Phân tích vai trò của nhà nước trong việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập tại Hải Dương (Nghiên cứu trường hợp của - Pdf 26


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Phạm Thị Thanh Vân

Phân tích vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện cơ chế,
tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập
tại Hải Dương (nghiên cứu trường hợp của Trung tâm thông
tin KHCN & Tin học Hải Dương)
tại Việt Nam : 19
1.1.5. Những thuận lợi khi thực hiện chuyển đổi theo Nghị định 115 21
1.2. Hoạt động thông tin : 23
1.2.1. Khái quát về hoạt động thông tin : 23
1.2.2. Các hoạt động thông tin : 25
1.2.3. Việc thực hiện cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm trong các đơn vị
có hoạt động dịch vụ thông tin : 27

2
1.2.4 Hiện trạng của hệ thống thông tin KH&CN tại Việt Nam 33
1.2.5. Một số nhiệm vụ và phương hướng phát triển hoạt động thông tin
KHCN : 35
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TẠI TRUNG TÂM
THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ & TIN HỌC HẢI DƢƠNG . 43
2.1. Thực trạng hoạt động : 43
2.1.1. Về tổ chức bộ máy : 43
2.1.2. Về cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động : 43
2.1.3. Về tình hình tài chính, tài sản : 44
2.1.4. Tiến độ thực hiện chuyển đổi : 45
2.1.5. Chức năng, nhiệm vụ : 46
2.2. Một số hoạt Động của Trung tâm có thể chuyển đổi theo NĐ 115/CP :
49
2.3. Các hoạt động của Trung tâm chƣa thực hiện chế độ tự chủ : 50
2.4. Những khó khăn của đơn vị trong quá trình thực hiện chuyển đổi: 50
CHƢƠNG 3. VAI TRÒ CỦA NHÀ NƢỚC TRONG VIỆC THỰC HI ỆN
CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC
KH&CN CÔNG LẬP 58
3.1. Chính sách của Nhà nƣớc đối với các đơn vị KH & CN thực hiện cơ
chế tự chủ, tự chịu trách nhi ệm 59
3.1.1. Nhà nước tăng cường tuyên truyền, phổ biến mục đích chuyển đổi
4

LỜI CÁM ƠN

Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài : "Phân tích vai trò của Nhà nước
trong việc thực hiện cơ chế, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức
KH&CN công lập tại Hải Dương (nghiên cứu trường hợp của Trung tâm
thông tin KHCN & Tin học Hải Dương" là kết quả học tập và nghiên cứu
của tôi trong khoá học về Quản lý Khoa học và Công nghệ tại trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội. Trong quá trình thực hiện đề tài
nghiên cứu, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Thầy giáo hướng dẫn
PGS.TS Vũ Cao Đàm, xin chân thành cảm ơn Thầy.

Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các Thầy cô không ngại đường xá đã
đến giảng dạy cho lớp học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ tại
Hải Dương.

Cuối cùng, xin được cảm ơn các đơn vị đã nhiệt tình cung cấp thông
tin, nhất là Trung tâm thông tin KHCN & Tin học Hải Dương đã hỗ trợ tôi


6
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài :
Để tăng cƣờng trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, năng
động sáng tạo của các tổ chức khoa học & công nghệ công lập, Chính phủ đã
đề ra quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại Nghị định số
115/2005/NĐ-CP. Thực hiện quy định trên, các tổ chức khoa học & công
nghệ thực sự đã có quyền tự chủ đối với các hoạt động của mình, nhất là thủ
trƣởng của các tổ chức khoa học và công nghệ đƣợc tự chủ về kinh phí, tổ
chức và biên chế. Nghị định trên có những nội dung hoàn toàn mới, trong đó
vấn đề trọng tâm xuyên suốt là trao quyền tự chủ cao cho các tổ chức
KH&CN, đổi mới phƣơng thức cấp phát kinh phí từ ngân sách nhà nƣớc, cho
phép các tổ chức KH&CN khi có sản xuất kinh doanh thì đƣợc cấp Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh để hoạt động nhƣ doanh nghiệp hoặc có thể
chuyển sang doanh nghiệp thực sự. Từ đó nâng cao tối đa tính năng động,
sáng tạo và tiềm năng của cán bộ và tổ chức KH&CN, tăng hiệu quả hoạt

và thực tế đổi mới đang diễn ra về vấn đề thực hiện tự chủ, tự chịu trách
nhiệm tại thế giới và nƣớc ta.
Các bài nghiên cứu, bài viết trên Tạp chí Khoa học & công nghệ, Tạp chí Tia
sáng, các tài liệu tại Hội nghị sơ kết tình hình thực hiện Nghị định 115/NĐ-
CP của các tỉnh .

3. Mục tiêu nghiên cứu :
Nghị định 115/2005/NĐ-CP quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
đối với các tổ chức khoa học & công nghệ công lập đƣợc ban hành đƣợc coi
là một bƣớc đột phá, "cởi trói" cho các tổ chức khoa học và công nghệ trong
hoạt động nghiên cứu và sản xuất kinh doanh, là cơ sở pháp lý cho hoạt động
của các tổ chức này trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, việc thực hiện quy định
trên còn chậm, các tổ chức khoa học & công nghệ chƣa thực sự phát huy đƣợc
hiệu quả hoạt động. Có rất nhiều nguyên nhân nhƣng nguyên nhân từ phía
Nhà nƣớc là chủ yếu. Mục tiêu của tác giả là đi sâu nghiên cứu phân tích vai

8
trò của Nhà nƣớc trong việc thực hiện Nghị định trên tại Trung tâm thông tin
khoa học công nghệ & Tin học Hải Dƣơng.

4. Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu các tổ chức khoa học & công nghệ công lập trên địa bàn tỉnh
Hải Dƣơng đang chuẩn bị và đã tiến hành chuyển đổi theo cơ chế mới.
- Thời gian tiến hành khảo sát từ năm 2006 đến năm 2008.

5. Khách thể nghiên cứu và mẫu khảo sát
- Khách thể nghiên cứu là các tổ chức khoa học & công nghệ công lập tại tỉnh
Hải Dƣơng hoạt động theo các quy định của Nhà nƣớc về khoa học & công
nghệ.
- Mẫu khảo sát : Trung tâm thông tin khoa học công nghệ & Tin học Hải

Hải Dƣơng của Trung tâm thông tin khoc học công nghệ & Tin học Hải
Dƣơng cho thấy : tỉnh chƣa có sự quan tâm đúng mức với các tổ chức này,
chƣa đầu tƣ, hỗ trợ những điều kiện cần thiết để đơn vị củng cố tổ chức, ổn
định hoạt động. Điều này đã tạo ra những khó khăn cho đơn vị trong quá trình
chuyển đổi.
- Nhà nƣớc chƣa có chính sách giúp các tổ chức KH&CN thực hiện tự chủ và
tự chịu trách nhiệm.
+ Hiện thủ tục cấp Giấy phép đăng ký kinh doanh không thực hiện
đƣợc. Nguyên nhân do Sở Kế hoạch - đầu tƣ không cấp cho các tổ chức khi
chƣa phải là doanh nghiệp. Do đó các tổ chức này chƣa thực hiện đƣợc nghĩa
vụ nộp thuế cho nhà nƣớc và cũng không đƣợc hƣởng các ƣu đối đối với đơn
vị mới đƣợc thành lập.
+ Cơ quan quản lý nhà nƣớc có thẩm quyền chƣa tạo đƣợc hành lang
pháp lý cho các đơn vị này trong khi thực hiện chức năng nhiệm vụ khoa học
công nghệ.
- Nhà nƣớc chƣa có chính sách hỗ trợ tài chính, tạo cơ sở vật chất ban đầu
giúp các tổ chức KH&CN có thể tự chủ về các mặt hoạt động:

10
+ Ngân sách nhà nƣớc không hỗ trợ kinh phí cho tổ chức vào năm thực
hiện chuyển đổi (theo quy định của Nghị định 115/2005/NĐ-CP đƣợc hỗ trợ
50% kinh phí vào năm chuyển đổi).
+ Nhà nƣớc chƣa hỗ trợ về đầu tƣ cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc
cho tổ chức.
+ Kinh phí hoạt động của các tổ chức này rất hạn hẹp, Ngân sách Nhà
nƣớc chỉ hỗ trợ 80% kinh phí của năm trƣớc. Do đó các tổ chức này ban đầu
không có kinh phí để đầu tƣ đào tạo nguồn nhân lực, đầu tƣ cho các hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình, giải quyết chế độ cho các lao động dôi

* Phương pháp nghiên cứu

hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
3.2. Chính sách của Nhà nƣớc đối với các hoạt động thông tin.
3.3. Một số đề xuất đối với công tác quản lý .
Kết luận
Khuyến nghị

12
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CƠ
CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM, VỀ HOẠT ĐỘNG THÔNG
TIN CỦA CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

1.1. Lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm :
1.1.1. Các khái niệm liên quan:
a.Tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức khoa học và công nghệ

hiện chức năng cung cấp dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ do cơ quan
nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thành lập theo quy định của pháp luật.
1
1.1.2. Ý nghĩa của vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm :
Một trong những đặc điểm nổi bật của xu hƣớng mới trong KH&CN
hiện nay có ảnh hƣởng tới tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức
Kh&CN là mối liên kết giữa nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản xuất kinh
doanh ngày càng phát triển. Quá trình từ phát minh khoa học đến sáng chế,
phát triển công nghệ và đƣa vào sử dụng trong sản xuất ngày càng rút ngắn.
Gắn bó chặt chẽ giữa hoạt động KH&CN với hoạt động sản xuất đòi
hỏi các tổ chức nghiên cứu nói chung phải chủ động
1
mở rộng quan hệ với
doanh nghiệp, phải năng động trƣớc các diễn biến của đời sống kinh tế và
điều đó chỉ có thể thực hiện đƣợc đúng với việc tăng cƣờng quyền tự chủ, thái
độ tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN.
Ngoài việc tăng cƣờng quyền tự do, tự chủ trong nghiên cứu KH&CN
và phát huy các kết quả nghiên cứu KH&CN, ý nghĩa khác của tự chủ, tự chịu
trách nhiệm còn là nâng cao đời sống của các nhà KH&CN. Cần nhấn mạnh
đến đời sống của nhà KH&CN là bởi vì mức thu nhập quá thấp đang khiến
cho nhiều cán bộ nghiên cứu không muốn gắn bó với công việc của mình với
tổ chức KH&CN. Đời sống cũng là nguyên nhân chính làm cho các đơn vị
KH&CN không thu hút đƣợc ngƣời giỏi vào làm việc. Thực ra, đảm bảo lợi
ích của nhà KH&CN là vấn đề từng đợc công khai đề cập tới từ lâu, chẳng
hạn, trên Tạp chí hoạt động Khoa học số 7/1988, các tác giả Nguyễn Điền và
Ngô Vi Khoát (Viện công cụ cơ giới hóa nông nghiệp, nay là Viện cơ điện

1
Điều 2 Nghị định số 159/2004/NĐ-CP về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ.


những loại tổ chức KH&CN mang tính phụ thuộc cao, đồng thời tăng mức độ

15
tự chủ ở mọi loại hình tổ chức KH&CN. Nói một cách khác là tăng tự chủ ở
mọi loại và tăng loại có khả năng tự chủ cao.
2

1.1.3. Vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức NC&PT nhà
nước theo một số đánh giá, kinh nghiệm của nước ngoài :
Hoạt động của các tổ chức NC&PT có liên quan đến nhiều mặt về hoạt
động KH&CN, tài chính, quản lý nhân sự, quan hệ quốc tế. Tự chủ, tự chịu
trách nhiệm diễn ra trên tất cả các mặt đó; tự chủ trong các hoạt động thuộc
khuôn khổ Nhà nƣớc (nhiệm vụ của Nhà nƣớc giao, kinh phí nhà nƣớc cấp ),
tự chủ trong hoạt động ngoài khuôn khổ nhà nƣớc, quan hệ giữa tự chủ
(quyền) và tự chịu trách nhiệm (nghĩa vụ), cách thức giải quyết những mâu
thuẫn đặt ra.
a. Về nhiệm vụ KH&CN:
Liên quan tới tự chủ của các tổ chức NC&PT nhà nƣớc có thể chia
thành 3 loại nhiệm vụ . Loại nhiệm vụ thứ nhất là những công việc đƣợc Nhà
nƣớc giao cụ thể và trực tiếp. Ví dụ nhƣ một số vấn đề cấp bách đã đƣợc xác
định rõ về đối tƣợng nghiên cứu trong quốc phòng, phòng chống thiên tai,
phát triển kinh tế-xã hội Với loại nhiệm vụ này, tổ chức NC&PT chỉ là
ngƣời lĩnh hội và thực hiện nhiệm vụ trên giao.
Loại nhiệm vụ thứ hai là các chủ đề nghiên cứu trong chức năng hoạt
động của tổ chức (đã đƣợc Nhà nƣớc quy định). Trong một phạm vi khá rộng,
việc nghiên cứu có quyền và phải tự chịu trách nhiệm lựa chọn ra các vấn đề
làm nhiệm vụ khoa học và công nghệ cụ thể. Đối với một số nhiệm vụ đƣợc
Nhà nƣớc giao trực tiếp nhƣng chỉ có tính chất định hƣớng, viện nghiên cứu
cũng phải tự cụ thể hoá, xác định rõ các vấn đề cần tập trung giải quyết.
Nhìn chung, mức độ tự chủ của loại nhiệm vụ thứ hai cao hơn nhiệm

Đây là một chủ đề đƣợc thảo luận nhiều ở các nƣớc và trên thực tế cũng tồn
tại những cách khác nhau.
ở Trung Quốc, lúc đầu ngƣời ta cho rằng quyền sở hữu thành quả nghiên
cứu sử dụng kinh phí Nhà nƣớc phải thuộc về cơ quan nghiên cứu, nhƣng sau đó
đã thống nhất là thành quả nghiên cứu đƣợc Nhà nƣớc cấp tiền thì quyền sở hữu là
của Nhà nƣớc.
Tại Nga, tình hình cũng giống nhƣ Trung Quốc. Luật Khoa học và Chính
sách Khoa học và Kỹ thuật Quốc gia Liên Bang Nga đã quy định: "Các kết quả
nghiên cứu khoa học của Viện hàn lâm Khoa học Nga và các viện hàn lâm Khoa

17
học ngành đƣợc thực hiện bằng vốn ngân sách Liên bang đều phải giao nộp cho
Nhà nƣớc theo quy định của pháp luật liên bang Nga:".
d. Về quản lý tài chính
Các tổ chức NC&PT đƣợc Nhà nƣớc đảm bảo cung cấp một nguồn kinh
phí thƣờng xuyên phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công
nghệ. Nguồn kinh phí thƣờng bao gồm chi cho các khoản về vốn cố định và vốn
lƣu động tối thiểu để đơn vị có đủ điều kiện tiến hành một số nội dung nghiên cứu
cụ thể trong phạm vi chức năng của mình.
Ngoài kinh phí Nhà nƣớc cấp, các tổ chức còn mở rộng nguồn vốn từ nhiều
hình thức nhƣ: hợp đồng nghiên cứu với bên ngoài, sản xuất thử nghiệm, nguồn
tài trợ, vốn đi vay,
e. Về quản lý nhân lực
Nhìn chung, tổ chức có quyền tự chủ trong việc tuyển dụng, đào tạo, sử
dụng và đề bạt cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong đơn vị.
Trong đó, nổi bật có một số vấn đề về quyền của thủ trƣởng, tự chủ của cán bộ
nghiên cứu, phân biệt giữa lực lƣợng cán bộ trong tổ chức NC&PT với đội ngũ
công chức nhà nƣớc nói chung.
Là đơn vị thuộc thành phần nhà nƣớc, các tổ chức NC&PT thƣờng có
những quy chế hoạt động đƣợc cấp trên quy định rõ ràng. Đây là khuôn khổ để

chuyển một số viện nghiên cứu vào xí nghiệp và tổng công ty, cải tiến cơ chế
lập kế hoạch KH&CN, tạo những biện pháp khuyến khích cho ứng dụng
nhanh các kết quả nghiên cứu vào sản xuất. Những chính sách này đƣợc xem
là những chính sách áp dụng đối với hệ thống KH&CN hoạt động trong cơ
chế kế hoạch hoá tập trung.
- Quá trình chuyển đổi : chia thành 4 giai đoạn :
+ giai đoạn 1 : cải cách thể chế bƣớc đầu: cải cách chế độ cấp phát tài chính
và xây dựng, phát triển thị trƣờng công nghệ. Nhà nƣớc quản lý chặt kinh phí
của Nhà nƣớc cấp đồng thới khuyến khích các cơ quan nghiên cứu khai thác
các nguồn tài chính khác nhƣ thông qua hợp đồng sản xuất. Tuy nhiên thị
trƣờng công nghệ chƣa phát huy đƣợc vai trò là nơi trao đổi giữa ngƣời bán
và ngƣời mua và là công cụ để tăng cƣờng mối liên kết giữa khu vực nghiên
cứu và sản xuất.
+ giai đoạn 2 : tiếp tục cải cách sâu hơn : biến xí nghiệp trở thành chủ thể tiếp
nhận kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; khuyến khích
chuyển đổi viện nghiên cứu ứng dụng thành doanh nghiệp; tổ chức lại hệ
thống KH&CN gắn với sản xuất.

19
+ giai đoạn 3 : chuyển thế mạnh đối với các viện và tăng khả năng thâm nhập
thị trƣờng
+ giai đoạn 4 : thay đổi toàn bộ cấu trúc hệ thống KHCN : Nhà nƣớc tập trung
đầu tƣ kinh phí cho một số tổ chức nghiên cứu thuộc lĩnh vực nhà nƣớc cần
phát triển ở trình độ cao; tăng cƣờng sáng tạo KH&CN, đẩy nhanh chuyển
hoá thành quả khoa học.
- Các chính sách của Nhà nƣớc để hỗ trợ cho các tổ chức chuyển đổi :
+ Nhà nƣớc vẫn duy trì kinh phí sự nghiệp để các tổ chức NC&PT dùng cho
bảo hiểm xã hội đối với những đối tƣợng vệ hƣu, cán bộ nghiên cứu đƣơng
chức đƣợc hƣởng chế độ bảo hiểm viên chức.
+ Các tổ chức chuyển đổi đƣợc hỗ trợ : miễn thuế thu nhập trong 5 năm đối

nƣớc đã cho phép các cơ quan khoa học đƣợc thành lập các quỹ phát triển
khoa học kỹ thuật, quỹ phúc lợi và quỹ khen thƣởng. Ngoài nghĩa vụ với nhà
nƣớc, các tổ chức còn đƣợc chi các khoản thu nhập cho cán bộ công nhân
viên. Đây là điều góp phần khuyến khích các tổ chức KH&CN công lập từ
chủ tìm kiếm các khoản thu nhập từ bên ngoài thông qua hợp đồng.
d. Về nguồn tín dụng ngân hàng :
Các tổ chức đƣợc vay vốn ngân hàng để triển khai nghiên cứu khoa học
và áp dụng kỹ thuật tiến bộ, đổi mới công nghệ.
e. Về tự chủ lao động :
Các tổ chức đƣợc tự chủ về số lao động tuỳ theo điều kiện hoạt động trong tổ
chức.
f. Về hợp tác quốc tế :
Đƣợc tự chủ trong việc tổ chức hội thảo, hội nghị quốc tế, cử cán bộ đi
hợp tác quốc tế về KH&CN, thành lập các tổ chức KH&CN liên kết song
phƣơng và đa phƣơng đồng thời quy định rõ trách nhiệm liên kết hợp tác
quốc tế về KH&CN.
* Một số kết quả đạt được :
- Các tổ chức KH&CN đƣợc tự chủ trong việc ký kết hợp đồng kinh tế với
các doanh nghiệp, các cơ quan nghiên cứu, giáo dục, tƣ vấn dịch vụ
KH&CN đã làm tăng số thu đáng kể cho đơn vị, đƣợc tự chủ trích lập quỹ,
tự chủ về biên chế, sử dụng nguồn kinh phí thu đƣợc.

21
* Một số hạn chế :
- quan hệ tài chính vẫn mang nặng tính hành chính, bao cấp; quản lý cán bộ
còn dập khuôn theo chế độ công chức Nhà nƣớc, chính sách Nhà nƣớc còn
chƣa đồng bộ do nhận thức, ý thức trách nhiệm, trình độ quản lý .
1.1.5. Những thuận lợi khi thực hiện chuyển đổi theo Nghị định 115
Việc ban hành NĐ 115/CP sẽ góp phần thay đổi tƣ duy, sức ỳ lớn đang
tồn tại trong một bộ phận cán bộ nghiên cứu khoa học. NĐ 115/CP không đẩy

KH&CN theo Nghị định 80 thì tài sản đƣợc coi là phần vốn nhà nƣớc trong
doanh nghiệp, có thể đƣợc giao đất, thuê đất và sử dụng tài sản thế chấp, vay
vốn, liên doanh, liên kết theo quy định của pháp luật.
Về quản lý cán bộ viên chức, Nghị định 115 tăng quyền hạn cho ngƣời
đứng đầu các tổ chức KH&CN góp phần cải cách hành chính và phân cấp
quản lý một cách triệt để, đồng thời có quy định sự phối hợp, giám sát của các
tổ chức chính trị và chính trị xã hội trong đơn vị. Đó là:
1. Thủ trƣởng tổ chức KH&CN đƣợc quyền quyết định tuyển dụng, bổ
nhiệm vào ngạch, ký hợp đồng làm việc, nâng bậc lƣơng (đúng thời hạn,
trƣớc thời hạn và vƣợt 1 bậc khi có thành tích xuất sắc) trong cùng ngạch và
quyết định chuyển ngạch viên chức từ ngạch nghiên cứu viên chính và tƣơng
đƣơng trở xuống.
2. Mức thu nhập của cán bộ, viên chức không bị giới hạn mức tối đa
căn cứ vào hiệu quả công việc, có thể gấp nhiều lần mức lƣơng cơ bản theo
quy định của nhà nƣớc, sau khi đó hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nƣớc và trích
lập các quỹ theo quy định, tiền lƣơng trong hợp đồng làm việc đƣợc tính vào
chi phí hợp lý trƣớc thuế;
3. Chính thức cho phép bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo của tổ chức
KH&CN đối với viên chức đã làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc không
xác định thời hạn có thời gian từ 3 năm trở lên.
4. Cán bộ, viên chức chuyển sang chế độ ký hợp đồng làm việc, không
phân biệt ngƣời đó trƣớc đây trong biên chế hay ngoài biên chế.
Khi tổ chức KH&CN lựa chọn hình thức chuyển đổi thành doanh nghiệp
KH&CN theo Nghị định 80, cán bộ viên chức sẽ hƣởng chính sách chung đối
với ngƣời lao động trong doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

23
Mặc dù vậy, vẫn có nhiều ngƣời hiểu sai tinh thần của Nghị định 115
nên lo ngại một cách thiếu căn cứ. Ví dụ họ hiểu thuật ngữ “tự chủ” theo
nghĩa hẹp là tự trang trải về tài chính mà quên rằng Nghị định 115 cũng tạo

nƣớc đã đặt ra yêu cầu đối với việc khai thác và sử dụng thông tin nhƣ một
nguồn lực cơ bản và quan trọng để phát triển quốc gia. Là loại tài sản vô hình,
thông tin và tri thức khác với các nguồn lực vật chất truyền thống ở những
đặc điểm nổi trội, ví nhƣ: không bị giới hạn về trữ lƣợng, trong quá trình sử
dụng giá trị của thông tin không bị “hao mòn” hoặc bị mất đi thậm chí có thể
đƣợc làm giàu hơn, tức là thông tin có khả năng tái sinh, tự sinh sản và không
bao giờ cạn kiệt. Với sự phát triển của mạng Internet, không gian thông tin
của nhân loại đƣợc mở rộng và lớn hơn rất nhiều.
Ngày càng có nhiều trang Web đƣợc xây dựng trên mọi lĩnh vực để
đăng tải và truyền thông tin. Các bản tin, các loại ấn phẩm, các cơ sở dữ liệu,
các cuộc thảo luận và tham vấn đƣợc xuất hiện trên mạng Internet. Mọi hoạt
động trong xã hội hiện đại đều phải dựa trên thông tin. Ngày nay, chúng ta
càng thấy thấm thía hơn lời tiên tri của N. Winear – cha đẻ của ngành
Cybernetics cách đây nửa thế kỷ, “Cuộc sống có chất lƣợng là cuộc sống với
thông tin”. Trong thời đại thông tin, lợi thế so sánh sẽ thuộc về quốc gia nào
có năng lực tổ chức khai thác với hiệu quả cao nhất các nguồn thông tin và tri
thức hiện có của nhân loại.
Từ vài thập kỷ qua, cùng với hai yếu tố năng lƣợng và nguyên liệu,
thông tin KHCN đã đƣợc coi là tiềm năng thứ 3 - một tiềm năng đặc biệt quan
trọng, có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy phát triển mọi hoạt động xã hội của
con ngƣời. Thông tin KHCN đƣợc xem là hàng hoá đặc biệt với đặc điểm là
khi đƣợc sử dụng, chúng không những mất đi mà ngƣợc lại càng sử dụng giá
trị của chúng càng đƣợc nhân lên mà hiệu quả mang lại càng tăng. Thông tin
KHCN là yếu tố nền tảng của kinh tế tri thức. Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc
cách mạng KHCN, đặc biệt là CNTT và truyền thông trong thập kỷ gần đây
đã tác động sâu sắc tới hoạt động thông tin KHCN, đƣa thế giới từ kỷ nguyên
công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức. Sự hội tụ
giữa thông tin, viễn thông, tin học là một xu hƣớng quan trọng trong xu thế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status