé vào mục tiêu ấy.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng và đề xuất hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ
của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp;
Giúp doanh nghiệp sử dụng công cụ này để đánh giá năng lực và thực hiện đổi
mới công nghệ của doanh nghiệp mình mang lại hiệu quả;
Cung cấp thêm luận cứ trong việc hoạch định chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
năng cao năng lực và phát triển công nghệ, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công
tác quản lý công nghệ.
4. Phạm vi nghiêm cứu
Khách thể nghiên cứu.
Năng lực đổi mới công nghệ và hoạt động đánh giá năng lực đổi mới công
nghệ của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp;
Vai trò của tiêu chí đối với hoạt động đánh giá năng lực đổi mới công nghệ; vai
trò và sự cần thiết của đánh giá năng lực công nghệ với đổi mới công nghệ.
Phạm vi về nội dung:
Vì lý do thời gian, kiến thức, nguồn tài liệu và vốn ngoại ngữ của tác giả, đề
tài này chỉ nghiên cứu và xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực cải tiến và đổi
mới công nghệ (gọi chung là tiêu chí đánh giá năng lực đổi mớí công nghệ) của doanh
nghiệp sản xuất công nghiệp, bao gồm:
Quan điểm về đánh giá công nghệ;
Cơ sở lý luận về đánh giá năng lực đổi mới công nghệ, vai trò của năng lực đổi
mới công nghệ công nghệ với đổi mới công nghệ; công nghệ với doanh nghiệp sản
xuất công nghiệp; tính tất yếu của đổi mới công nghệ;
Thực trạng hoạt động đổi mới công nghệ và hoạt động đánh giá năng lực đổi
mới công nghệ của doanh nghiệp sản xuất công nghiêp trên địa bàn Phú Thọ, những

15
khó khăn trong việc đánh giá năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp sản xuất

Hoạt động đánh giá năng lực công nghệ trong thời gian vừa qua chưa được
thực hiện vì một số lý do, như: quan điểm đánh giá, chuẩn so sánh chưa thống nhất,
đặc biệt là chưa có phương pháp luận và hệ thống tiêu chí có khả năng đánh giá
chung về năng lực công nghệ và về năng lực đổi mới công nghệ trong hoạt động sản
xuất công nghiệp, đây là lý do và là một trở ngại lớn nhất.
Cơ sở xây dựng là:
- Quan điểm về đánh giá công nghệ (trình độ hay năng lực công nghệ);
- Dựa vào các yếu tố tác động và liên quan mật thiết đến đổi mới công nghệ
trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp;
- Thực tiễn của hoạt động đổi mới và đánh gía năng lực đổi mới công nghệ của
các doanh nghiệp;
- Mối quan hệ giữa năng lực đổi mới công nghệ với đổi mới công nghệ, mối
quan hệ giữa hoạt động đánh giá NLĐM với hoạt động đổi mới công nghệ;
- Tính khoa học trong hoạt động đổi mới công nghệ;
- Dựa vào cơ sở lý luận về công nghệ, trình độ công nghệ, năng lực công nghệ,
đổi mới công nghệ, thành phần công nghệ và đánh giá trình độ công nghệ, đánh giá
năng lực công nghệ, trong đó có đánh gía năng lực đổi mới công nghệ;
- Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu về năng lực công nghệ và đổi mới
công nghệ về đánh giá năng lực công nghệ;
8. Phương pháp chứng minh giả thuyết
Cách tiếp cận:
Tiếp cận hệ thống. Xem xét, nghiên cứu các yếu tố, các mặt có liên quan đến
công nghệ, đổi mới công nghệ, đến đánh giá năng lực công nghệ và năng lực đổi mới
công nghệ, đến vai trò của năng lực công nghệ đối với đổi mới công nghệ, đến tính tất
yếu của đổi mới công nghệ.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu cơ sở lý luận từ các lý thuyết có
liên quan, như: phương pháp luận nghiên cứu khoa học…
[11]
, đánh gía nghiên cứu


các tiêu chí thành phần tạo nên chỉ số của tiêu chí. Các chỉ số này sẽ nói lên năng lực
về đổi mới công nghệ của từng doanh nghiệp.

18
Phương pháp tổng hợp, phân tích. Trên cơ sở số liệu điều tra, khảo sát ( kết
quả ) sẽ được lượng hoá để tính toán và trình bày kết quả dưới dạng biểu đồ mạng,
biểu đồ cột nhằm phản ánh hiện trạng về các yếu tố của vấn đề, mà ở đây là về năng
lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Từ đó để phân tích đánh giá mặt mạnh, yếu
giúp cho doanh nghiệp điều chỉnh, bổ sung các yếu tố năng lực công nghệ phục vụ
cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp.
9. Kết cấu của luận văn
Luận văn được trình bày theo các phần sau:
- Phần một. Mở đầu
- Phần hai. Nội dung Luận văn:
+ Chương 1. Cơ sở lý luận về đánh giá năng lực đổi mới công nghệ;
+ Chương 2. Tình hình đánh giá năng lực đổi mới công nghệ trên địa bàn Phú
Thọ;
+ Chương 3. Hệ thống tiêu chí đánh gía năng lực đổi mới công nghệ trong
doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.
- Phần ba. Kết luận và khuyến nghị.


[10, tr.01]
, định nghĩa này nói lên bản chất của công nghệ
là kiến thức ( cách thức);
+ Ngân hàng thế giới World Bank (1985) định nghĩa “Công nghệ là phương
pháp chuyển hoá các nguồn lực thành sản phẩm, gồm 03 yếu tố: thông tin về phương
pháp; phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hoá; sự
hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao”
[10, tr. 2]
.

20
+ Theo Sharif (1986), “ Công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và
lựa chọn nhưng kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp
các yếu tố bao gồm vật chất, xã hội và văn hoá. Công nghệ tập hợp cả phần cứng và
phần mềm, thể hiện ở 04 dạng cơ bản sau:
*Vật thể (vật liệu, công cụ, sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn
chỉnh);
* Con người ( kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm);
* Dạng ghi chép ( bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ liệu … được mô tả
trong các ấn phẩm, tài liệu…);
* Dạng thiết chế tổ chức ( dịch vụ, truyền bá, cơ cấu quản lý ).
Về bản chất:
Vật thể ( thiết bị máy móc), còn gọi là phần kỹ thuât ( technoware);
Con người ( Humanware);
Ghi chép, thông tin ( Infoware);
Thiết chế,tổ chức (Orgaware)
[10, tr.4];

Theo Luật khoa học và công nghệ năm (2000)
[26]

điểm chung, như:
+ Là kiến thức, mà kiến thức thì không phải ai cũng tạo ra được và ai cũng có
thể sử dụng nó có hiểu quả như nhau, là kiến thức nên nó có kiến thức về nguyên lý
chung và kiến thức về lĩnh vực cụ thể (vận dụng nguyên lý chung). Trong thực tế
phần nguyên lý chung có nhiều người hiểu, biết, song phần kiến thức của lĩnh vực cụ
thể là các bí quyết công nghệ, là công nghệ của hãng, đơn vị, cá nhân ( tổ chức, cá
nhân) nào đó.
+ Đều dùng để chế biến (biến đổi) nguồn lực thành sản phẩm, có nghĩa là nó
được con người sử dụng để sản xuất ra sản phẩm, mà đã là sản phẩm thì mục tiêu là
để phục vụ cho nhu cầu của con người, nhu cầu của con người thì luôn thay đổi theo
chiều hướng ngày một cao. Vậy để đáp ứng nhu cầu của con người thì việc đổi mới
công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm mới luôn được phải quan tâm trong chiến lược phát
triển của các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, địa phương, ngành và quốc gia.
b. Năng lực.

22
Khái niệm năng lực được sử dụng trong nhiều hoạt động của đời sống xã hội,
Từ điển tiếng Việt “ năng lực là sức làm ra, phát ra của con người, con vật, máy
móc, v.v…”
[42]
. Vậy có thể hiểu năng lực là sức, khả năng biết ý tưởng thành hiện
thực trên cơ sở sử dụng các nguồn lực.
Ví dụ: năng lực lãnh đạo, năng lực quản lý, năng lực tổ chức, năng lực sáng
tạo, năng lực đổi mới, năng lực đổi mới công nghệ… Ở đây tác giả sử dụng khái niệm
năng lực đổi mới công nghệ cho việc nghiên cứu đề tài này.
c. Năng lực công nghệ.
Đã có một số nhà khoa học và tổ chức quốc tế, nghiên cứu và đưa ra một số
khái niệm năng lực công nghệ. Dưới đây là một số khái niệm được đề cập trong
Phương pháp lập kế hoạch phát triển năng lực công nghệ, tập 5 “Đánh giá năng lực
công nghệ”, do Trung tâm Chuyển giao công nghệ Chấu Á – Thái Bình Dương (

;
Trong bài: Khoa học và công nghệ Việt Nam hướng tới Hội nhập, Tiến sỹ Mai
Hà, đã nêu ra định nghĩa: Năng lực công nghệ là thước đo khả năng làm chủ công
nghệ của một công ty, một ngành công nghiệp hay của một nước từ mức đơn giản
nhất là có thể vận hành công nghệ hiện có đến mức cao nhất là có khả năng tạo ra một
công nghệ mới từ R&D và thương mại hoá nó như một sản phẩm hoặc một quá trình
sản xuất mới.
Năng lực công nghệ thường được xem xét ở cấp Quốc gia, ngành (vĩ mô) và
cấp doanh nghiệp (vi mô).
Qua một số định nghĩa trên ta thấy, năng lực công nghệ là một tập hợp các
năng lực và năng lực đổi mới công nghệ là một loại năng lực trong tập hợp đó, hay
nói cách khác là năng lực đổi mới công nghệ là một yếu tố, là một thành phần của
năng lực công nghệ. Nhưng ở đây là loại năng lực phức tạp nhất, có yêu cầu cao nhất,
đòi hỏi phải hội đủ nhiều yếu tố, nhiều điều kiện nhất. Vậy có thể coi năng lực đổi
mới công nghệ là tập hợp bởi nhiều năng lực khác về công nghệ để hợp thành. Mặc
dù phức tạp song cần phải nâng cao năng lực công nghệ bới nó không chỉ phục vụ
cho đổi mới công nghệ mà còn đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế. Theo tính
toán sự tác động của năng lực công nghệ đến phát triển kinh tế còn cao hơn sự tác
động của chất lượng lao động “ Kết quả trên cho thấy cả 2 nhân tố chất lượng lao
động và năng lực công nghệ đều tác động đáng kể đến phát triển kinh tế, trong đó
năng lực công nghệ tác động mạnh hơn, biểu hiện ở chỗ có hệ số hồi quy (β ) lớn hơn
0,4790 > 0,3807 (47% >38%)”
[21
]
.
1.1. 2 Khái niệm đổi mới công nghệ.
a. Đổi mới.

Trích đoạn Nếu có, xin cho biết tên ý tưởng?
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status