Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV AIDS tại Bắc Kạn - Pdf 28

Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong
hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn

Đặng Hồng Mạnh

Trường Đại học KHXH&NV
Luận văn ThS. Chuyên ngành: Xã hội học; Mã số: 60 31 30
Người hướng dẫn: PGS.TS Phạm Văn Quyết
Năm bảo vệ: 2013 Abstract: Phân tích vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt
động phòng, chống HIV/AIDS tại địa bản tỉnh Bắc Kạn. Chỉ ra những thuận
lợi và khó khăn của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng,
chống HIV/AIDS tại địa bàn tỉnh Bắc Kạn. Đề xuất kiến nghị nhằm nâng
cao vai trò và hiệu quả hoạt động của các CBO trong hoạt động phòng,
chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn.

Keywords: Xã hội học; Dịch vụ xã hội; AIDS; Tổ chức xã hội; Phòng
chống

Content 4

MỤC LỤC
Nội dung
Trang
MỤC LỤC
1

1.2.3. Áp dụng các văn bản pháp luật liên quan đến vai trò của các tổ chức
xã hội
25 5
1.3. Những khái niệm công cụ
29
1.3.1. Khái niệm tổ chức xã hội
29
1.3.2. Khái niệm cộng đồng
30
1.3.3. Khái niệm CBO
32
1.3.4. Thao tác hóa khái niệm vai trò của các CBO
32
1.3.5. Khái niệm người sống chung với HIV/AIDS/người có H
33
1.3.6. Khái niệm người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS/trẻ OVC
33
1.3.7. Khái niệm người có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao
33
1.4. Tổng quan các nghiên cứu về vai trò của các tổ chức xã hội dân sự và
tổ chức dựa vào cộng đồng
34
1.4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
34
1.4.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
35
1.5. Sơ lược về vị trí địa lý, tình hình kinh tế, văn hóa và xã hội và dịch

62
2.2.3. Tác động của tổ chức dựa vào cộng đồng đối với người có H và
người bị ảnh hưởng bởi HIV tại cộng đồng
74
2.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và vai trò của các
CBO tại Bắc Kạn
75
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
80
1. Kết luận
80
2. Khuyến nghị và giải pháp
81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
83
PHỤ LỤC
88
3

người, năm 2000 số người nhiễm HIV là 8824 người, năm 2001 số người nhiễm HIV là 10.958
người, năm 2002 số người nhiễm HIV là 15.573 người, năm 2003 số người nhiễm HIV là 21.285
người, năm 2004 số người nhiễm HIV là 22.669 người, năm 2005 số người nhiễm HIV là 24.563
người, năm 2006 số người nhiễm HIV là 30387 người, năm 2007 số người nhiễm HIV là 30.846,
năm 2008 số người nhiễm HIV là 20.240, năm 2009 số người nhiễm HIV là 16.086, năm 2010 số
người nhiễm là 14.267, năm 2011 số người nhiễm là 17.780 [5, tr3]. Đây là kết quả của những nỗ 4
lực không mệt mỏi trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS của không chỉ ngành y tế mà còn của
rất nhiều các ban ngành, tổ chức xã hội trong đó có các CBO.
Vậy thực trạng của các CBO ra sao? Các CBO đã có những có vai trò và đóng góp như thế
nào trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS? Với mong muốn trả lời được câu hỏi trên cùng với
sự quan tâm về mảng đề tài HIV/AIDS tác giả tiến hành đề tài nghiên cứu “Vai trò của các tổ chức
dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn”
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
2.1. Ý nghĩa khoa học
Các vấn đề liên quan đến HIV/AIDS không chỉ là vấn đề của ngành dịch tễ học, công tác
xã hội, y tế công cộng mà nó là mối quan tâm chung của rất nhiều ngành khoa học, trong đó có xã
hội học. Việc vận dụng các kiến thức xã hội vào nghiên cứu, phân tích chủ đề trên sẽ góp phần làm
phong phú thêm lý thuyết của khoa học xã hội, đặc biệt là khoa học xã hội học.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu về “Vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống
HIV/AIDS tại Bắc Kạn” góp phần đưa ra một bức tranh về thực trạng của các CBO cũng như những
đóng góp của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh Bắc
Kạn. Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số kết luận và khuyến nghị nhằm giúp các nhà quản lý có thể
quản lý và hỗ trợ phát huy những mặt tích cực của các tổ chức dựa vào cộng đồng tại địa phương
góp phần vào sự phát triển của xã hội.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu

4.4. Mẫu nghiên cứu
Đề tài lựa chọn 10 tổ chức dựa vào cộng đồng thuộc 05 địa bàn của tỉnh Bắc Kạn gồm Thị
xã Bắc Kạn, huyện Chợ Mới, huyện Bạch Thông, huyện Chợ Đồn, huyện Ba Bể. Tiêu chí lựa chọn
10 tổ chức dựa vào cộng đồng là những tổ chức hiện đang hoạt động tích cực trong phòng, chống
HIV/AIDS tại 05 huyện, thị xã nơi có số người đang sống chung với HIV/AIDS cao nhất tỉnh Bắc
Kạn.
Về cơ bản, mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp phân cụm địa lý - kinh tế - hành
chính kết hợp với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có chủ đích tại địa bàn thực hiện nghiên cứu.
Trong số 10 tổ chức dựa vào cộng đồng được lựa chọn nghiên cứu thì 6 tổ chức dựa vào
cộng đồng có thành phần tham gia sinh hoạt là người sống chung với HIV, 4 tổ chức dựa cộng
đồng thành phần tham gia sinh hoạt là người bạn tình âm tính của người sống chung với HIV và
người tiêm chích ma túy. 10 tổ chức dựa vào cộng đồng được lựa chọn tại Bắc Kạn được thành lập
từ giai đoạn tháng 7/2007 đến tháng 3/2012.
10 tổ chức dựa vào cộng đồng được lựa chọn tại tỉnh Bắc Kạn trong thời điểm nghiên cứu
đang được hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật bởi Trung Tâm Nghiên cứu Sức khỏe Cộng đồng và Phát
triển (Trung tâm COHED) thuộc Dự án Quỹ toàn cầu vòng 9 – Hợp phần dự án Liên Hiệp Các Hội
Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam (VUSTA).
5. Phương pháp thu thập thông tin
5.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Mục đích của phương pháp phân tích tài liệu là: Xác định được tổng quan của vấn đề
nghiên cứu và là căn cứ khoa học bổ sung cho vấn đề nghiên cứu của đề tài “Vài trò của các tổ
chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại Bắc Kạn”. Trong luận văn
này, tác giả sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để có một cơ sở vững chắc nhằm tiếp cận và
tìm hiểu về tổ chức dựa vào cộng đồng và vai trò của các tổ chức dựa vào cộng đồng dưới góc độ 6
nghiên cứu của khoa học xã hội học. Các tài liệu bao gồm: Số liệu thống kê của Bộ y tế về tình
hình HIV/AIDS, báo cáo, kế hoạch công tác phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Bắc Kạn; Báo cáo hoạt
động của 10 tổ chức dựa vào cộng đồng là nhóm Hy Vọng thị xã Bắc Kạn năm 2011 và 2012; Các

Câu hỏi 1: Hoạt động chính của các tổ chức dựa vào cộng đồng trong hoạt động phòng, chống
HIV/AIDS là gì? Các tổ chức dựa vào cộng đồng tại Bắc Kạn đã có những đóng góp như thế nào
vào hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn? 7
Câu hỏi 2: Những khó khăn của các tổ chức dựa vào cộng đồng thường gặp phải là gì? Nguyên
nhân của những khó khăn đó và phương hướng để giải quyết những khó khăn đó như thế nào?

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Các lý thuyết xã hội học áp dụng trong đề tài
1.1.1. Lý thuyết vai trò xã hội
1.1.2. Lý thuyết phát triển cộng đồng
1.1.3 Áp dụng các văn bản pháp luật liên quan đến vai trò của các tổ chức xã hội
1.2. Những khái niệm công cụ
1.2.1. Khái niệm tổ chức xã hội
1.2.2. Khái niệm cộng đồng
1.2.3. Khái niệm tổ chức dựa vào cộng đồng
1.2.4. Thao tác hóa khái niệm vai trò của các CBO
1.2.5. Khái niệm NCH hoặc người sống chung với H:
1.2.6. Khái niệm người bị ảnh hưởng bởi HIV:
1.2.7. Khái niệm người có hành vi nguy lây nhiễm HIV cao:
1.3. Sơ lược về vị trí địa lý, tình hình kinh tế, văn hóa và xã hội và dịch HIV/AIDS tại tỉnh
Bắc Kạn
1.3.1. Điều kiện địa lý
Bắc Kạn là tỉnh miền núi, vùng cao được tái lập từ 01/1/1997 trên cơ sở tách từ 04 huyện, thị
xã của tỉnh Bắc Thái và 2 huyện của tỉnh Cao Bằng.
Là tỉnh nằm ở trung tâm nội địa vùng Đông Bắc - Bắc Bộ Việt Nam; phía Bắc giáp các
huyện Bảo Lạc, Nguyên Bình, Thạch An tỉnh Cao Bằng; phía Đông giáp các huyện Tràng Định,
Bình Gia tỉnh Lạng Sơn; phía Nam giáp các huyện Võ Nhai, Phú Lương, Định Hoá tỉnh Thái

Tính đến 20/12/2012 tổng số người nhiễm HIV được phát hiện là 2203 người, số người
nhiễm HIV còn sống là 1481 người. Tổng số bệnh nhân AIDS lũy tích là 909 trong đó số bệnh
nhân AIDS còn sống là 391. Theo đánh giá của Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Bắc Kạn vẫn
là một trong 10 tỉnh có số người nhiễm HIV trên 100.000 dân, cao nhất cả nước. Toàn tỉnh đã có
108/122 xã, phường, thị trấn: 8/8 huyện thị xã phát hiện có người nhiễm HIV. Sô người nhiễm
HIV/AIDS cao chủ yếu tập trung tại các huyện có tệ nạn ma túy phức tạp như: Thị xã Bắc Kạn,
huyện Chợ Mới, Bạch Thông. Dịch có nguy cơ lan rộng ra cộng đồng và ở những vùng sâu xa;
Dịch HIV/AIDS vẫn xảy ra chủ yếu trong các nhóm có hành vi nguy cơ, lây truyền chủ yếu là qua
đường máu chiếm 62,48% (tiêm chích ma túy chiếm 50,63%) qua đường tình dục chiếm 5,8% và
mẹ truyền sang con là 1,07%. Tỷ lệ nhiễm ở nam vẫn chiếm tỷ lệ cao 88,21%; nữ là 11,79%. Lứa
tuổi nhiễm HIV/AIDS tập trung ở độ tuổi từ 20-39 chiếm 80,28 [28, tr 1].

Chương 2. TỔ CHỨC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI TỈNH BẮC KẠN VÀ CÁC HOẠT
ĐỘNG PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS
2.1. Đặc điểm của các CBO trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn
2.1.1. Cơ sở hình thành
Các CBO được thành lập trên cơ sở nguyện vọng của các thành viên trong nhóm và bối cảnh
chung của chương trình phòng, chống HIV cũng như chương trình hành động về can thiệp giảm tác
hại trong dự phòng lây nhiễm HIV đến năm 2012 tại tỉnh Bắc Kạn. Cùng với các chương trình can
thiệp và dự phòng HIV của các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế tại địa bàn tỉnh Bắc
Kạn. Thành phần tham gia trong các CBO là những người đang sống chung với HIV/AIDS, người
sử dụng ma túy, người bạn tình âm tính của những NCH và người tiêm chích ma túy hoặc những 9
người thân trong gia đình của người sống chung với HIV đang sinh sống tại địa bàn nhất định như
phường, xã hoặc trong cùng huyện.
Thời gian thành lập của các CBO tại địa bàn tỉnh Bắc Kạn vào các thời gian khác nhau. CBO
được thành lập sớm nhất và có thời gian hoạt động lâu dài nhất tại địa bàn tỉnh Bắc Kạn là nhóm tự
lực Hy Vọng Thị xã Bắc Kạn được hình thành từ tháng 7/2007. Từ một nhóm tự lực Hy Vọng hoạt

ban ngành tại địa phương hoặc do các dự án hỗ trợ phát triển thành lập lên. 10
Hai là: Các CBO được hình thành do chính thành viên là những người có H, người có hành
vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao như người sử dụng ma túy, người bạn tình âm tính của những người
sống chung với HIV và người tiêm chích ma túy hoặc người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS hình
thành lên.
Để được phép hoạt động tại địa phương mỗi CBO khi thành lập đều phải có đơn gửi chính
quyền địa phương nơi đặt địa điểm sinh hoạt của nhóm để xin phép được hoạt động trên địa bàn.
Trong đơn gửi chính quyền địa phương xin phép hoạt động các nhóm phải trình bày mục đích hoạt
động và các thành viên nòng cốt tham gia thành lập nhóm . Khi chính quyền địa phương phê duyệt
đồng ý các nhóm tự lực mới được phép hoạt động.
Cơ cấu tổ chức của các CBO
Mỗi một CBO trong hoạt động phòng, chống HIV/AIDS đều có một bộ máy điều hành hoạt
động của tổ chức nhằm đảm bảo các hoạt động của tổ chức hướng đến mục đích đã đề ra. Bộ máy
điều hành hoạt động của tổ chức được gọi là ban điều hành. Điểm chung giữa các CBO được hỗ
trợ kỹ thuật và kinh phí bởi các dự án hoặc ban ngành địa phương và các CBO không được hỗ trợ
kinh phí và kỹ thuật từ các dự án hoặc các ban ngành địa phương đó là các thành viên trong ban
điều hành của tổ chức là những người có kiến thức về HIV và các kiến thức liên quan đến HIV
được các thành viên trong nhóm kính trọng và nể phục. Ban điều hành của CBO được cơ cấu bao
gồm các vị trí sau:
Trưởng nhóm: Là người có uy tín trong cộng động được các thành viên trong nhóm đề cử
làm công việc quản lý, điều hành các hoạt động chung của nhóm, cùng với các thành viên trong
nhóm xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm, giám sát hỗ trợ cho các thành viên trong nhóm thực
hiện các hoạt động của nhóm đã đề ra, cung cấp thông tin, tư vấn hỗ trợ cho các thành viên trong
nhóm, tổng kết và báo cáo các nguồn thu, chi và các hoạt động của nhóm với các thành viên trong
nhóm.
Phó nhóm: Là người có uy tín trong cộng đồng của nhóm thực hiện công việc hỗ trợ cho
trưởng nhóm quản lý, điều hành các hoạt động của nhóm, hỗ trợ cho các thành viên trong nhóm

chí là nhóm trưởng của nhóm tiếp cận cộng đồng. Tư vấn viên là người có những tiêu chuẩn như: Có
nhiều kinh nghiệm trong công tác truyền thông thay đổi hành vi và phòng, chống HIV/AIDS, đặc
biệt với nhóm có nguy cơ cao. Có năng lực đánh giá, giám sát và hỗ trợ. Có kỹ năng truyền đạt kiến
thức cho những người khác. Có kỹ năng đào tạo “cầm tay chỉ việc” cho các thành viên nòng cốt
hoặc tiếp cận viên. Tư vấn tại chỗ về kỹ năng tiếp cận và kiến thức về dự phòng HIV, về kỹ năng
tiếp cận cho tiếp cận viên, và phát triển nhóm.
Đối với các CBO không được hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật từ các dự án hoặc các ban ngành
địa phương thì sự phân công vai trò và trách nhiệm giữa các thành viên trong ban điều hành của
các CBO không thực sự rõ ràng và cụ thể như trong các nhóm tự lực được hỗ trợ kinh phí và kỹ
thuật bởi các dự án hoặc ban ngành địa phương. Cụ thể các thành viên trong nhóm chỉ bầu trưởng
nhóm là người chịu trách nhiệm tất cả các công việc liên quan đến ban điều hành. Sự phân công
giữa các thành viên trong nhóm là không rõ ràng và thường mang tính tự phát.
Trình độ học vấn của các thành viên trong ban điều hành CBO
Trình độ học vấn của các thành viên trong ban điều hành của các CBO nhìn chung đều rất
thấp, hầu hết đều chưa học hết phổ thông trung học. 10 CBO trong nghiên cứu chỉ có duy nhất 1
CBO là nhóm Hy Vọng thị xã Bắc Kạn là có 01 thành viên trong ban điều hành nhóm có trình độ
đại học – Tốt nghiệp hệ đại học tại chức.
2.2. Hoạt động phòng, chống HIV/AIDS của CBO
2.2.1. Các hoạt động chính trong phòng, chống HIV/AIDS 12
 Hoạt động tiếp cận, mở rộng thêm thành viên mới
Ngay từ khi bắt đầu được hình thành tất cả các tổ chức dựa vào cộng đồng đều thực hiện
các hoạt động này. Hoạt động mở rộng thêm thành viên mới được thực hiện bởi các thành viên
trong ban điều hành của tổ chức thông qua việc tìm kiếm và tiếp cận những người có H trong cộng
đồng cũng như người bạn tình âm tính của người có H và người tiêm chích ma túy đồng thời vận
động họ tham gia sinh hoạt trong tổ chức
Đối với những CBO được hỗ trợ kinh phí bởi dự án Tiểu dự án thành phần Trung tâm
Nghiên cứu Sức khỏe Cộng đồng và Phát triển (COHED) trực thuộc Hợp phần dự án Liên hiệp các

13
Hàng tháng các thành viên nòng cốt /Nhân viên viên chăm sóc của các CBO là những
người đã được đào tạo những kiến thức và kỹ năng về chăm sóc hỗ trợ đến tại nhà để thực hiện
hoạt động này. Dịch vụ chăm sóc tại nhà được cung cấp cho các khách hàng dựa trên nhu cầu thực
tế của khách hàng, mức độ ưu tiên và khả năng đáp ứng của thành viên nòng cốt /Nhân viên viên
chăm sóc của CBO. Các khách hàng nhận dịch vụ chăm sóc hỗ trợ tại nhà được chia làm 2 nhóm
đối tượng chính gồm: NCH và trẻ OVC.
Dịch vụ chăm sóc tại nhà dành cho NCH gồm:
Chăm sóc y tế: Các thành viên nòng cốt/nhân viên chăm sóc của các CBO tập trung vào
cung cấp kiến thức cơ bản liên quan đến HIV; Hướng dẫn và hỗ trợ chăm sóc triệu chứng tại nhà;
Hướng dẫn cho gia đình cách chăm sóc triệu chứng cho người nhiễm tại nhà; Trong giai đoạn cuối
đời, đánh giá các triệu chứng triệu chứng đau, lở loét, thực hiện chăm sóc điều dưỡng để hỗ trợ
người nhiễm HIV ra đi nhẹ nhàng và thanh thản; Tư vấn và hỗ trợ tuân thủ điều trị dự phòng và
ARV; Tư vấn, cung cấp thông tin và hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiết yếu; Kết
nối với các phòng khám ngoại trú và các cơ sở chăm sóc, điều trị HIV/AIDS để xác định tình trạng
của người nhiễm HIV và theo dõi bệnh nhân được chuyển gửi.
Hỗ trợ tâm lý và tâm thần: Các thành viên nòng cốt /Nhân viên viên chăm sóc của các
CBO tập trung vào: giúp đỡ, động viên, hỗ trợ tâm lý và hỗ trợ khách hàng vượt qua khủng hoảng;
Hỗ trợ chăm sóc cuối đời, hỗ trợ tang ma và hỗ trợ cho gia đình người mất về tâm lý.
Hỗ trợ về kinh tế xã hội: Các thành viên nòng cốt /Nhân viên viên chăm sóc của CBO tập
trung vào: Hỗ trợ về dinh dưỡng bao gồm hỗ trợ cả kiến thức và thực phẩm dinh dưỡng; Hỗ trợ tiếp
cận các dịch vụ giáo dục (hướng nghiệp), tạo việc làm, tạo thu nhập hoặc hỗ trợ vốn vay để phát
triển kinh tế hộ gia đình.
Hỗ trợ pháp lý và nhân quyền: Các thành viên nòng cốt – tiếp cận viên của các CBO tập
trung vào tư vấn, hướng dẫn và hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ xã hội và pháp lý; Hỗ trợ giảm kỳ thị và
phân biệt đối xử với NCH.
Ngoài ra các tiếp cận viên/nhân viên chăm sóc còn cung cấp dự phòng lồng ghép trong
dịch vụ chăm sóc như: Đánh giá nhanh các nguy cơ lây nhiễm HIV của người nhiễm HIV và bạn
tình, hoặc con của họ. Cung cấp kiến thức về các đường lây truyền HIV cho người có HIV và
những đường không lây truyền HIV. Cung cấp kiến thức, kỹ năng và các vật dụng cần thiết phòng

đối xử với trẻ OVC.
Ngoài ra còn có dịch vụ cho nhóm người thân – người lớn/ người chăm sóc trẻ: Các thành
viên nòng cốt – tiếp cận viên của các CBO tập trung vào các hoạt động như cung cấp kiến thức cơ
bản về HIV, các yếu tố lây truyền và không lây truyền, cách dự phòng và tránh kỳ thị trong gia
đình. Tư vấn và hỗ trợ tiếp cận dịch vụ tư vấn xét nghiệm tự nguyện, sức khỏe sinh sản (kế hoạch
hóa gia đình, mang thai an toàn, xét nghiệm và điều trị các nhiễm trùng lây qua đường tình dục.
Cung cấp kỹ năng tự chăm sóc và chăm sóc cho người thân có HIV (chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ tâm
lý, phòng lây nhiễm…). Hỗ trợ tâm lý cho người thân; động viên, an ủi, tư vấn chấp nhận tình trạng
nhiễm HIV của người có HIV trong gia đình. Hỗ trợ gia đình tiếp cận các dịch vụ trợ giúp pháp lý
(nếu có). Hỗ trợ tiếp cận việc làm, phát triển sinh kế, và các dịch vụ tạo thu nhập. Hỗ trợ giảm kỳ
thị và phân biệt đối xử đối với người nhà của người có HIV. Cung cấp kiến thức cơ bản về quyền
trẻ em. Hỗ trợ ông bà, bố mẹ các kiến thức cơ bản về cách chăm sóc trẻ.
 Hoạt động cung cấp dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV cho nhóm đối tượng có hành vi
nguy cơ cao là PSP.
Hoạt động cung cấp dịch vụ dự phòng cho nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ cao là bạn
tình âm tính của người có HIV và người tiêm chích ma túy được thực hiện bởi các thành viên nòng 15
cốt – Tiếp cận viên của ban điều hành của CBO nhằm giúp hạn chế lây nhiễm HIV trong các nhóm
cơ nguy cơ cao, vừa hạn chế sự lây truyền của HIV ra cộng đồng dân cư chung. Có 4 dịch vụ dự
phòng chính được thực hiện gồm dịch vụ cung cấp vật phẩm y tế, dịch vụ chuyển gửi đến các cơ sở
dịch vụ sẵn có tại cộng đồng và dịch vụ truyền thông, tư vấn trực tiếp tại nhà và tại cộng đồng.
Dịch vụ cung cấp tài liệu truyền thông thay đổi hành vi với các nội dung chính là thông
tin về kiến thức cơ bản về HIV/AIDS, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, xét nghiệm HIV tự
nguyện, kiến thức cơ bản về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục, quyền sinh sản và quyền tình
dục, kiến thức cơ bản về giới, bạo lực trên cơ sở giới và bạo lực tình dục, hướng dẫn sử dụng bao
cao su và chất bôi trơn, dự phòng lây nhiễm trong các đôi trái dấu, kiến thức cơ bản về ma túy và
điều trị nghiện ma túy, dự phòng và xử trí sốc thuốc.
Các tài liệu truyền thông được các CBO nhóm tự lực cung cấp cho các thành viên trong tổ

thông tin cơ bản về ma tuý và nghiện ma tuý. Cung cấp thông tin và tư vấn về điều trị nghiện ma
tuý. Dự phòng tái nghiện. Hướng dẫn dự phòng và xử trí sốc thuốc.
Đối với dịch vụ tư vấn và hỗ trợ tâm lý các CBO tập trung vào tư vấn, hỗ trợ bạn tình âm
tính của người có H và người tiêm chích ma túy đối phó với tự kỳ thị và kỳ thị. Nâng cao nhận thức
về giới. Cung cấp thông tin về quyền liên quan đến bạn tình âm tính của người có H và người tiêm
chích ma túy. Khuyến khích, hỗ trợ người tiêm chích ma túy tham gia các CBO đặc biệt đối với
những nữ tiêm chích ma túy tập trung vào nâng cao nhận thức về giới, chia sẻ, hỗ trợ dự phòng và
đối phó với bạo lực giới và bạo lực tình dục.
Đối với dịch vụ cung cấp thông tin và tư vấn về SKSS các CBO tập trung vào cung cấp
kiến thức cơ bản về các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Cung cấp kiến thức cơ bản về kế
hoạch hoá gia đình. Cung cấp thông tin về mang thai an toàn cho cặp đôi trái dấu.
 Hoạt động hỗ trợ vốn vay tạo thu nhập cho người có H và gia đình
Tâm lý chung của NCH hiện nay là làm sao để có thể duy trì cuộc sống khỏe mạnh, và bắt
đầu lo cho tương lai, cho con cái họ. Bên cạnh nhu cầu được chăm sóc về thể chất, hỗ trợ về tinh
thần, một nhu cầu quan trọng khác nữa là nhu cầu hỗ trợ phát triển kinh tế, tạo việc làm để có thu
nhập ổn định. Dựa trên nhu cầu của các thành viên tham gia CBO đã triển khai và thực hiện các các
hoạt động hỗ trợ phát triển sinh kế, tạo thu nhập ổn định cho NCH thông qua việc hỗ trợ vốn vay
để triển khai các mô hình sản xuất, kinh doanh, cá nhân và tập thể.
Hoạt động hỗ trợ vốn vay cho các hộ gia đình sống chung với HIV và hộ gia đình bị ảnh
hưởng bởi HIV của các CBO tại địa bàn Bắc Kạn tập trung vào xây dựng mới hoặc phát triển mở
rộng các mô hình chăn nuôi (lợn, gà, châu, bỏ, thả cá), buôn bán hoặc mở rộng cơ sở sản xuất của
gia đình.
 Hoạt động kết nối với các cơ sở dịch vụ sẵn có tại địa phương và chuyển gửi khách
hàng tiếp cận với các dịch vụ sẵn có tại địa phương
Kết nối là việc thiết lập mối quan hệ giữa CBO với các cơ sở cung cấp dịch vụ liên quan,
nhằm giúp cho việc chuyển gửi khách hàng khi có nhu cầu diễn ra một cách thuận tiện và hiệu quả.
Tùy theo mức độ cần thiết và số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ đó, CBO có thể thực hiện việc
kết nối ở các mức độ khác nhau. Đối với các CBO nhận được sự hỗ trợ về kỹ thuật và ngân sách từ
các dự án thì việc kết nối với các cơ sở dịch vụ liên quan được dự án hỗ trợ thông báo và giới thiệu
hoạt động của CBO tới cơ sở dịch vụ trong địa bàn về việc thành lập nhóm, các dịch vụ mà CBO

lây nhiễm HIV cho NCH và người có nguy cơ cao tại cộng đồng.
Các CBO trong thời kỳ bắt đầu hình thành số lượng người tham gia sinh hoạt thường chưa
có nhiều trung bình khoảng 4 – 10 người tham gia. Thông qua hoạt động tiếp cận cộng đồng từ các
thành viên nòng cốt, số lượng các thành viên tham gia được tăng lên.
Tổng số người NCH được tiếp cận và tham gia sinh hoạt trong CBO là 394 người trong
đó có 276 nam và 118 nữ. Độ tuổi từ 0 -17 tuổi có 14 người , độ tuổi từ 18-24 tuổi có 17 người, độ
tuổi từ 25 tuổi trở lên có 363 người.
Tổng số trẻ OVC được tiếp cận và cung cấp dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ tại cộng đồng là 266
trẻ trong đó có 126 nữ và 140 nam. 18
Tổng số bạn tình của NCH và người tiêm chích ma túy được tiếp cận và tham gia vào các
CBO là 459 người. Trong đó có 424 nữ và 35 nam. Độ tuổi tử 18-24 có 16 người, độ tuổi từ 25 trở
lên là 443 người.
Tổng số bạn tình âm tính của người có H và người tiêm chích ma túy được cung cấp ít nhất một
dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS năm 2012 là 369 người.
Tổng số bạn tình âm tính của người có H và người tiêm chích ma túy được cung cấp đầy đủ 3
đến 4 dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS bao gồm: Truyền thông tư vấn trực tiếp, nhận vật phẩm y
tế (Bao cao su, chất bôi trơn) tài liệu truyền thông và chuyển gửi đến các dịch vụ khám xét nghiệm liên
quan đến HIV/AIDS là 351 người.
Số liệu 13,834 bao cao su được cung cấp cho PSP cho thấy các CBO của PSP đã rất thành
công trong việc cung cấp dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV qua đường tình dục cho PSP.
 Các CBO đã góp phần nâng cao nhận thức về phòng chống HIV/AIDS cho người dân
tại cộng đồng.
Các hoạt động truyền thông, nói chuyện chuyên đề về phòng, chống HIV/AIDS được thực
hiện bởi chính các thành viên trong ban điều hành của CBO đã thu hút được sự tham gia của các
đối tượng đích và người dân cộng đồng rất lớn. Trung bình mỗi buổi truyền thông lớn tại cộng
đồng có khoảng 50 người dân tại cộng đồng tham gia và một buổi nói chuyện chuyên đề về phòng,
chống HIV có sự tham gia của 25-35 người là đối tượng đích tham gia. Chủ đề và nội dung của các

tiêu tơ’\\ốn các chi phí vào việc khám và điều trị HIV/AIDS. Để hỗ trợ cho các hộ gia đình có nhu
cầu vay vốn phát triển kinh tế các tổ chức đã thực hiện các mô hình tín dụng tự quản nhằm hỗ trợ
vốn vay để phát triển kinh tế cho các hộ gia đình cầu. Cụ thể:
Từ năm 2010 đến tháng 12 năm 2012 đã có 96 hộ gia đình được vay vốn để phát triển kinh
tế hộ gia đình từ 5 mô hình tín dụng tự quản của 4 CBO và 1 mạng lưới các nhóm tự lực Hy Vọng
với tổng số vốn vay ban đầu là 341.850.000 vnd.
Trong số 96 hộ gia đình được vay vốn phát triển kinh tế có 56 hộ gia đình được vay vốn từ
nguồn vốn ban đầu, 38 hộ gia đình được vay vốn từ nguồn vốn quay vòng.
Mức vay vốn bình quân thực tế của các hộ gia đình từ 5 đến 10 triệu đồng/1 hộ. Hoạt động
hỗ trợ vốn vay cho các hộ gia đình sống chung với HIV và hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi HIV của
các CBO tại địa bàn Bắc Kạn tập trung vào xây dựng mới hoặc phát triển mở rộng các mô hình
chăn nuôi (lợn, gà, châu, bỏ, thả cá), buôn bán hoặc mở rộng cơ sở sản xuất của gia đình. Số liệu
trên đã cho thấy tính hiệu quả của các CBO trong việc hỗ trợ việc làm và phát triển kinh tế cho các
thành viên của các CBO tại Bắc Kạn.
 Hỗ trợ người có HIV hòa nhập vào lực lượng xã hội thông qua việc tự làm, làm việc
tập trung tại các cơ sở sản xuất tại địa phương.
Bên cạnh việc thực hiện mô hình tín dụng tự quản nhằm hỗ trợ các hộ gia đình của những
NCH và những người bị ảnh hưởng bởi HIV có vốn vay để làm mới và phát triển mở rộng các mô
hình kinh tế của hộ gia đình các CBO tại Bắc Kạn còn triển khai và thực hiện các mô hình kinh tế
tập thể nhằm tạo việc làm cho những người sống chung với HIV có việc làm tăng thêm thu nhập.
Hai mô hình kinh tế tập thể của nhóm Hy Vọng Chợ Mới và Hy Vọng Thị xã Bắc Kạn là ví dụ
chứng minh CBO đã chủ động hỗ trợ NCH hòa nhập vào lực lượng xã hộ thông qua việc tự làm và
làm việc tập trung tại các cơ sở sản xuất tại địa phương. 20
Mô hình tổ hợp tác Bình Minh sản xuất gạch silicat, đóng than tổ ong và cung cấp dịch vụ
hiếu hỉ của nhóm Hy Vọng Thị xã Bắc Kạn thường xuyên tạo việc làm cho 8-10 thành viên của
nhóm với mức thu nhập trung bình 100.000 đồng/ngày.
Mô hình xưởng mộc của nhóm tự lực Hy Vọng huyện Chợ Mới đã tạo việc làm cho 8

Tình trạng quá tải bệnh nhân tại các cơ sở y tế đang diễn ra một cách phổ biến tại các
bệnh viên tuyến tỉnh và tuyến trung ương. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng quá tải 21
trong đó nguyên nhân dẫn đến tình trạng quá tải này là số bệnh nhân đến điều trị tại các cơ sở y tế
tuyến tỉnh tăng đột biến do tỷ lệ nhiễm HIV tăng nhanh. Thông qua hoạt động chăm sóc, hỗ trợ tại
nhà, tại cộng đồng cho NCH và trẻ OVC, các CBO đã góp phần giảm bớt sự quá tải bệnh nhân
AIDS tại các cơ sở y tế.
Trong năm 2012, đã có 394 NCH và 266 trẻ OVC được các CBO cung cấp dịch vụ chăm
sóc và hỗ trợ tại nhà và tại cộng đồng với các nội dung như chăm sóc triệu chứng, hướng dẫn xử lý
các triệu chứng, hỗ trợ tuân thủ điều trị HIV, hướng dẫn và chăm sóc dinh dưỡng, hỗ trợ tâm lý và
hỗ trợ giáo dục.
Bên cạnh việc góp phần làm giảm sự quá tải trong các cơ sở y tế các tổ chức tại cộng đồng
còn góp phần tăng cường khả năng tiếp cận của NCH, trẻ OVC cũng như PSP tới các dịch vụ chăm
sóc và hỗ trợ thân thiện thông qua hoạt động chuyển gửi họ đến các cơ sở dịch vụ có sẵn tại cộng
đồng như phòng khám và xét nghiệm HIV tự nguyện, dịch vụ chăm sóc sức khỏe tình dục, sức
khỏe sinh sản, phòng khám ngoại trú, cơ sở theo dõi điều trị HIV/AIDS, các nhóm tự lực dựa vào
cộng đồng.
2.2.3. Tác động của các CBO đối với người sống chung với HIV và người bị ảnh hưởng bởi
HIV tại cộng đồng
Các hoạt động của các CBO đã tác động tích cực đến những NCH và những người bị ảnh
hưởng bởi HIV không chỉ về mặt thể chất mà còn cả về mặt tinh thần, giúp họ thay đổi suy nghĩ
từ tiêu cực chuyển sang tích cực và có những hành động cụ thể tham gia vào hoạt động phòng,
chống HIV/AIDS tại địa phương. Có rất nhiều những câu chuyện điển hình về sự thay đổi tích cực
của các thành viên tham gia trong các CBO trong nghiên cứu này được chỉ ra
2.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và vai trò của các CBO tại Bắc Kạn
 Hệ thống chính sách pháp luật đối với người nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.
Các CBO tại tỉnh Bắc Kạn ra đời từ năm 2007 đến năm 2011 và hoạt động trong bối cảnh
dịch HIV/AIDS đang lan rộng ra cộng đồng. Đại dịch HIV/AIDS trở thành một vấn đề trọng tâm

Kạn. Bên cạnh sự đổi mới về chính sách kinh tế và sự phát triển nhanh chóng của du lịch và công
nghiệp. Sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian gần đây đã làm bùng nổ nhiều loại
dịch vụ đáp ứng nhu cầu gia tăng lao động nhập cư. Điều này cũng đồng nghĩa với sự gia tăng đáng
kể các tệ nạn xã hội, như tệ nạn ma túy, mại dâm và đặc biệt tệ nạn ma túy là yếu tố chủ yếu dẫn
đến tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS cao.
Tại một số địa phương đặc biệt ở những địa bàn vùng sâu và vùng xa nơi mà kiến thức về
HIV/AIDS của người dân cộng đồng còn thấp, sự kỳ thị và phân biệt đối xử với những người sử
dụng ma túy và người sống chung với HIV còn lớn. Đây cũng là một khó khăn ảnh hưởng đến các
hoạt động tiếp cận, cung cấp dịch vụ về chăm sóc, hỗ trợ và dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS của
các CBO tại Bắc Kạn.
 Đặc điểm của các thành viên tham gia trong các CBO tại tỉnh Bắc Kạn
Trình độ, năng lực, kỹ năng lãnh đạo của hầu hết các các nhóm tự lực dựa vào cộng đồng
còn hạn chế do trình độ học vấn của các thành viên trong ban điều hành của CBO còn thấp. Trong
số 10 nhóm tự lực dựa vào cộng đồng trong đề tài nghiên cứu chỉ có duy nhất có 01 thành viên
trong ban điều hành của nhóm Hy Vọng thị xã Bắc Kạn là có bằng đại học tại chức còn lại đều
chưa học hết Trung học phổ thông. Điều này cũng ảnh hưởng đến quá trình thực hiện các hoạt động
cung cấp dịch vụ về chăm sóc hỗ trợ và dự phòng HIV/AIDS của các CBO cũng như việc xây dựng
một chiến lược phát triển tổ chức một cách lâu dài. 23
Rất nhiều các thành viên tham gia trong các CBO còn có hành vi vi phạm pháp luật đặc
biệt đối với những CBO có người còn sử dụng ma túy tham gia dẫn đến việc thay đổi nhân sự trong
quản lý nhóm. Sự không ổn định của các lãnh đạo nhóm và tiếp cận viên trong các CBO gây tính
bất ổn trong điều hành và quản lý nhóm sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động tiếp cận và hỗ trợ trực tiếp
tại cộng đồng.
Các thành viên tham gia trong các CBO là những người đến từ những hoàn cảnh khác
nhau, sự khác biệt của các thành viên tham gia trong các CBO có thể dẫn đến những mâu thuẫn
trong nội bộ tổ chức cũng là yếu tố dẫn đến khả năng các tổ chức xã hội dựa vào cộng đồng bị tan
rã nhanh chóng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status