1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
3. Mục đích nghiên cứu 10
4. Câu hỏi nghiên cứu 11
5. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 11
6. Phạm vi và thời gian khảo sát 12
7. Cấu trúc của luận văn 12
Chương 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
13
1.1. Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến đề tài 13
1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 17
1
.2.1. Khái niệm năng lực 17
1.
2.2. Năng lực giảng dạy 18
1.2.3. Khái niệm dạy học 21
1.2.4. Khái niệm đ
ánh giá 22
1.2.4.1. Đánh giá định hình 24
1.2.4.2. Đánh giá tổng kết 25
1.3. Thực tiễn công tác đánh giá giảng viên trong trường đại học
26
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
72
1. Kết luận. 72
2. Khuyến nghị 73
Tài liệu tham khảo 76
Phụ lục. 79
3
Lời cảm ơnTrước hết em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo
trong Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục, Đại học Quốc gia Hà
Nội đã truyền thụ, trang bị những kiến thức cao học chuyên
ngành Đo lường và đánh giá trong giáo dục cho em trong
suốt quá trình học tập tại Viện.
Đặc biệt, Em xin bày tỏ sự cảm ơn tới Phó giáo sư, Tiến
sỹ Phạm Văn Quyết hiện đang công tác tại Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận
tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn cơ quan nơi tôi công tác, đồng
5
Những cụm từ viết tắt được sử dụng trong luận văn - ĐG
Đánh giá
- ĐH Đại học
- GV Giảng viên
- NG&CBQLGD Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
- NL Năng lực
- SV Sinh viên
Bảng 2.6 Số liệu trung bình chung và độ lệch chuẩn về trả lời
phiếu hỏi của sinh viên.
65 7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong
những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, là điều kiện để tạo ra và phát huy lợi thế cạnh tranh quốc tế của Việt
Nam về nguồn lực con người trong quá trình toàn cầu hoá. Đây là trách nhiệm
của toàn Đảng, của hệ thống chính trị xã hội, của toàn dân, trong đó các nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục (NG&CBQLGD) là những người trực tiếp
thực hiện và vì vậy họ giữ vai trò quyết định trực tiếp đến chất lượng và sự
phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân.
Tổ chức Văn hoá và giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) cũng đã
NG&CBQLGD công tác ở trường chuyên biệt, vùng có điều kiện kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khăn, nay được thay thế bằng Nghị định 61/2006/NĐ-CP;
- Nghị quyết số 09/2003/NQ-CP góp phần quan trọng trong việc sắp
xếp đội ngũ, giải quyết giáo viên không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ;
Đất nước ta đang chuyển sang thời kỳ phát triển mới, nhất là trong bối
cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO, từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh
thế thế giới với nhiều thời cơ, vận hội nhưng cũng phải đối mặt với không ít
những khó khăn và thách thức. Đại hội lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng
định quan điểm nhất quán về tư tưởng, chủ trương hành động là coi “con
người là vốn quý nhất”. Giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ được coi là
“quốc sách hàng đầu”. Văn kiện Đại hội X chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo với
khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thức
đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Mục tiêu của giáo dục nước ta
là “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức,
sức khỏe thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng 9
lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc”. [26]
Ngày nay, việc đảm bảo chất lượng đào tạo, đặc biệt trong lĩnh vực đào
tạo đại học là một trong những mục tiêu chiến lược của nhà nước và của các
trường đại học, một trong những điều kiện để đảm bảo và nâng cao chất
lượng giáo dục đại học mà các trường đại học đang sử dụng là công tác kiểm
định đánh giá tất cả các khâu của quá trình giáo dục như: đánh giá chương
trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất...Tôi
nhận thấy việc xây dựng tiêu chí đánh giá các khâu của quá trình giáo dục là
cần thiết, trong phạm vi tiếp cận của một luận văn thạc sỹ việc xây dựng các
vụ hỗ trợ cho hoạt động giảng dạy đạt kết quả cao. Do vậy, trong khuôn khổ
nghiên cứu của một luận văn thạc sỹ và để nghiên cứu đạt kết quả cao chúng
tôi lựa chọn nghiên cứu vấn đề quan trọng nhất, bao trùm nhất của cán bộ
giảng dạy là năng lực giảng dạy của giảng viên, từ đây chúng tôi tập trung vào
nghiên cứu và đề xuất: “Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực giảng dạy
của giảng viên trong trường đại học”.
Phạm vi về không gian và thời gian: Nghiên cứu này tập trung áp dụng
thử nghiệm tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Phạm vi về loại hình đánh giá: Nghiên cứu này tập trung vào hai loại
hình đánh giá chính đó là:
- Tự đánh giá của giảng viên.
- Sinh viên đánh giá giảng viên.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Hình thành cơ sở lý thuyết và thực tiễn cho việc xây dựng bộ tiêu chí
đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên trong trường đại học.
- Mô tả nội dung bộ tiêu chí đánh giá
- Kiểm chứng độ tin cậy của bộ tiêu chí đánh giá. 11
4. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu của đề tài:
- Bộ tiêu chí đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên trong trường
đại học cần được xây dựng như thế nào? Dựa trên cơ sở nào?
- Dựa trên cách thức nào để đánh giá độ tin cậy của bộ tiêu chí đánh giá
năng lực giảng dạy của giảng viên trong trường đại học?
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
năng lực giảng dạy của giảng viên.
6. Phạm vi và thời gian khảo sát
- Phạm vi nghiên cứu: Tại một trong số các trường đại học thành viên
thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Thời gian triển khai nghiên cứu: Dự kiến sẽ nghiên cứu trong khoảng
12 tháng (từ tháng 4/2009 đến tháng 4/2010).
7. Cấu trúc của luận văn
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan, cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Đề xuất xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực giảng dạy
của giảng viên trong trường đại học.
Kết luận và khuyến nghị
1. Kết luận
2. Khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục.
13
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đánh giá cán bộ và tiêu chuẩn để đánh giá
(ĐG)
trong xây dựng đội ngũ cán bộ, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhận xét
ĐG cán bộ ngày càng dân chủ, khách quan, công khai hơn trước. Nhưng vẫn
còn là việc ĐG chung chung ở một số cơ quan cấp uỷ đảng và chủ yếu nêu ưu
điểm. Có tình trạng còn né tránh. Việc ĐG cán bộ hàng năm có khi chưa được
bổ sung lưu giữ vào hồ sơ cán bộ. Như vậy, vô hình chung là đã buông lỏng
quản lý cán bộ, theo dõi cán bộ sẽ không được liên tục, hệ thống và sẽ khó
khăn cho việc đề bạt, bổ nhiệm hoặc điều động, luân chuyển cán bộ.
Nhưng ĐG đúng cán bộ là một công việc hết sức khó khăn, phức tạp.
Trong quá trình ĐG cán bộ, có nhiều tác động khách quan ảnh hưởng đến
việc ĐG cán bộ.
Một là, vấn đề hội nhập quốc tế và khu vực với phương châm đa dạng
hoá, đa phương hoá đã tác động đến mọi mặt đời sống xã hội. Trong đó mỗi
con người, mỗi tổ chức có những chức năng, nhiệm vụ suy nghĩ, việc làm
khác nhau vì vậy đã làm cho việc ĐG cán bộ khó khăn, phức tạp thêm. Sự
khó khăn, phức tạp đó còn thể hiện ở chỗ: có người bên ngoài thì tốt, nhưng
suy nghĩ bên trong, những việc làm chưa bộc lộ bằng hành động thì rất khó
ĐG.
Hai là, cơ chế thị trường tác động đến đời sống vật chất của người cán
bộ. Bên cạnh đó, mỗi người cán bộ có nhiều mối quan hệ khác nhau tác động
đến. Vì vậy, có không ít trường hợp tổ chức cơ quan có nhận xét ĐG tốt, 15
Ba là, các thế lực thù địch vẫn thực hiện âm mưu "diễn biến hoà bình",
lôi kéo, mua chuộc cán bộ, tác động làm ảnh hưởng biến chất một số cán bộ.
Nhất là những cán bộ giữ các cương vị lãnh đạo bằng nhiều hình thức, thủ
đoạn khác nhau. Thực tế đã có một số cán bộ có chức, có quyền đã có quá
trình tham gia cách mạng, được đánh giá rất tốt nhưng do mắc bẫy kẻ thù đã
bị biến chất, thoái hoá, thậm chí mắc sai lầm nghiêm trọng.
Bốn là, cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới phát triển như vũ
Nguyễn Văn Thêm đề xuất các “Biện pháp quản lý của phòng giáo dục trong
công tác xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục phổ thông huyện Yên
Dũng tỉnh Bắc Giang” đề tài này tác giả tập trung đi sâu vào nghiên cứu và
đưa ra các biện pháp làm thế nào để quản lý và xây dựng đội ngũ cán bộ giáo
dục phổ thông; Tác giả Nguyễn Thị Bích Thủy nghiên cứu “Một số biện pháp
phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non tỉnh Bình Định đến năm
2010” ở đề tài này người nghiên cứu lại chú trọng vào công tác quản lý và
phát triển đội ngũ cán bộ giáo dục mầm non; Tác giả Nguyễn Văn Toàn
nghiên cứu “Các giải pháp quản lý của phòng giáo dục nhằm nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học” đề tài của tác giả Nguyễn Văn
Toàn tập trung nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ
quản lý giáo dục tiểu học. Tác giả Hoàng Hồng Trang nghiên cứu “Những
biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý ở các phòng ban chức năng của
Viện Đại học Mở Hà Nội đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục đại học trong
giai đoạn hiện nay”, Tác giả Sái Công Hồng nghiên cứu “Xây dựng các tiêu
chí đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên THCS áp dụng thí điểm tại
Thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc” ở đề tài này tác giả đã xây dựng được một 17
Qua các nghiên cứu trên, chúng ta có thể thấy rằng các nghiên cứu đều
tập trung hướng về đội ngũ nhà giáo và cán bộ giáo dục được triển khai
nghiên cứu ở nhiều bình diện khác nhau. Song chưa có những đề tài nghiên
cứu cụ thể về xây dựng bộ tiêu chí ĐG năng lực giảng dạy của giảng viên
(GV) trong trường đại học (ĐH). Trên cơ sở đó tác giả mạnh dạn đề xuất
hướng nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực giảng dạy của giảng
viên trong trường đại học mục đích nằm bước đầu đề xuất cơ sở lý thuyết và
thực tiễn cho việc xây dựng bộ tiêu chí.
Ngoài ra, những năm gần đây còn có hàng loạt các công trình nghiên
cứu khoa học tại các hội thảo nâng cao và đảm bảo chất lượng giáo dục đại
trình hoạt động của cá nhân ở nhiều thời điểm khác nhau. Đây chính là cách
các nhà quản lý dùng để ĐG năng lực nhân viên của mình nói chung và của
các nhà quản lý giáo dục trong các sở giáo dục đại học sử dụng để ĐG năng
lực của GV nói riêng.
1.2.2. Năng lực giảng dạy 19
Đội ngũ GV là yếu tố hàng đầu quyết định chất lượng giáo dục, thông
qua các hoạt động giảng dạy và giáo dục người dạy cung cấp những kiến
thức, kỹ năng cơ bản cần thiết cho người học đồng thời có ảnh hưởng rất lớn
đến quá trình tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức của người học, muốn
người học phát huy khả năng sáng tạo, tư duy độc lập và chủ động sáng tạo
trong học tập đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay cần
phải đổi mới chương trình đào tạo, đặc biệt là đối với đội ngũ GV và nâng cao
NLGD cho đội ngũ này là điều hết sức cần thiết.
- NL hiểu biết rộng, để phát triển nhân cách cho sinh viên (SV) thì
giảng viên phải có tri thức, thái độ, tình cảm, quan điểm, kỹ năng... mà loài
người đã khám phá ra, do vậy NL nắm vững, làm chủ những tri thức thuộc
lĩnh vực giảng dạy của mình là yếu tố quan trọng quyết định sự thành bài của
GV.
- NL hiểu SV trong quá trình giảng dạy, được xem là chỉ số cơ bản của
NL sư phạm là điều kiện tiên quyết để hoạt động giảng dạy của GV thành
công, GV hiểu mọi hoàn cảnh của SV để có biện pháp tác động phù hợp, giúp
cho SV có được sự phát triển tốt nhất. NL hiểu SV trong quá trình giảng dạy
được ĐG theo các vấn đề: Dự đoán được mức độ khó khăn và thuận lợi của
SV khi tiếp thu bài mới; Nắm vững trình độ của SV; Đo lường được mức độ
hiểu bài của SV; Hiểu biết các đặc điểm nhân cách của SV (tính cách, thiên
hướng, sở trường...); Có khả năng phân tích, tổng hợp xây dựng chân dung
tâm lý của SV; Quan sát và xác định phản hồi của SV; Ghi nhớ các đặc điểm
- NL tổ chức, người thầy vừa là người tổ chức hoạt động cho cá nhân
và tập thể SV vừa là hạt nhân gắn SV thành một tập thể vừa là người tuyên
truyền, liên kết, phối hợp các lực lượng giáo dục. NL này được ĐG qua; Kỹ
năng lập kế hoạch dài hạn cho một học kỳ, năm học; Lập kế hoạch cho các
hoạt động cụ thể; Lựa chọn đúng phương pháp, phương tiện để thực hiện kế 21
- NL vạch dự án phát triển nhân cách, được tạo nên từ nhiều yếu tố tâm
lý như: óc tưởng tượng sư phạm, tính lạc quan sư phạm. Nhờ có công việc
này mà công việc của giáo viên trở nên có kế hoạch, chủ động và sáng tạo.
NL này ĐG trên cơ sở: Kỹ năng vạch kế hoạch phát triển nhân cách cho SV;
Xây dựng mô hình nhân cách cho SV; Dự đoán được kết quả tác động sư
phạm đối với SV; SV biết phân tích phê phán, biết hình thành lý lẽ của cá
nhân, tập thể; Biết tự tìm kiếm kiến thức; Hình thành cho SV tình yêu môn
học, ngành học, khát khao mang kiến thức của mình phục vụ xã hội.
- NL ứng xử sư phạm, Trong quá trình giáo dục, GV thường đứng
trước nhiều tình huống sư phạm khác nhau. Do vậy, đòi hỏi GV phải hiểu tâm
lý SV, hiểu những điều đang diễn ra trong suy nghĩ của SV, mặt khác đòi hỏi
GV phải giải quyết linh hoạt các tình huống sư phạm của từng cá nhân cũng
như tập thể SV. NL này được đánh giá qua: Phân tích, nhận định tình huống
chính xác; Sử dụng hợp lý đúng mức các mức tác động sư phạm; Giải quyết
vấn đề hợp lý và biết nắm bắt cơ hội.
- NL giao tiếp, NL này là một thành phần cơ bản của hoạt động sư
phạm, GV không chỉ giao tiếp với SV trong giờ học mà còn các giờ hoạt động
ngoại khoá và các hoạt động khác trong và ngoài trường. NL này được ĐG ở
kỹ năng: Luôn đặt mình vào vị trí của SV và các bậc phụ huynh; Biết tìm ra
chủ đề giao tiếp và duy trì giao tiếp; Biết sử dụng các phương tiện ngôn ngữ
và phi ngôn ngữ; Biết xác định thời gian và không gian giao tiếp.
1.2.3. Khái niệm dạy học
được phải hỗ trợ quyết định hoạt động hoặc quá trình hoạt động.
- Việc ĐG cung cấp thông tin nhằm nâng cao chất lượng của dự án hay
của một chương trình nào đó, những thông tin để xác định các mục tiêu có đạt
được không và các khía cạnh khác nhau của một dự án đang làm cần thiết cho
quá trình tiếp tục phát triển như thế nào.
- ĐG thường xuyên cung cấp cái nhìn mới hoặc những thông tin mới
mà trước đây chưa được dự tính.
- Qua nhiều năm, ĐG được xem như một quá trình đối lập. Mục đích sử
dụng chính của nó là cung cấp sự "tán thành" hay "phản đối" về một chương
trình hoặc một dự án. Với nhiệm vụ này nó thường được chương trình hoặc
dự án xem như giám đốc hoặc điều phối viên là một vị trí ở bên ngoài luôn đe
doạ cản trở và có vẻ không hữu ích với thành viên của dự án. Trong khi điều
đó có thể đúng ở một vài trường hợp các ĐG không cần và hầu hết không
được tiến hành theo phương thức đối lập đó.
- Quan điểm hiện nay về đánh giá nhấn mạnh mối quan hệ hợp tác giữa
ĐG giá và thực hiện chương trình. ĐG không tách riêng khỏi hoặc thêm vào
một dự án mà là một phần của dự án từ khi nó bắt đầu. Lập kế hoạch, ĐG và
thực hiện là các phần của toàn bộ quá trình và chúng thực sự có hiệu quả nhất
khi chúng được kết hợp với nhau.
Lập kế hoạch dự án/điều
chỉnh
Đánh giá dự án
là ĐG định hình” và “Khi người khách hàng nếm món súp, đó là ĐG tổng
kết”
ĐG định hình có 2 thành phần: ĐG triển khai và ĐG giá tiến độ.
- Đánh giá triển khai: Mục đích của ĐG triển khai là ĐG một dự án có
được tiến hành theo kế hoạch hay không? ĐG này đôi khi gọi là ĐG giá quy
trình có thể diễn ra một hoặc vài lần trong chương trình. Những quy tắc cơ
bản là trước khi ĐG giá kết quả hoặc ảnh hưởng của một chương trình mà ta
phải đảm bảo chương trình và các thành phần của nó thật sự hoạt động và nếu
chúng thật sự hoạt động thì đang hoạt động theo kế hoạch hoặc chỉ dẫn đã
được đưa ra. Đôi khi thuật ngữ ĐG triển khai và ĐG giám sát bị nhầm lẫn.
Chúng không giống nhau. ĐG triển khai là việc kiểm tra sớm của cán bộ dự
án hoặc người ĐG để xem các yếu tố cần thiết có được chuẩn bị đầy đủ hay
chưa. Giám sát là quá trình kiểm tra ngoài, người giám sát chủ yếu đến từ các
cơ quan cấp vốn và chịu trách nhiệm giám sát sự tiến triển và việc tuân theo
một hợp đồng của dự án. Mặc dù hai hình thức này khác nhau, ĐG triển khai 25
nếu có hiệu quả có thể hỗ trợ cho việc triển khai dự án và đảm bảo rằng
không có điều ngạc nhiên nào không được chờ đón trong suốt quá trình giám
sát.
- Đánh giá tiến độ: Mục tiêu của ĐG tiến độ là ĐG những tiến độ trong
việc đạt được các mục đích của chương trình và dự án. Nó bao gồm việc thu
thập thông tin để xác định liệu các tiến độ vượt bậc có đạt được không và chỉ
ra những phát triển không mong đợi. ĐG tiến độ thu thập thông tin nhằm xác
định ảnh hưởng của các hoạt động và chiến lược đối với người tham gia
chương trình học hoặc các cơ sở đào tạo ở các giai đoạn khác nhau của sự can
thiệp là gì? Bằng cách đo sự tiến bộ nhân viên hoặc cán bộ của dự án có thể
loại trừ nguy cơ những người tham gia đã trải qua toàn bộ chương trình để
đánh giá các kết quả. Nếu các dữ liệu được thu thập là một phần của ĐG tiến